Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam

Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam,
sau là quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Thành lập 20 tháng 12 năm 1960
Kết thúc 31 tháng 1 năm 1977
Phân loại Tổ chức chính trị Việt Nam
Tình trạng pháp lý Đã giải thể, hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mục đích chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước
Địa điểm miền Nam Việt Nam
Thành viên Xem nội dung
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Việt
Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ
Website mattran.org.vn

Trong Chiến tranh Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một tổ chức quân sự và chính trị, hoạt động chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Tổ chức này được thành lập trên danh nghĩa "đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ ngụy quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc" [1]. Chủ trương của Mặt trận là: "Đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo và thân sĩ yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm tay sai Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc". Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được cung cấp về tài chính, thiết bị và nhân sự bởi nhiều bộ phận dân cư tại miền Nam Việt Nam cũng như của chính phủ và quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Mặt trận trước khi chính thể Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập, cũng là chính thể và Ủy ban Trung ương như là một chính phủ lâm thời, đại diện cho các vùng thuộc quyền kiểm soát, quản lý các vùng do Mặt trận quản lý.

Mục lục

[sửa] Tên gọi khác

Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam người ta còn gọi những người tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền NamViệt Cộng. Từ "Việt Cộng" vốn xuất phát từ cụm từ "cộng sản Việt Nam", được phổ biến bởi Ngô Đình Diệm - Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa - trong chiến dịch Tố Cộng của Ngô Đình Diệm; về sau từ "Việt Cộng" cũng được dùng để gọi tổ chức này.

Lính Mỹ gọi họ một cách ngắn gọn là VC (viết tắt từ "Việt Cộng" và đọc theo tiếng Anh là "vi-xi"), hay Charlie (nguyên nhân là do hai chữ cái V và C lần lượt được phát âm là VictorCharlie theo bảng mẫu tự ngữ âm của NATO).

[sửa] Thành lập

Dự định thành lập Mặt trận được công khai nói đến lần đầu tiên trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam. Tại đại hội, Tôn Đức Thắng đã nói rằng Mặt trận sẽ được dựa trên các khái niệm của Lenin về liên minh 4 giai cấp, nhưng để phù hợp với sự phức tạp của xã hội miền Nam, Mặt trận cần bao gồm cả các nhóm tôn giáo và dân tộc khác nhau; mục tiêu đấu tranh của Mặt trận phải rộng để kêu gọi được đông đảo quần chúng; Mặt trận cần nhấn mạnh các chủ trương dân tộc và cải cách, đặt ra mục tiêu cuối cùng là sự xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh. Cũng như tiền thân Việt Minh của nó, Mặt trận mới này sẽ cần được tổ chức thành nhiều cấp, từ ủy ban trung ương đến các tổ chức ở cấp làng; chủ nghĩa cộng sản sẽ không được nói đến [2]. Mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương cục Miền Nam. Những người cộng sản miền nam hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam, hoạt động công khai và là thành viên tham gia Mặt trận.

Một vụ tấn công của MTDTGPMNVN tại Sài Gòn năm 1965

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên) trong vùng căn cứ của mình ở tỉnh Tây Ninh, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận là Nguyễn Hữu Thọ (1961). Đại hội lần thứ nhất khai mạc ngày 16 tháng 2 năm 1962 chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát, Ybih Aleo, Đại đức Sơn Vọng, Trần Nam Trung, và Nguyễn Văn Hiếu là Tổng thư ký Mặt trận. Ủy viên Đoàn Chủ tịch: Trần Bạch Đằng, Phan Văn Đáng, Nguyễn Hữu Thế, Trần Bửu Kiếm, bà Nguyễn Thị Định, Hoà thượng Thích Thượng Hào, Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi, Lê Quang Thành, ông Đặng Trần Thi.

Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm" với mục tiêu đại diện cho quyền lợi của nhân dân miền Nam Việt Nam đấu tranh nhằm đánh Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tiến tới sự thống nhất của Việt Nam.

[sửa] Nguyên nhân thành lập Mặt trận

Sau Hiệp định Geneve, Việt Nam chia cắt làm hai miền. Việt Nam dân chủ cộng hòa thực hiện đấu tranh hòa bình đòi thi hành các điều khoản của Hiệp định nhưng Việt Nam cộng hòa khước từ. Các phong trào đấu tranh hòa bình đòi thống nhất đất nước của các tổ chức ở miền nam (có khi không hoàn toàn do những người cộng sản và ủng hộ đảng cộng sản lãnh đạo) đều bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa đàn áp. Những người cộng sản và Việt Minh ở miền nam bị đàn áp, đã có một số tổ chức vũ trang, bán vũ trang được thành lập, chống Việt Nam Cộng hòa một cách tự phát. Chính quyền Việt Nam cộng hòa chia lại ruộng đất tại nhiều vùng trước 1954 thuộc sự kiểm soát của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền nam, có lợi cho địa chủ, gây bất bình cho nông dân nhiều nơi. Chính quyền Đệ nhất cộng hòa ngày càng trở nên độc đoán, phi dân chủ, gây mất niềm tin của dân chúng, nhiều người bất bình đã đứng về phía những người cộng sản để chống lại. Sự lệ thuộc quá nhiều của Việt Nam cộng hòa vào Mỹ, chính sách kinh tế tuy có một số ưu điểm khuyến khích kinh tế phát triển nhưng hố sâu phân hóa xã hội lớn. Trong khi đó, những người cộng sản đã tham gia đấu tranh giành độc lập, những uy tín có được từ thời tiền cách mạng, Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, đã hướng nhiều người dân tin tưởng vào cách mạng. Ngoài ra thì sự phân chia đất nước làm hai miền khiến cho nhiều gia đình phân li, những người có tinh thần dân tộc cũng bất bình. Do vậy, những người cách mạng ở miền nam đã ủng hộ cho giải pháp khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi Hội nghị TW 15 của Đảng Lao động tháng 1.1959 tán thành khởi nghĩa ở Miền Nam, phong trào cách mạng có biến chuyển. Một vùng rộng lớn do cách mạng kiểm soát được hình thành. Việt Nam dân chủ cộng hòa không thể can thiệp trực tiếp vào tình hình miền nam, trong khi vấn đề cấp bách có một lực lượng đại diện cho miền nam chống Mỹ và Việt Nam cộng hòa, và quản lý các vùng đất do phía cách mạng kiểm soát, do đó Mặt trận được thành lập.

[sửa] Tổ chức

Thực chất đây là một tổ chức được thành lập theo yêu cầu chiến tranh của Đảng Lao động Việt Nam và những người có lập trường thân cộng sản đấu tranh cho thống nhất đất nước trong cuộc chiến tại miền Nam, nhằm tạo vị thế chính trị cho phong trào đấu tranh chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, đồng thời quản lý các vùng đất do họ quản lý có được kể từ sau phong trào đồng khởi.

Mặt trận liên tục tổ chức, lãnh đạo các hoạt động chống chính phủ Việt Nam Cộng hòa, chống lại sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh. Để thực hiện mục đích đó, Quân Giải phóng Miền Nam đã được thành lập ngày 15 tháng 2 năm 1961, do Trung ương cục miền Nam lãnh đạo, thực hiện chiến tranh du kích chống lại chính quyền Sài Gòn, với chi viện về vũ khí và người từ miền Bắc. Sau khi Mặt trận ra đời, hàng loạt các tổ chức của mặt trận và các tổ chức cách mạng ra đời tham gia mặt trận:

Một người lính Quân Giải phóng Miền Nam, 1973

Trong các tổ chức tham gia Mặt trận, đảng bộ miền nam của Đảng Lao động là tổ chức quan trọng nhất. Về công khai, tổ chức có tên Đảng Nhân dân cách mạng. Ngày 18/1/1962 trên sóng Radio Hà Nội tuyên bố Đảng Nhân dân cách mạng đã thành lập ngày 1/1/1962, là tổ chức có lập trường chống thực dân, đế quốc và phong kiến. Tuy không đề cập là tổ chức cộng sản, nhưng tuyên bố tuyên truyền chủ nghĩa Marx - Lenin tại miền nam Việt Nam.

Ngày 25 tháng 2 năm 1962, Mặt trận đặt đại diện thường trực tại Cuba, đến tháng 2 năm 1963 đặt đại diện thường trực tại Algérie, sau đó tại Indonesia, Cộng hòa Dân chủ Đức, Trung Quốc, Liên Xô, Campuchia, Romania, Mông Cổ, Thụy Điển. Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương được tổ chức ở 4 cấp: cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp . Từ năm 1960-1967, Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương các cấp thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng ở cấp mình. Đến năm 1968 một số địa phương như Thừa Thiên-Huế, Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, Đà Nẵng... thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng thì Ủy ban nhân dân cách mạng làm nhiệm vụ của chính quyền. Sau khi Chính phủ cách mạng lâm thời ra đời thì chính phủ và Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp làm nhiệm vụ chính quyền.

[sửa] Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời

Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, đã lập ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đối chọi với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ cách mạng lâm thời do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch, và Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch. Chính phủ cách mạng lâm thời đã được các nước theo phe cộng sản và một số nước thuộc Thế giới thứ Ba công nhận. Ngay trong tháng 6 năm 1969, cho đến ngày 5 tháng 11 năm 1975 đã có 23 nước công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong đó có 21 nước đã quan hệ ngoại giao.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam cùng với Chính phủ Cách mạng Lâm thời được chính thức công nhận là một chính quyền tại Nam Việt Nam và là một trong 4 bên tham gia hiệp định. Tuy nhiên, những người lãnh đạo vẫn tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đã giành được quyền kiểm soát Nam Việt Nam vào năm 1975.

[sửa] Thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Dưới sự chỉ đạo của Đảng Lao Động Việt Nam, từ ngày 15 đến 21 tháng 11 năm 1975, hội nghị hiệp thương chính trị được tổ chức để tiến tới thống nhất về mặt nhà nước. Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Trường Chinh đứng đầu, đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do ông Phạm Hùng đứng đầu. Hội nghị đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội thống nhất.

Ngày 25 tháng 4 năm 1976 tổng tuyển cử trong cả nước được tổ chức, bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội Việt Nam thống nhất. Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, đặt tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, xác định Thủ đô, bầu chính phủ, đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đây, chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức hợp nhất với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để ra đời chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của một quốc gia Việt Nam thống nhất.

Sau khi hợp nhất lãnh thổ và chính quyền, các đơn vị đoàn thể khác cũng tiếp tục hợp nhất. Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam Mặt trận bắt đầu ngày 31 tháng 1 năm 1977 đã tuyên bố hợp nhất Mặt trận với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Miền Nam Việt Nam thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

[sửa] Đánh giá

Theo đánh giá của William Colby, cựu giám đốc CIA và người từng chỉ huy Chiến dịch Phượng Hoàng, để làm mờ đi lý lịch cộng sản (và thu hút nhiều người tham gia hơn), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được coi là một phong trào của riêng người Nam Việt Nam sẵn sàng đón nhận mọi đảng phái và những nhân vật miền Nam mà tên tuổi được tung ra như là những người lãnh đạo tổ chức thì trên thực tế họ không có mấy quyền hành kiểm soát mặt trận cũng như những người trong mặt trận Việt Minh thời Chiến tranh Đông Dương. Quyền chi phối Mặt trận chủ yếu thuộc về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa [3].

[sửa] Tính chất Mặt trận

Về hình thức, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cũng giống như Mặt trận Việt Minh khi mới thành lập, về hình thức công khai là một phong trào chính trị (phong trào giải phóng dân tộc), có tính chất rộng hơn một Đảng hay tổ chức chính trị. Ngoài ra khi chưa thành lập Chính phủ thì cũng làm chức năng chính quyền, đại diện chính thể. Tuy nhiên sau này trong các văn kiện chính thức của Nhà nước Việt Nam, thì MTDTGPMNVN cũng như Việt Minh là tổ chức đoàn kết nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược của Đảng là: đấu tranh giải phóng dân tộc. Về thực tế nó không khác với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay làm các nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hay nói cách khác tính chất như là các tổ chức "dân vận" cho Đảng.

Trong thời gian chiến tranh, về hình thức tổ chức này là một phong trào chính trị của nhân dân miền Nam Việt Nam chống lại Mỹ và VNCH tiến tới thống nhất Việt Nam, do nhân dân miền Nam Việt Nam thành lập. Nhưng nó cũng là tổ chức được thành lập trên cơ sở chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam.

[sửa] Điểm khác biệt với Mặt trận Việt Minh

Mặt trận Việt Minh về danh nghĩa là phong trào chính trị của nhân dân Việt Nam thành lập với đường lối chống Pháp-Nhậtphong kiến. Nhưng cũng là tổ chức do Đảng Cộng sản chủ trương thành lập, và chịu sự lãnh đạo (không công khai) của Đảng. Phong trào (Tổ chức) này gồm nhiều đảng phái, nhiều tổ chức, cá nhân tham gia (hiện chưa công bố hết qua các thời kỳ tồn tại). Sau khi Việt Nam độc lập, thì Chính phủ VNDCCH đại diện cho chính thể chứ không phải là Việt Minh. Do đó Mặt trận Việt Minh lúc này được xem có tính chất như một lực lượng cầm quyền và về sau này vai trò như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay (khi đó Đảng ra hoạt động công khai, và là lực lượng nòng cốt trong Việt Minh cầm quyền - nhưng sau khi thành lập CP liên hiệp thì Việt Minh như là một liên minh chính trị trong Chính phủ, trước khi các lực lượng đối lập rút lui) .

Mặt trận DTGPMNVN về danh nghĩa là phong trào chính trị (tổ chức) ở miền Nam chống Mỹ và VNCH, thống nhất Việt Nam, cũng do Đảng Cộng sản chủ trương thành lập và lãnh đạo (không công khai). Nhưng do đến năm 1969 chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam mới thành lập nên nó (Mặt trận) có thêm nhiệm vụ chính quyền, đại diện chính thể trong một thời gian dài, và sau này vẫn được xem là phong trào chính trị và chính phủ cách mạng lâm thời là Chính phủ của một chính thể và cũng là của một phong trào chính trị. Sau 1975 thì chính thức chính phủ cách mạng lâm thời là đại diện của chính thể Cộng hòa miền Nam Việt Nam, và Mặt trận lúc này có tính chất ( xét về bản chất) như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau này trước khi hợp nhất vào năm 1977.

Trong thời gian trước 1945, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương với Mặt trận Việt Minh và sau này của Đảng Lao động Việt Nam với MTDTGP (từ 1960) là không công khai. Và các tổ chức này luôn thể hiện không phải là các tổ chức cộng sản. Chính xác thì nó cũng không phải là các tổ chức cộng sản vì tham gia còn nhiều lực lượng khác, và cương lĩnh của nó không hướng đến xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc đối phương luôn gọi MTDTGP (hay Việt Minh trước kia) là cộng sản là xét về "bản chất" của nó, tức là "do Đảng Cộng sản lãnh đạo". Thành phần tham gia Việt Minh trước đây là các đảng viên cộng sản, thân cộng sản, hay "đứng ngoài Đảng nhưng thực chất là người của Đảng". Sau này thành lập thêm Hội Liên Việt (mà vẫn có một số đảng viên cộng sản tham gia) nhưng gần như là tổ chức "đệm" giữa Việt Minh và các lực lượng khác. Đảng Dân Chủ, Đảng Xã hội có nhiều người là đảng viên Đảng Cộng sản (tham gia VM). Trong khi đó Việt Quốc, Việt Cách,... là các tổ chức đối lập.

Sau này khi Việt Minh và Hội Liên Việt sáp nhập làm một và Đảng Cộng sản công khai hoạt động thì tính chất của Mặt trận Liên Việt hoàn toàn giống Mặt trận Tổ quốc sau này. Phía Pháp không công nhận VNDCCH là "hợp pháp" nên họ gọi quân đội và lực lượng của VNDCCH là Việt Minh. Còn MTDTGPMN thì bị Mỹ gọi "Việt Cộng" để chỉ "bản chất" của tổ chức (mặc dù phía Mặt trận không công nhận).

Thành phần tham gia MTDTGP rất rộng, bao gồm Đảng Nhân dân Cách mạng (thực chất là Đảng bộ miền Nam của Đảng lao động - sau này mới công khai như vậy) là tổ chức cộng sản, đảng Dân chủ (sau xác định là kỳ bộ của Đảng Dân chủ Việt Nam, trước vẫn coi là đảng độc lập trong Nam), Đảng Xã hội cấp tiến và tiến bộ,... Trong thời gian chiến tranh các lãnh đạo cao nhất của Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời không công khai là người của Đảng Lao động Việt Nam, trong khi đại diện của Đảng Nhân dân Cách mạng (tính chất giống Đảng bên Lào, Campuchia) trong Mặt trận thực chất là chỉ đạo chính. Đảng Nhân Dân Cách Mạng là nòng cốt và là lãnh đạo (không công khai) Mặt trận. Mặt trận (và Chính phủ lâm thời sau này) chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục (bộ phận của Trung ương Đảng Lao động tại miền Nam Việt Nam) mà hình thức là ban lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng. Đảng Nhân dân Cách mạng là tổ chức chính trị cộng sản công khai nhưng Trung ương cục thì là tổ chức không công khai.

[sửa] Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam

Một số vũ khí của quân Giải phóng miền Nam Việt Nam

Mặc dù sau này xác nhận ngày thành lập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân năm 1944 là ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhưng ban đầu nó là một lực lượng quân sự của tổ chức Việt Minh (giống Quân Giải phóng miền Nam sau này là lực lượng của Mặt trận). Sau 1945, quân đội chính quy của VNDCCH thành lập. Tuy nhiên thời gian này Việt Nam đang có nhiều đảng phái, lực lượng chính trị, và quân đội, nhất là trong Nam chưa thống nhất (sau Cách Mạng Tháng Tám tại miền Nam, Việt Minh nắm chính quyền - sau có chia sẻ cho một số tổ chức khác, nhưng chưa có lực lượng quân sự của mình,...). Do đó quân đội VNDCCH (chưa hiểu thống nhất như sau này) thời gian đầu trên thực tế là tập hợp của nhiều bộ phận đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng (cờ VNDCCH)... Các tổ chức Việt Quốc, Việt Cách tuy chống Pháp nhưng không đồng ý để quân Pháp ra Bắc và rút khỏi Chính phủ (trừ rất ít), lúc đó Việt Nam mới có một Chính phủ thực sự dưới sự lãnh đạo của Đảng (không công khai).

Sau này, sau một số quá trình thống nhất, mới chính thức xác lập toàn bộ quân đội cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng (danh nghĩa là quân đội VNDCCH trong đó Việt Minh làm nòng cốt). Phápphương Tây không công nhận Chính phủ này nhưng công nhận Chính phủ của Bảo Đại (Quốc gia Việt Nam) là Chính phủ hợp pháp, thiết lập ngoại giao và công nhận nền độc lập của Việt Nam (trước đó năm 1946 Pháp chỉ công nhận Việt Nam là tự do trong Liên hiệp Pháp). Quân đội của Quốc gia Việt Nam chính thức gọi là Quân đội Quốc gia Việt Nam. Về tính chất chính quyền Bảo Đại không khác nhiều với chính quyền của Lào năm 1949 hay Campuchia năm 1953, dù là không hoàn toàn giống. Trong khi đó VNDCCH sau được các nước XHCN công nhận và lập quan hệ ngoại giao và Quân đội Quốc gia Việt Nam của VNDCCH đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam, một mặt để phân biệt với quân đội của Bảo Đại, một mặt thể hiện công khai đứng về phe XHCN. Sau này QĐNDVN là quân đội của VNDCCH.

Quân giải phóng Miền nam VN về công khai là do MT thành lập, nhưng chủ trương của Đảng Lao động, chịu sự quản lý danh nghĩa của MT nhưng do các tổ chức đảng của Đảng NDCM (Đảng LD) lãnh đạo. Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang GP MNVN về hình thức gần như là một Bộ của MT (thời gian này chưa có chính phủ nên MT làm cả chức năng chính quyền) quản lý quân đội - thực chất hoạt động độc lập gắn với tổ chức đảng. Nhưng thực chất thì quân đội do Bộ chính trị, Quân ủy TW, Trung ương cục, quân ủy miền lãnh đạo (gần giống với sự lãnh đạo của đảng qua Quân ủy TW bây giờ). Sau khi CPCMLT thành lập thì có bộ quốc phòng, nhưng cơ chế không thay đổi. Quân đội do Đảng lãnh đạo mà công khai là Bộ Tư lệnh. Tùy theo tính chất của từng đơn vị mà do BCT, Quân ủy TW lãnh đạo trực tiếp hoặc vẫn do BCT và Quân ủy TW nhưng qua Trung ương cục, quân ủy miền và Bộ Tư lệnh miền. Do có một số khác biệt trong cơ chế quản lý chủ yếu là các lực lượng đa phần ngoài Bắc vào và các lực lượng đa phần người miền Nam nên phía đối phương hay có sự phân biệt. Tuy nhiên sự phân biệt này của đối phương thường là sai lầm do không hiểu cơ chế bên phía cách mạng hoặc cố tình làm sai lệch gây chia rẽ.

Sau 1975 về hình thức thì CPCMLT quản lý các lãnh thổ trong nam, treo cờ MT (hoặc đôi khi treo cả 2 cờ thể hiện sự thống nhất Bắc - Nam) cho đến khi sau tổng tuyển cử thống nhất nhà nước, nhưng thực chất đều do Đảng Lao động lãnh đạo - lúc này công khai.

Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam thì không hẳn do Đảng chủ trương ban đầu và có tính chất "độc lập" hơn, nhưng vẫn do Đảng lãnh đạo, và gần giống Hội Liên việt trước đây (năm 1946). Tổ chức này có tính chất "đệm" giữa MT (hay bị coi là CS, chí ít là những thành phần "thân cộng") và các "lực lượng thứ ba".

Có điểm chú ý là trước 1954 (hoặc sớm hơn) sự lãnh đạo của đảng là bí mật, và sau này đến sau 4.1975 đảng mới công khai lãnh đạo MTDTGP. Dĩ nhiên MTVM và MTDTGP không công khai là "cộng sản" có lý vì có nhiều lực lượng tham gia , và chức năng của họ không thể đưa ra các nội dung "XHCN". Thẩm quyền đưa đất nước lên XHCN phải là của Đại hội đảng hay Trung ương đảng, như được thể hiện sau 1954 (cải tạo hợp tác xã, quốc hữu hóa), hay Đại hội IV năm 1976.

Thời chiến tranh thì MTVM và MTDTGP là các tổ chức công khai, còn sau này thì công khai Đảng Lao động (CS) là đảng lãnh đạo toàn bộ phong trào cách mạng Việt Nam và xác nhận các tổ chức kia như MTTQ VN ngày nay.

Đối phương đôi khi gọi đánh đồng DLDVN là VNDCCH để làm sai lệch tính chất chiến tranh , nhưng phía cách mạng sau này giải thích Đảng LDVN là của cả nước VN. Chiến đấu thống nhất đất nước là dưới lá cờ của đảng, mà Hồ Chủ tịch là linh hồn của cuộc kháng chiến (được hiểu VN đã độc lập 1945 nhưng sau phải kháng chiến chống kẻ thù). VNDCCH là chính thể của miền bắc (Hiến pháp 1959 không công khai lãnh đạo của đảng trong một điều mà trong Lời nói đầu một phần do tình hình miền nam), còn Đảng thì không phải như vậy.

[sửa] Kết luận Mặt trận dân tộc GPMN và các tổ chức liên quan

Trong thời gian chiến tranh về phía những người kháng chiến định nghĩa MT là phong trào chính trị do chính những người Miền Nam thành lập ra để chống Mỹ, VNCH tiến tới thống nhất Tổ quốc (VNDCCH chỉ giúp đỡ, chi viện) (trên thực tế là do Đảng chủ trương trên cơ sở nguyện vọng những người kháng chiến miền nam). Về phía Mỹ, VNCH định nghĩa nó là tổ chức cộng sản mặc dù MT không chỉ có những người CS (hoạt động trên danh nghĩa Đảng NDCM miền nam VN). Sau này chính phủ VN định nghĩa MT là tổ chức đoàn kết toàn dân Miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đấu tranh chống Mỹ, chính quyền SG giải phóng MN, thống nhất đất nước. Mỹ gọi tổ chức này là CS là xét về "bản chất" tức là thực chất do những CS thành lập ra và lãnh đạo, các thành phần khác cũng là "thân cộng", "do CS thành lập" hay "lôi kéo"...Do là một tổ chức "hỗn hợp" (liên minh chính trị) nên MT không đưa ra các mục tiêu XHCN, các mục tiêu này chỉ được đưa ra tại Đại hội IV của Đảng LDVN năm 1976. Phía Mỹ cho tổ chức này chỉ là hình thức, còn lãnh đạo thực tế là VNDCCH cũng không hoàn toàn chuẩn xác. Chính xác thì MT do Đảng lãnh đạo, và về phía những người kháng chiến thì không có sự phân biệt Đảng của Miền Bắc hay miền Nam. Chính phủ CMLTCHMNVN về danh nghĩa là tổ chức chính quyền do những người kháng chiến miền nam thành lập, nhưng thực chất trên cơ sở Đảng chủ trương. Nó là Chính phủ hợp pháp theo phía những nước, tổ chức ủng hộ CM, đại diện miền nam VN. Về phía Mỹ và những người chống CM thì chỉ coi nó là Chính phủ của Mặt trận (một tổ chức mà họ coi là "bất hợp pháp").

Đảng Nhân dân cách mạng miền nam VN (cộng sản) là tổ chức chính trị công khai (trong sinh hoạt nội bộ các đảng viên và tổ chức đảng vẫn là đảng Lao động), một thành viên MT , và thực tế là lãnh đạo MT (không hoàn toàn công khai). Nhưng trên thực tế sau này xác định là đảng bộ Miền Nam của đảng Lao động Việt Nam. Ban lãnh đạo của đảng này (công khai) có khi gần như là gắn với tổ chức hoạt động bí mật của đảng Lao động tại miền nam, mà chủ yếu là Trung ương Cục MN. Trung ương cục miền nam là bộ phận của Trung ương Đảng Lao động tại Miền nam (hoạt động bí mật, và chỉ đạo chính các hoạt động chính trị tại Miền Nam, nhận nhiệm vụ từ Trung ương đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư).

Quân giải phóng MN trong thời chiến tranh, được phía kháng chiến định nghĩa là lực lượng quân sự của MT và sau này là của CPCMLT (độc lập với QDNDVN của VNDCCH). Nó gồm hai bộ phận, một bộ phận chủ yếu ngoài Bắc vào (trên thực tế do BCT, Quân ủy TW lãnh đạo trực tiếp) và lực lượng chủ yếu là người miền nam do BCT và Quân ủy TW lãnh đạo thông qua Trung ương cục và Quân ủy Miền, mà quản lý (chỉ huy trực tiếp) là Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang GPMNVN (bộ phận chỉ huy quân sự của MT gần như "Bộ quốc phòng" của MT với tư cách là đại diện chính quyền- nhưng thực tế là hoạt động khá độc lập, gắn với đảng trong khi MT có Ban Quân sự thuộc Ủy ban TW nhưng không có quyền quân sự). Tuy nhiên cơ chế lãnh đạo này không rõ ràng và tương đối, hay thay đổi. Về công khai thì toàn bộ quân đội kháng chiến ở MNVN là Quân giải phóng Miền Nam, nhưng gồm lực lượng của MT (Quân giải phóng) và lực lượng ngoài Bắc vào chi viện cho MT, chiến đấu dưới danh nghĩa Quân giải phóng. Sau này (hiện nay) Quân giải phóng MN được xác định là một bộ phận của Quân đội nhân dân VN chiến đấu ở chiến trường MN. Định nghĩa này là xác nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với tất cả các lực lượng Quân đội cách mạng ở MNVN. Phía Mỹ phân biệt rạch ròi là không có cơ sở chính xác, và sai về bản chất, nhưng về phía cách mạng cũng có sự định nghĩa khác nhau thời chiến tranh và sau này.

Mặt trận Việt Minh ban đầu được định nghĩa là một phong trào của nhân dân VN chống Pháp, Nhật...giải phóng đất nước. Đối phương gọi họ là CS vì do những người CS thành lập và chi phối. Nhưng phía cách mạng thì coi là tổ chức rộng rãi, không chỉ những người CS (có thể gọi liên minh chính trị). Cơ chế lãnh đạo của DCS (một thành viên MT) là bí mật. Tại các khu vực giải phóng trước Cách mạng tháng tám (như Việt Bắc) thì Việt Minh có thêm nhiệm vụ chính quyền. Sau Cách mạng Tháng Tám, thì MT Việt Minh được xem là một tổ chức chính trị (liên minh) tham gia vào Chính phủ hay chính xác hơn là nắm chính phủ đến trước khi thành lập CP Liên hiệp (để phân biệt với những người ngoài Việt Minh hay đối lập). Cuối 1945 Đảng tuyên bố "giải tán" nhưng vẫn hoạt động bí mật, dưới danh nghĩa bên ngoài là người của Việt Minh (bộ phận nòng cốt tham gia Chính phủ VNDCCH) (lãnh đạo bí mật CP và Việt Minh - không kể thời gian tồn tại CP liên hiệp). Thời gian này có khi Bộ quốc phòng do người "trung lập" đứng đầu nhưng quyền quân sự thuộc Kháng chiến ủy viên hội và sau là Tổng tư lệnh quân đội. Dần dần Việt Minh kiểm soát toàn bộ CP VNDCCH (mặc dù có một số ngoài Việt Minh). Khi Đảng ra hoạt động công khai và chính thức là lực lượng lãnh đạo VNDCCH thì Việt Minh và sau đó là MT Liên Việt có tính chất là tổ chức đoàn kết toàn dân theo Đảng kháng chiến, chứ không có địa vị như 1 tổ chức chính trị tham gia CP VNDCCH như sau Cách mạng tháng tám. Sau này thì chính phủ lại định nghĩa MT Việt Minh là tổ chức đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng để làm CM giải phóng dân tộc. Khác hẳn với định nghĩa ban đầu và sau Cách mạng 1945. Về phía đối phương, không công nhận chính phủ VNDCCH nên họ gọi lực lượng của VNDCCH là Việt Minh (ám chỉ "cộng sản"). Theo họ, VNDCCH là "chính thể" của Việt Minh (chứ không phải chính thể Việt Nam).

Quân đội nhân dân VN theo định nghĩa hiện nay của nhà nước là quân đội do Đảng thành lập từ 22.12.1944, phát triển lên và sau này tên là QDNDVN. Trên thực tế ban đầu VN tuyên truyền giải phóng quân là một lực lượng quân sự của Việt Minh (bên cạnh một số tổ chức quân sự khác của VM). Sau Cách mạng tháng tám, VNDCCH thành lập và có quân đội. Nhưng quân đội VNDCCH ban đầu thực tế bao gồm nhiều lực lượng, trong đó có quân đội của Việt Minh. Một số khác trên danh nghĩa là của VN DCCH (dưới lá cờ đỏ sao vàng) nhưng không phải Việt Minh. Không tính các lực lượng không thuộc VNDCCH. Dần dần Quân đội VNDCCH, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng. Khi Chính phủ Bảo Đại thành lập và có quân đội riêng mang danh Quân đội quốc gia VN thì VNDCCH cũng đổi tên từ Quân đội quốc gia thành Quân đội nhân dân VN. Sau này nó là Quân đội của chính thể VNDCCH (miền bắc). Sau sự hợp nhất về hình thức của Quân giải phóng MN với QD ND VN(đều do Đảng lãnh đạo) thì QD ND VN là lực lượng vũ trang của VN thống nhất.

Nhìn chung thì thời chiến tranh, MTDTGP và Việt Minh trước đó, đều được công khai định nghĩa khác với sau này. Ngày nay về phía chính phủ, nó được định nghĩa như là Mặt trận Tổ quốc VN hiện nay, là một "MT dân tộc thống nhất". Về phía Mỹ định nghĩa cũng không chính xác, mặc dù không hoàn toàn sai. Cái khác là họ cho MT chỉ là "con rối" của Bắc Việt là sai trong khi về phía những người CM sau này công khai, toàn bộ là do Đảng lãnh đạo. Đảng chứ không phải chính thể VNDCCH.

Điểm khác cơ bản nhất là sau này, Nhà nước thừa nhận Đảng lãnh đạo toàn bộ, nhưng trong thời gian chiến tranh MT VM và MTDTGPMNVN đều được lãnh đạo bí mật. Các lực lượng tham gia MTVM hay MTDTGPMN sau này trong các thời kỳ (kể cả danh sách nhân sự Tổng bộ VM,...)và các văn kiện của hai tổ chức này đến nay mới công bố một phần.

[sửa] Xem thêm

[sửa] Ghi chú

  1. ^ Giới thiệu tại trang web của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam
  2. ^ William Duiker, Ho Chi Minh, Hyperion, 2000, tr. 525
  3. ^ William Colby-Một chiến thắng bị bỏ lỡ NXB CAND p110

[sửa] Liên kết ngoài

(tiếng Việt)

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác