Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam Việt Nam

Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam,
sau là quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Thành lập 20 tháng 12, 1960
Giải thể 31 tháng 1, 1977
Tình trạng pháp lý Đã giải thể, hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mục đính chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước
Địa điểm Miền Nam Việt Nam
Thành viên Xem nội dung
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Việt
Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một tổ chức liên minh quân sự và chính trị, dân tộc chủ nghĩa cánh tả, hoạt động chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa và sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.

Đây là tổ chức kế thừa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Mặt trận của cả nước từ Bắc đến Nam) ở miền Nam (thừa nhận sau năm 1975) nhưng Việt Nam Cộng hòa được sự hỗ trợ của Mỹ không thi hành Hiệp định Geneva về Việt Nam, làm trở ngại cho hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy trong phong trào Đồng khởi ở miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam ra đời.[1] Chủ trương của Mặt trận là: "Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới.".[2]

Tổ chức này được thành lập dưới sự hậu thuẫn và được hỗ trợ tài chính, thiết bị và nhân sự bởi nhiều bộ phận dân cư tại miền Nam Việt Nam cũng như của chính phủ và quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước khi chính thể Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thành lập, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tồn tại như một chính thể và Ủy ban Trung ương hoạt động như là một chính phủ lâm thời, đại diện cho các vùng thuộc quyền kiểm soát, quản lý các vùng do Mặt trận quản lý. Thực chất đây là một tổ chức được thành lập theo yêu cầu chiến tranh của Đảng Lao động Việt Nam và những người có lập trường thân cộng sản nhằm tạo vị thế chính trị cho phong trào đấu tranh chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, đồng thời quản lý các vùng đất do họ quản lý có được kể từ sau phong trào đồng khởi.

Mặt trận liên tục tổ chức, lãnh đạo các hoạt động chống chính phủ Việt Nam Cộng hòa, chống lại sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh. Để thực hiện mục đích đó, Quân Giải phóng Miền Nam đã được thành lập ngày 15 tháng 2 năm 1961, do Trung ương cục miền Nam lãnh đạo, sau đó gia nhập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Quân Giải phóng Miền Nam đã thực hiện chiến tranh du kích chống lại chính quyền Sài Gòn, với chi viện về vũ khí và người từ miền Bắc.

Trước 1975, Mặt trận này tuyên bố là tổ chức độc lập với Miền Bắc, nhưng không độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi đó tuyên bố chủ quyền trên cả nước cho đến khi Cộng hòa Miền nam Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở miền Nam năm 1969. Từ 31 tháng 1 năm 1977, tổ chức này sát nhập hoàn toàn với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ngày nay Nhà nước Việt Nam khẳng định Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cũng như các mặt trận trước đó và sau này là các tổ chức chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện các nhiệm vụ đoàn kết toàn dân dưới lá cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam để đạt mục tiêu chính trị do Đảng đề ra. Tuy nhiên trước đây sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và các tổ chức tương tự không công khai với đối phương (nhưng có công khai với đối tượng trong thành phần cách mạng hay cảm tình cách mạng), do mặt trận mang ý nghĩa là một liên minh chính trị gồm nhiều thành phần[cần dẫn nguồn].

Tên gọi khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các chiến dịch Tố Cộng của mình năm 1956, Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm đã phổ biến cụm từ Việt Cộng để chỉ những người "Cộng sản Việt Nam".[3] viết ngắn gọn của từ Việt Nam Cộng-sản, (Vietnamese communist). Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập, nhiều người Nam Việt Nam cũng gọi những người tham gia Mặt trận bằng cụm từ này. Khi quân Mỹ vào Nam Việt Nam, họ cũng chịu ảnh hưởng của cách gọi này và gọi một cách ngắn gọn là VC (viết tắt từ "Việt Cộng" và đọc theo tiếng Anh là "vi-xi"), hoặc biến tấu đi thành Victor Charlie (nguyên nhân là do hai chữ cái V và C lần lượt được phát âm là VictorCharlie theo bảng mẫu tự ngữ âm của NATO).

Bối cảnh chính trị - xã hội[cần dẫn nguồn][sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhận định của người Mỹ, theo Hiệp định Genève, 190.000 quân của Quân đội viễn chinh Pháp, và 900.000 thường dân di chuyển từ miền Bắc Việt Nam để vào miền Nam Việt Nam; hơn 100.000 binh lính Việt Minh và dân thường di chuyển từ Nam ra Bắc. Với chính quyền Ngô Đình Diệm, việc một số lượng lớn người vào Nam là một thành công lớn, coi như bằng chứng phản kháng chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bằng chứng thuyết phục được người Mỹ, thứ hai lực lượng này sẽ hỗ trợ cho chính quyền của ông. Sau đó những người di cư nhận được viện trợ của Mỹ còn cao hơn dân bản địa (100 USD, cao hơn thu nhập bình quân hàng năm của người miền Nam).

Hiệp định Genève dẫn đến Việt Nam tạm thời bị phân chia thành hai vùng tập trung quân sự. Miền Bắc đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại miền Nam, với sự hậu thuẫn của người Mỹ, Thủ tướng Ngô Đình Diệm của chính phủ Quốc gia Việt Nam đã thực hiện cuộc trưng cầu dân ý để phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, thành lập chính thể Việt Nam Cộng hòa.

Theo nhận định của Mỹ, Ngô Đình Diệm trong một thời gian ngắn đã làm được nhiều hơn mong đợi, lên nắm quyền trong vòng 10 tháng vượt qua các cuộc đảo chính, ổn định tình hình, thành lập một nhà nước có chủ quyền vào năm 1955 được 36 quốc gia công nhận, soạn thảo một hiến pháp mới, và mở rộng kiểm soát Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tới các khu vực được Việt Minh kiểm soát trong suốt Chiến tranh Đông Dương... Theo ước tính của Pháp, vào năm 1954, Việt Minh kiểm soát 60% - 90% nông thôn miền Nam Việt Nam.

Tháng 1-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố tẩy chay bầu cử Hiệp định Genève, với lý do ông đưa ra là không thể có bầu cử tự do tại miền Bắc được cai trị bởi "nhà nước cảnh sát". Ông không loại trừ khả năng thống nhất đất nước trong hòa bình và dân chủ với điều kiện bầu cử không có sự cưỡng ép hay đe dọa cử tri.[4]

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhiều lần đã cố gắng đề nghị Chính phủ Việt Nam Cộng hoà trong tháng 7 năm 1955, tháng 5 và tháng 6 năm 1956, 1958, tháng 7 năm 1959, và tháng 7 năm 1960, đề xuất tham vấn đàm phán "các cuộc bầu cử tự do chung bằng cách bỏ phiếu kín" và tự do hóa quan hệ Bắc-Nam nói chung. Chính phủ Việt Nam Cộng hoà hoặc từ chối, hoặc im lặng.

Chính phủ Mỹ cũng cho rằng so với thời những nguồn tin khác nhau chỉ ra cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy 80% dân chúng sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh, thì sẽ được rút ngắn lại, do ông Ngô Đình Diệm đã đạt được một số thành công, trong khi Miền Bắc đang gặp nhiều khó khăn do khan hiếm lương thực và mất uy tín sau cải cách ruộng đất được tướng Giáp thừa nhận (dẫn đến một cuộc bạo động của nông dân Công giáo tháng 11 năm 1956).

Tuy nhiên sự thật các cải cách của ông kéo theo các biện pháp áp bức. Ông nắm quyền khi mà ngoài Sài Gòn và các vùng phụ cận, miền Nam Việt Nam được phân chia thành các vùng đất do Việt Minh kiểm soát và lãnh địa các giáo phái "thần quyền" như Cao ĐàiHòa Hảo. Ông chống lại bất đồng chính kiến, và đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối cá nhân với các quan chức hàng đầu. Tài liệu của Mỹ cũng cho biết Ngô Đình Diệm là một người Công giáo bảo thủ. Ngô Đình Diệm lúc đầu đã được chào đón nồng nhiệt trong một số người từng là thành viên Việt Minh. Nhưng chương trình cải cách điền địa của ông thất bại và dừng lại năm 1959.

Trong tháng 6 năm 1956, Ngô Đình Diệm hủy bỏ cuộc bầu cử hội đồng làng, có vẻ như vì lo ngại rằng một số lượng lớn Việt Minh có thể giành chiến thắng, thay vào đó là các các quan chức Chính phủ bổ nhiệm, là người miền Bắc, Công giáo hoặc thân cận. Năm 1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tiết lộ rằng khoảng 15.000-20.000 người cộng sản đã bị giam giữ trong các "trại tập trung chính trị", trong khi Devillers đưa ra con số 50.000.

Tháng ba năm 1958, sau một bài xã luận "ăn da", chính phủ Ngô Đình Diệm đóng cửa các tờ báo lớn nhất ở Sài Gòn. Mùa xuân năm 1960, một nhóm các nhà lãnh đạo chủ nghĩa dân tộc không cộng sản đến với nhau - ban hành Tuyên Ngôn Caravelle, một cuộc biểu tình bất bình chống chế độ Ngô Đình Diệm. Chính sách của Ngô Đình Diệm hầu như đảm bảo rằng những thách thức chính trị với ông ta sẽ bị liệt nằm ngoài luật pháp. Cuối cùng, những nổi lên từ các nguồn truyền thống quyền lực ở miền Nam Việt Nam - lực lượng vũ trang, các giáo phái tôn giáo, và nông dân vũ trang. Đến năm 1958, khoảng 1/3 tỉnh trưởng là sĩ quan quân đội, đến năm 1960, đã tăng lên đến gần 2/3; 1962, 7/8 của tất cả các tỉnh đã được lãnh đạo bởi các sĩ quan. Ông lập luận các mối đe dọa từ những người cộng sản để biện minh cho sự tập trung của mình về an ninh nội bộ.

Người Mỹ cũng nhận thức được sự yếu kém của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Theo nhận định của người Mỹ, Mỹ cũng thấy được sự vỡ mộng "đặc biệt là ở các tầng lớp có học", sự "bất mãn trong các sĩ quan quân đội", "nỗ lực của chế độ bảo đảm an ninh nội bộ khi cho rằng một chính phủ độc tài là cần thiết để xử lý các vấn đề của đất nước sẽ dẫn đến một áp lực liên tục của các yếu tố đối lập tiềm năng", "trong một khoảng thời gian dài, sự tích tụ bất bình giữa các nhóm khác nhau và các cá nhân có thể dẫn đến sự phát triển của phong trào đối kháng quốc gia"... Mỹ thấy cần ủng hộ việc thành lập một chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam, không phân biệt thành phần.

Hội đồng an ninh quốc gia của Mỹ đưa ra quan điểm "Hỗ trợ miễn phí Việt Nam để phát triển một chính phủ mạnh mẽ, ổn định, và hiến pháp để cho phép Việt Nam Tự Do, để khẳng định một sự tương phản ngày càng hấp dẫn đối với các điều kiện trong vùng Cộng sản hiện nay". Từ năm tài chính 1946 - năm tài chính 1961, Việt Nam đứng thứ ba bảng xếp hạng nước ngoài NATO được Mỹ hỗ trợ, và trên toàn thế giới xếp thứ bảy. 75% viện trợ kinh tế của Mỹ cung cấp trong cùng thời kỳ đã đi vào ngân sách quân sự của Chính phủ Việt Nam, và nhiều dự án ngoài quân sự đã lọt vào chi tiêu phục vụ quân sự. Tuy nhiên can thiệp của Mỹ ngày càng tăng vào chính phủ Việt Nam Cộng hòa dẫn đến việc Tổng thống Ngô Đình Diệm lên tiếng phản đối.

Hoa Kỳ ước tính được khuyết tật do sự phụ thuộc của Chính phủ Việt Nam vào nguồn đầu tư vào cho các cơ sở của xã hội Việt Nam, các làng nông thôn. Có những bằng chứng tích lũy đủ để khẳng định nông dân oán giận chống lại Ngô Đình Diệm. Khi Kennedy nhậm chức 1960, 90% dân chúng nông thôn "tàn tạ và ốm yếu".

Theo Hoa Kỳ, Tuyên ngôn của Mặt trận tháng 12 năm 1960 đánh vào sự bất mãn này trong dân chúng. Mặt trận Dân tộc Giải phóng dùng khẩu hiệu lăng nhục Ngô Đình Diệm (Mỹ-Diệm) do đó giành lại sự thần bí của chủ nghĩa dân tộc trong Chiến tranh Đông Dương, kết hợp các bài ngoại tự nhiên của nông thôn Việt Nam. Hoa Kỳ bị xem là đáng khiển trách như một lực lượng hiện đại hóa một xã hội hoàn toàn truyền thống, như các nhà cung cấp vũ khí và tiền bạc cho một chính phủ đáng ghét, và như là một người nước ngoài, phá hoại khi họ hy vọng giải quyết vấn đề thống nhất đất nước bằng Hiệp định Genève, 1954. Còn các quan chức địa phương thì "tham nhũng và tàn bạo" trong khi "Ngô Đình Diệm hứa nông dân nhiều, giao ít".

Trong chương trình di dân từ ven biển lên Tây Nguyên, chỉ có 2% người dân miền Nam Việt Nam, đã hấp thụ 50% viện trợ cho nông nghiệp của Hoa Kỳ, và gây bất bình cho các tộc người Tây Nguyên. Tuy nhiên thất vọng và gây bất bình nhất là các "Ấp chiến lược". Ông Ngô Đình Diệm đã sai lầm trong việc lên án tất cả các những người dân tộc chủ nghĩa không theo Diemist như là công cụ của Bảo Đại hay Pháp.

Chính tất cả những điều này đã kích thích các phong trào đấu tranh hòa bình đòi thống nhất đất nước của dân chúng ở miền Nam. Tuy nhiên, tất cả đều bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa đàn áp, nhất là những người Cộng sản và Việt Minh cũ còn ở lại miền Nam, những người mà Tổng thống Ngô Đình Diệm cho là đối thủ tiềm tàng nguy hiểm nhất. Bị đàn áp, những người cộng sản miền Nam cùng với những đồng minh của mình tập hợp và tổ chức ra có một số tổ chức vũ trang, bán vũ trang để chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa một cách tự phát. Từ giữa 1957, những người cộng sản miền Nam đã áp dụng chiến thuật du kích phù hợp học thuyết quân sự Mao - Giáp.

Sự lệ thuộc quá nhiều của Việt Nam Cộng hòa vào Mỹ, chính sách kinh tế tuy có một số ưu điểm khuyến khích kinh tế phát triển nhưng hố sâu phân hóa xã hội lớn, cùng với việc chia lại ruộng đất, mà phần lớn đã được chính quyền Việt Minh tại miền Nam đã chia cho các nông dân nghèo, nay lại tập trung lại cho các địa chủ cũ. Trong khi đó, những người cộng sản đã tham gia đấu tranh giành độc lập, những uy tín có được từ thời tiền cách mạng, Cách mạng Tháng TámKháng chiến chống Pháp, đã hướng nhiều người dân tin tưởng vào người cộng sản.

Ngoài ra thì sự phân chia đất nước khiến cho nhiều gia đình phân ly, những người có tinh thần dân tộc cũng bất bình. Do vậy, những người cách mạng ở miền Nam đã ủng hộ cho giải pháp khởi nghĩa giành chính quyền. Sau khi Hội nghị TW 15 của Đảng Lao động tháng 1 năm 1959 tán thành khởi nghĩa ở miền Nam, phong trào cách mạng có biến chuyển. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không muốn can thiệp trực tiếp vào tình hình miền Nam, trong khi vấn đề cấp bách là cần có một lực lượng chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa và có chính sách độc lập, từ nhu cầu đó Mặt trận được thành lập.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Huy hiệu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Dự định thành lập Mặt trận được công khai nói đến lần đầu tiên trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam. Tại đại hội, Tôn Đức Thắng đã nói rằng Mặt trận sẽ được dựa trên các khái niệm của Lenin về liên minh 4 giai cấp, nhưng để phù hợp với sự phức tạp của xã hội miền Nam, Mặt trận cần bao gồm cả các nhóm tôn giáo và dân tộc khác nhau; mục tiêu đấu tranh của Mặt trận phải rộng để kêu gọi được đông đảo quần chúng; Mặt trận cần nhấn mạnh các chủ trương dân tộc và cải cách, đặt ra mục tiêu cuối cùng là sự xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh. Cũng như tiền thân Việt Minh của nó, Mặt trận mới này sẽ cần được tổ chức thành nhiều cấp, từ ủy ban trung ương đến các tổ chức ở cấp làng; chủ nghĩa cộng sản sẽ không được nói đến [5].

Theo Nghị quyết Đại hội III của Đảng Lao động Việt Nam, được đăng tải trên báo Nhân dân khi đó "nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới... Để bảo đảm cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam giành được toàn thắng, đồng bào ta ở miền Nam cần ra sức xây dựng khối công nông binh liên hợp và thực hiện một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm lấy liên minh công nông làm cơ sở. Mặt trận này phải đoàn kết các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, dân tộc đa số, các dân tộc thiểu số, các đảng phái yêu nước và các tôn giáo, và tất cả những người có khuynh hướng chống Mỹ - Diệm. Mục tiêu phấn đấu của mặt trận này là hòa bình, độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình thống nhất Tổ quốc. Công tác mặt trận phải nhằm đoàn kết tất cả những lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ bất cứ lực lượng nào có thể tranh thủ, trung lập những thế lực cần phải trung lập, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân vào phong trào đấu tranh chung chống Mỹ - Diệm nhằm giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất Tổ quốc[6].

Mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt NamTrung ương Cục miền Nam. Những người Cộng sản miền Nam hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam, hoạt động công khai và là thành viên tham gia Mặt trận. Trung ương Cục Miền Nam là tổ chức đại diện Đảng Lao động trong Nam, hoạt động bí mật (đến 1969 công khai), thời kỳ chiến tranh không công khai về vai trò chỉ đạo (trong khi Đảng Nhân dân Cách mạng là đảng hoạt động công khai), trực tiếp chỉ đạo hay phối hợp với Trung ương Mặt trận - Chính phủ, với Ban dân vận TW Cục (phụ trách dân vận - mặt trận - chính quyền) là cầu nối. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt đại diện tại căn cứ địa của Mặt trận (và Chính phủ cách mạng sau này), và Mặt trận (Chính phủ cách mạng lâm thời) đặt đại diện tại Hà Nội.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên) trong vùng căn cứ của mình ở tỉnh Tây Ninh, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương.

Từ khi ra đời, Mặt trận được tổ chức để thu hút tất cả các nhà hoạt động chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, bao gồm cả những người theo chủ nghĩa cộng sản, với mục tiêu kết nối tất cả những người đối nghịch với "Mỹ Diệm". Trên danh nghĩa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một phong trào giải phóng, liên minh của các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội tại miền Nam và có lập trường, chủ quyền kiểm soát riêng nhwung không độc lập với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Theo ước tính của Mỹ, trong vòng vài tháng thành lập, số thành viên của nó tăng gấp đôi, gấp đôi một lần nữa vào mùa thu năm 1961, và sau đó tăng gấp đôi vào đầu năm 1962, ước tính khoảng 300.000 người.

Ngày 15-12-1961 (mồng một Tết Tân Sửu), tại vùng giải phóng Tây Ninh, mặt trận đã làm lễ kết nạp Lực lượng võ trang giải phóng là thành viên chính thức. Tại cuộc mít-tinh này, Ban tổ chức đã giới thiệu đoàn chủ tịch (cũng là bộ phận lâm thời công khai của mặt trận) gồm các vị: Bác sĩ Phùng Văn Cung thay mặt giới trí thức Sài Gòn; Ông Nguyễn Văn Linh thay mặt Đảng nhân dân cách mạng Việt Nam; Ông Ung Ngọc Ky thay mặt Đảng dân chủ Việt Nam; Ông Nguyễn Văn Hiếu thay mặt Đảng xã hội cấp tiến Việt Nam; Ông Lê Thanh thay mặt Lực lượng quân giải phóng. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận là Nguyễn Hữu Thọ (1961).

Đại hội lần I[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội lần thứ nhất khai mạc ngày 16 tháng 2 năm 1962 tại Tân Biên (Tây Ninh) chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát, Ybih Aleo, Đại đức Sơn Vọng, Trần Nam Trung, và Nguyễn Văn Hiếu là Tổng thư ký Mặt trận. Ủy viên Đoàn Chủ tịch gồm có: Trần Bạch Đằng, Phan Văn Đáng, Nguyễn Hữu Thế, Trần Bửu Kiếm, bà Nguyễn Thị Định, Hòa thượng Thích Thượng Hào, Ngọc đầu sư Nguyễn Văn Ngợi, Lê Quang Thành, ông Đặng Trần Thi.

Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm" với mục tiêu đại diện cho quyền lợi của nhân dân miền Nam Việt Nam đấu tranh nhằm đánh Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tiến tới sự thống nhất của Việt Nam. Mặt trận cũng quyết định lấy lá cờ nửa đỏ, nửa xanh có ngôi sao vàng năm cánh và bài “Giải phóng miền Nam” làm cờ và bài hát chính thức của Mặt trận...

Chương trình của Mặt trận: "Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, dân tộc Việt Nam ta đã chiến đấu không ngừng cho độc lập và tự do của Tổ quốc. Năm 1945, đồng bào cả nước đã đứng lên đánh đổ Nhật - Pháp giành chính quyền và đã anh dũng kháng chiến 9 năm, đánh bại xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, đưa cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc ta đến thắng lợi vẻ vang.Tại hội nghị Giơ ne vơ tháng 7-1954, đế quốc Pháp buộc phải cam kết rút quân khỏi Việt Nam và các nước tham dự hội nghị đều trịnh trọng tuyên bố công nhận chủ quyền, độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam... Vì quyền lợi tối cao của Tổ quốc, quyết phấn đấu đến cùng cho những nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thuận theo trào lưu tiến bộ của thế giới, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời.Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam chủ trương đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn giáo, các nhân sĩ yêu nước ở miền Nam Việt Nam không phân biệt xu hướng chính trị để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, thực hiện độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình trung lập ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất tổ quốc...Vì hòa bình, độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc, vì vận mạng của dân tộc, vì đời sống của chúng ta, vì tương lai của ta và con cháu ta. Tất cả hãy đứng lên !Tất cả hãy đoàn kết lại! Hãy xiết chặt hàng ngũ, tiến lên chiến đấu dưới ngọn cờ của Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam để đánh đổ ách thống trị tàn ác của đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm để cứu nước, cứu nhà.
Chúng ta nhất định thắng, vì lực lượng đoàn kết của nhân dân ta là lực lượng vô địch, vì chính nghĩa thuộc về chúng ta, vì chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời ngày nay đang tan rã và đi tới diệt vong. Trên thế giới, phong trào hoà bình dân chủ, độc lập dân tộc đang phát triển rộng rãi, mạnh mẽ và ngày càng thu được nhiều thắng lợi mới. Tình hình đó hết sức thuận lợi cho sự nghiệp cứu nước cứu nhà của chúng ta. Đế quốc Mỹ và tay sai của Mỹ nhất định sẽ thất bại! Sự nghiệp giải phóng dân tộc ở miền Nam Việt Nam nhất định sẽ thành công! Hãy đoàn kết, tin tưởng và phấn đấu anh dũng ! Tiến lên giành lấy thắng lợi huy hoàng cho dân tộc ta, cho Tổ quốc ta
."[7]

Đại hội lần II[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1-11-1964, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp Đại hội lần thứ 2. Có 150 đại biểu tham dự. Đoàn Chủ tịch Mặt trận được bầu gồm có: Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ - đại diện liên minh các đảng yêu nước, Phó chủ tịch: Abil Aleo - đại diện những người Tin Lành yêu nước, người dân tộc Êđê, chủ tịch Phong trào tự trị các dân tộc Tây Nguyên, Phùng Văn Cung - đại diện liên minh các đảng yêu nước, Võ Chí Công - chủ tịch Đảng Nhân dân cách mạng VN, Huỳnh Tấn Phát - Tổng thư ký Đảng Dân chủ, Thích Thơm Mê Thế Nhêm - đại diện người Khmer yêu nước (mất 1966), Trần Nam Trung - đại diện Quân giải phóng Miền Nam. Các ủy viên: Nguyễn Thị Định, Trần Bạch Đằng, Thích Thiện Hào, Trần Bửu Kiếm, Nguyễn Văn Ngợi, Phan Xuân Thái (Phan Văn Đáng), Nguyễn Hữu Thế, Đặng Trần Thi. Ban Thư ký: Huỳnh Tấn Phát (TTK), Lê Văn Huân, Hồ Thu, Ung Ngọc Kỳ, Hồ Xuân Sơn (phó TTK) [8]. Sau ông Nguyễn Văn Hiếu lại tham gia Đoàn chủ tịch.

Ngày 8-1-1967, Mặt trận họp Đại hội bất thường, công bố Cương lĩnh mới, kế tục và phát triển chương trình hành động 10 điểm. Đại hội đã thông qua một chương trình mới phác thảo cách nhằm thu hút lực lượng người Việt Nam tham gia để đánh đuổi đế quốc Mỹ, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, và tạo ra một nền độc lập, hòa bình, dân chủ, trung lập, và thịnh vượng Nam Việt Nam, tiến tới hiệp thương thống nhất đất nước. Cương lĩnh cũng đưa ra các cải cách dân chủ và sự phát triển của nền kinh tế và văn hóa dân tộc.

Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, đã lập ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đối chọi với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ cách mạng lâm thời do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch, và Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch. Hội đồng làm việc với Chính phủ theo cơ chế hiệp thương, song thực ra có quyền hơn. Chính phủ thực hiện các chức năng hành chính nhà nước bao gồm đại diện và quản lý hành chính lãnh thổ. Chính phủ cách mạng lâm thời đã được các nước theo phe cộng sản và một số nước thuộc Thế giới thứ Ba công nhận. Ngay trong tháng 6 năm 1969, cho đến ngày 5 tháng 11 năm 1975 đã có 23 nước công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong đó có 21 nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Quyền lực của nó không phân biệt được với quyền của Đảng Lao động, theo nhận định phía Mỹ[9]. Bộ trưởng Quốc phòng Trần Nam Trung, Trưởng Ban Quân sự của Mặt trận cũng công khai là ủy viên TW Đảng Lao động, thành viên TW Cục, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Đồng Văn Cống công khai là thành viên Trung ương Cục Miền Nam của TW Đảng Lao động Việt Nam, trong khi Nguyễn Văn Cúc (Tổng bí thư Đảng NDCM, tham gia thành lập CP) tuy không công khai là ủy viên TW của Đảng Lao động, nhưng công khai là đại diện Đảng NDCM trong TW Cục Miền Nam của Đảng Lao động (một số thành viên của Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam cũng công khai là thành viên TW Cục, theo báo cáo tháng 12 năm 1969 về "Ủy ban quân sự Miền Nam".[cần dẫn nguồn]

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam được chính thức công nhận là một chính quyền tại Nam Việt Nam và là một trong 4 bên tham gia hiệp định. Tuy nhiên, những người lãnh đạo vẫn tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đã giành được quyền kiểm soát Nam Việt Nam vào năm 1975.

Hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới sự chỉ đạo của Đảng Lao Động Việt Nam, từ ngày 15 đến 21 tháng 11 năm 1975, hội nghị hiệp thương chính trị được tổ chức để tiến tới thống nhất về mặt nhà nước. Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Trường Chinh đứng đầu, đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do ông Phạm Hùng đứng đầu. Hội nghị đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội thống nhất.

Ngày 25 tháng 4 năm 1976 tổng tuyển cử trong cả nước được tổ chức, bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội Việt Nam thống nhất. Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội họp phiên đầu tiên, đặt tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, xác định Thủ đô, bầu chính phủ, đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đây, chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức hợp nhất với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để ra đời chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của một quốc gia Việt Nam thống nhất.

Sau khi hợp nhất lãnh thổ và chính quyền, các đơn vị đoàn thể khác cũng tiếp tục hợp nhất. Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam Mặt trận bắt đầu ngày 31 tháng 1 năm 1977 đã tuyên bố hợp nhất Mặt trận với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Miền Nam Việt Nam thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Ở cấp trung ương, Ủy ban TW bầu ra Đoàn chủ tịch, là cấp cao nhất, giúp việc có các Ban chuyên môn của Mặt trận, hay các Hội đồng chuyên môn của TW Mặt trận. Các cấp địa phương cũng có các ban thành lập theo quy định. Trong đó có cả Ban Quân sự, nhưng tương tự như Bộ Quốc phòng sau này nó chỉ làm nhiệm vụ hành chính. Quân giải phóng Miền Nam là lực lượng tham gia Mặt trận công khai là do Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng chỉ đạo, nhưng thực chất đều do các cấp ủy đảng, quân ủy lãnh đạo, theo cơ chế phức tạp, như cơ chế hiện nay với quân đội nhân dân. Bộ Tư lệnh chỉ đạo chuyên môn thuần túy quân sự theo phân công địa bàn của Đảng Lao động. Ước tính của Mỹ, đầu 1969 có 750.000 thành viên, trong đó 300.000 thành viên dân sự[10].

Các tổ chức Mặt trận tổ chức tại cấp dưới theo vùng: Tây Nam Bộ, Trung Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Sài Gòn - Gia Định (Huỳnh Tấn Phát đứng đầu), Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, tỉnh Tây Ninh. Tổ chức Mặt trận cấp vùng chịu sự lãnh đạo của cấp Trung ương.

Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương được tổ chức ở 4 cấp: cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp . Từ năm 1960-1967, Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương các cấp thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng ở cấp mình. Đến năm 1968 một số địa phương như Thừa Thiên-Huế, Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, Đà Nẵng... thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng thì Ủy ban nhân dân cách mạng làm nhiệm vụ của chính quyền. Sau khi Chính phủ cách mạng lâm thời ra đời thì chính phủ và Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp làm nhiệm vụ chính quyền.

Các tổ chức thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Mặt trận ra đời, hàng loạt các tổ chức của Mặt trận được thành lập và các tổ chức cách mạng ra đời tham gia Mặt trận[cần dẫn nguồn]:

Một người lính Quân Giải phóng Miền Nam, 1973

Năm 1973, Mặt trận bao gồm hơn 30 đảng chính trị và các tổ chức xã hội và tôn giáo tham gia, hoạt động công khai.

Vai trò của Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các tổ chức tham gia Mặt trận, đảng bộ miền Nam của Đảng Lao động Việt Nam có tên công khai là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (tuyên bố tách từ Đảng bộ miền Nam của đảng Lao động) có vai trò quan trọng nhất, "linh hồn" Mặt trận. Trong suốt quá trình tồn tại Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam công khai quan hệ thân hữu với Đảng Lao động Việt Nam nhưng sau chiến tranh Đảng Cộng sản Việt Nam xác nhận nó thực chất chỉ là đảng bộ của Đảng Lao động Việt Nam ở miền Nam, do Trung ương Đảng, Khu ủy Trị Thiên (sau khi tách khỏi Khu V, trực thuộc TW), Khu ủy Khu V (sau khi tách khỏi Trung ương Cục miền Nam, trực thuộc TW), Trung ương cục miền Nam và các Khu ủy trực thuộc (địa bàn B2 cực nam Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trở vào, sau khi tách Khu V về TW) lãnh đạo.

Ngày 18/1/1962 trên sóng Radio Hà Nội tuyên bố Đảng Nhân dân cách mạng đã thành lập ngày 1/1/1962, là tổ chức có lập trường chống thực dân, đế quốc và phong kiến. Tuy không đề cập trực tiếp là tổ chức cộng sản, nhưng tuyên bố tuyên truyền chủ nghĩa Marx - Lenin tại miền nam Việt Nam. TW Cục miền Nam và các khu ủy lãnh đạo trực tiếp, điều lệ đảng do TW Đảng Lao động đề ra. Đứng đầu là bí thư TW cục, và Võ Chí Công đại diện đảng tại Mặt trận. Đảng Dân chủ trên cơ sở một phần Đảng Dân chủ năm 1944, do Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Tấn Phát đứng đầu, và Đảng Xã hội cấp tiến thành lập năm 1961 do Nguyễn Văn Hiếu đứng đầu, đều là đảng viên cộng sản. Theo tài liệu của Mỹ, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam chịu chỉ đạo từ TW Đảng ở Hà Nội, còn Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội cấp tiến, là "đối tác" của Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam[9].

Đảng Nhân dân Cách mạng theo điều lệ là đại diện giai cấp công - nông miền Nam Việt Nam.

Sự kiểm soát của Đảng Lao động Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt chiến tranh Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam không tuyên bố công khai rõ ràng về tính độc lập với Đảng Lao động "ở Miền Bắc" (chưa bao giờ thừa nhận là đảng của miền bắc dù mặc nhiên thừa nhận Đảng nhân dân cách mạng là đảng cộng sản ở miền nam), nhưng là đảng cộng sản ở miền Nam, là tiên phong lãnh đạo Quân giải phóng Miền Nam thông qua Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang, thành viên chủ chốt của Mặt trận, theo tài liệu Mỹ có được lúc đó quan hệ với đảng Lao động trên tình huynh đệ cộng sản. Tuy nhiên đảng công khai cử đại diện tham gia Trung ương Cục Miền Nam, là bộ phận đặt ở phía nam của Trung ương Đảng Lao động. Nhưng thực chất Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam chỉ là cánh tay phía Nam của Đảng Lao động Việt Nam, và là công cụ chủ yếu thông qua đó Hà Nội kiểm soát cuộc nổi dậy chống lại "Mỹ-Diệm".{

Theo tài liệu của Mỹ, Trung ương Cục Miền Nam là Ban Chấp hành TW của Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam (sau đổi thành Đảng Nhân dân cách mạng Miền Nam VN), nhưng năm 1969 khi thành lập Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Trung ương Cục Miền Nam lại là đại diện của Đảng Lao động Việt Nam (được hiểu như có trụ sở tại Miền Bắc) tại miền Nam Việt Nam, và độc lập với "Ban chấp hành TW Đảng Nhân dân cách mạng").

Theo nhận định của Mỹ dựa vào các tin tình báo, giới lãnh đạo cộng sản tại miền Bắc đứng đằng sau sự hình thành Mặt trận và các cuộc nổi dậy ở miền Nam. Họ đề ra chiến lược quân sự lẫn chính trị cho các nhà lãnh đạo Mặt trận tại miền Nam. Tuy nhiên, phía Mỹ và Việt Nam Cộng hoà vẫn không nắm rõ sự tác động của Miền Bắc đến mức nào giai đoạn trước và sau năm 1959 do Miền Bắc phủ nhận hoàn toàn sự can thiệp trong giai đoạn đầu, nhưng công khai lãnh đạo giai đoạn 1959-1961 và hỗ trợ vào giai đoạn sau.

Về chiến lược[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhận định của Mỹ, Mặt trận tuyên truyền tranh thủ dân chúng bất mãn, và thành lập lực lượng "Phong trào giải phóng nhân dân Việt Nam", một đơn vị quân sự bao gồm các cựu chiến binh Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, tù nhân chính trị chạy thoát, và các cán bộ cộng sản (1957). Một ví dụ sau này là "Hội Phật Giáo Việt Nam-Campuchia", một trong các tổ chức tuyên truyền cho khẩu hiệu "Hòa bình và Hòa Hợp dân tộc."

Theo nhận định của Mỹ, trước năm 1959, Miền Bắc bị giằng xé giữa chính sách thân Liên Xô "cùng tồn tại hòa bình", và chính sách thân Trung Quốc cổ vũ cho cho bạo lực cách mạng vô sản cho dù Trung Quốc không thích viện trợ nhiều cho Việt Nam. Về kinh tế, Miền Bắc cũng đạt được thành tích về kinh tế từ 1959, nhất là công nghiệp.

Đến năm 1959, có vẻ như có khả năng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chọn để theo đuổi một chiến lược "súng và bơ", và thu được viện trợ cần thiết của Liên Xô và Trung Quốc. Nghị quyết 15 năm 1959 và Nghị quyết đại hội Đảng III, Đảng Lao động công khai hỗ trợ cho cuộc chiến ở Miền Nam.

Trong suốt thời gian chiến tranh Miền Bắc luôn khẳng định là chỉ chi viện, hỗ trợ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bao gồm cả phối hợp chỉ đạo quân sự chứ không can thiệp trực tiếp vào chính sách đối nội - ngoại của Mặt trận. Sau chiến tranh, nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam luôn khẳng định Đảng lãnh đạo toàn bộ cách mạng, nhưng trong vài năm đầu tiên các hoạt động vũ trang do các cấp chỉ huy địa phương tự quyết định ngoài các chỉ thị từ trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại miền Bắc.[cần dẫn nguồn]

Philippe Devillers, nhà phân tích người Pháp nhận định: những người kháng chiến buộc phải hành động, cho dù có sự hỗ trợ từ Hà Nội hay không, bởi các đồng đội của họ bị bắt, bị bỏ tù và bị tra tấn. Ông này công bố tài liệu của Nambo Veterans of the Resistance Association, tháng 3/1960, Mặt trận tuyên bố kêu gọi "đấu tranh" để "giải phóng mình từ sự phục tùng Mỹ, loại bỏ tất cả các căn cứ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, trục xuất các cố vấn quân sự Mỹ..." và kết thúc "chế độ thực dân và chế độ độc tài phát xít của nhà Ngô". Ông cũng nhận định "chính phủ Nam Việt Nam cuối cùng đã phá hủy sự tin tưởng của người dân, mà nó đã giành được trong những năm đầu, và thực tế đã đưa họ vào cuộc nổi loạn và tuyệt vọng". Arthur Schlesinger, Jr. cũng có nhận định tương tự.

Ủy ban giám sát thi hành Hiệp định lại không thể kiểm tra hết các cơ sở để khẳng định khả năng hai bên sử dụng vũ lực. Năm 1959 và 1961 Ủy ban này đã công bố rằng Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đã trắng trợn vi phạm các quy định kiểm soát vũ khí của Hiệp định Geneva, cho dù lưu ý vấn đề lật đổ ở miền Nam Việt Nam.

Chính phủ Hoa Kỳ, trong sách trắng về Việt Nam năm 1961 và 1965, đã đổ lỗi cho sự nổi dậy trên là "xâm lược" của Hà Nội, tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam luôn là công cụ của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đối phương đáp lại các cuộc nổi dậy bắt đầu như là một cuộc nổi loạn chống lại chính phủ áp bức của Ngô Đình Diệm, và chỉ từ cuối năm 1960, khi Hoa Kỳ sẽ cam kết nguồn lực lớn để giúp chính phủ Diệm trong cuộc chiến của mình, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thúc đẩy cuộc chiến với khẩu hiệu giải phóng miền Nam Việt Nam khỏi sự xâm lược của Mỹ.

Về tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhận định của Mỹ, cơ cấu chỉ huy cộng sản khá phức tạp với một loạt các hội đồng, ủy ban, ban giám đốc lồng vào nhau. Tất cả đều được kiểm soát bởi Ủy ban Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam Hà Nội. Cấu trúc tổ chức chồng chéo, trùng lặp và dư thừa để tạo tính đàn hồi, và cũng để tăng tính linh hoạt, có thể điều chỉnh để tách rời hay loại trừ giữa các thành viên trong tổ chức.[12]

Tổng thể cấu trúc lực lượng cộng sản tại miền Nam theo phía Mỹ gồm 3 thành phần:

  • Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam: thay mặt cho Đảng Lao Động Việt Nam tại miền Bắc chỉ đạo phong trào chống Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà tại miền Nam. Trung uơng Cục miền Nam bao gồm một số hoạt động công khai là một ủy ban điều hành của Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam, với đội ngũ nhân viên có liên quan để phối hợp các nỗ lực chiến tranh. Hà Nội thực hiện việc chỉ đạo chiến tranh tại miền Nam thông qua liên lạc với cấp lãnh đạo tại Văn phòng Trung ương Cục Miền Nam và các Khu ủy trực thuộc Trung ương. Tất cả các quyết định chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam đều bí mật, chỉ công khai trong đội ngũ những người cách mạng, các đảng anh em. Các chính sách liên quan đến xã hội chủ nghĩa chỉ được phổ biến trong đảng viên và quần chúng theo cách mạng, chứ không công khai bên ngoài. Sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng bí mật để tạo ra một tổ chức hoàn toàn độc lập chính sách của Miền Bắc.[cần dẫn nguồn]
  • Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là tập hợp của các nhóm chống Diệm và những người thừa kế, có cảm tình cộng sản. Vài nhóm thuộc Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam, một số không thuộc, hay có sự liên kết lỏng lẻo hoặc cảm tình. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là vỏ bọc chính trị và tập hợp lực lượng rộng rãi cho sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam thông qua Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam đối với toàn bộ phong trào cách mạng tại miền Nam Việt Nam. Mặt trận thành lập còn để bảo đảm tính pháp lý cho cuộc chiến ở Miền Nam và thu hút những thành phần xã hội không sử dụng học thuyết cộng sản để tuyên truyền. Do quân đội dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam nên Mặt trận và chính quyền không có quyền chỉ huy quân sự, chỉ quản lý trên danh nghĩa lực lượng vũ trang. Điểm này rất giống hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.[cần dẫn nguồn]
  • Quân giải phóng bao gồm lực lượng ngoài Bắc vào và lực lượng được tuyển mộ tại chỗ do Trung ương Cục nhận chỉ đạo từ Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam điều khiển. Bên cạnh một ban lãnh đạo song song làm "vỏ bọc" còn có các thành viên Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam giữ vị trí chỉ huy quan trọng nhất trong quân đội, và giám sát hoạt động tất cả các nhóm khác đến cấp thôn, bản. Về phía cách mạng, Quân giải phóng được định nghĩa khác. Trong giai đoạn đầu Miền Bắc phủ nhận can thiệp quân sự ở miền Nam, nên các chỉ thị TW đảng mang tính bí mật cao. Sau này khi chiến tranh leo thang, Quân đội ngoài Bắc vào ngày càng nhiều thì Miền Bắc công khai quyền quân sự, trong sự phối hợp với Bộ tư lệnh của quân giải phóng. Để tạo Mặt trận một vị thế độc lập tương đối, nên phía cách mạng đôi khi cũng tạo một sự phân biệt nhất định giữa "quân đội nhân dân" và "quân giải phóng" (dù nhiều đơn vị có cả người bắc và nam) nhưng điều này không có ý nghĩa vào giai doạn cuối của chiến tranh. Cụ thể thành lập các quân đoàn, bao gồm cả lực lượng ngoài bắc và tuyển mộ tại chỗ. Đến giai đoạn này sự phân biệt Quân Giải phóng và Quân đội Nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có ý nghĩa nữa. Và sau 30/4/1975 hai lực lượng vũ trang của Miền Bắc và Miền Nam chính thức hợp nhất năm 1976 sau khi thống nhất nhà nước.[cần dẫn nguồn]

Theo Douglas Pike năm 1970, Quân đội nhân dân Việt Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có 500.000 trong đó 125.000 tại miền Nam Việt Nam và Campuchia, 67.000 ở Lào, ngoài ra lực lượng bán quân sự 250.000, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam có 80.000 thành viên, các thành viên khác của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Việt Nam tổng cộng 300.000, Quân giải phóng Miền Nam 190.000,... trong khi chống Quân đội Việt Nam Cộng hòa tổng cộng 1,4 triệu, Mỹ 434.000 và quân đồng minh.[cần dẫn nguồn]

Đảng Lao động Việt Nam chia chiến trường miền Nam thành 5 khu vực B-5 - Quảng Trị (giáp vĩ tuyến 17), B4- Trị Thiên, B3 - Tây Nguyên, B1 - Khu V, B2 - Nam Bộ (từ cực Nam của Nam Trung bộ và Tây Nguyên vào - tương ứng từ Quảng Đức, Tuyên Đức và Ninh Thuận, gồm Khu VI, VII, VIII, IX, X, Sài Gòn - Gia Định), có sự thay đổi ranh giới và phân chia theo thời gian. Về hình thức Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng chỉ huy toàn bộ quân Giải phóng trên toàn miền Nam. Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tại Hà Nội giám sát tất cả nhưng trực tiếp phụ trách các khu Quảng Trị, Trị Thiên, Khu V và Tây Nguyên. Về mặt chính trị, phân vùng có khác, Khu ủy Trị Thiên và Khu ủy Khu V (địa bàn rộng hơn Khu V về quân sự) nhận chỉ thị trực tiếp từ Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chứ không phải từ Trung ương Cục miền Nam. Tại mỗi Khu, Khu ủy thực hiện chỉ đạo đối với lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn Khu. Ban Thống nhất thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam điều phối các vấn đề phức tạp.[cần dẫn nguồn]

Theo nhận định của Mỹ, Trung ương Cục miền Nam có vai trò nổi bật trong việc giám sát lực lượng vũ trang tại Nam Bộ (B2). Trên danh nghĩa, Quân Giải phóng là một phần của một phong trào dân tộc giải phóng. Theo nhận định của Mỹ, trong thực tế nó đã được kiểm soát bởi Trung Ương Cục Miền Nam, mà lần lượt được kiểm soát bởi Đảng Lao động. Quân đội Nhân dân Việt Nam khi vào các địa bàn này cũng chịu sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam và Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền.[cần dẫn nguồn]

Theo định nghĩa thông thường của Mỹ, Quân giải phóng để chỉ Quân đội thuộc phía cách mạng ở địa bàn B2. Nhưng cũng có định nghĩa khác. Sự phân biệt của phía Mỹ có tính chất chiến lược trong quân sự chứ không vì các mục đích thuần túy chính trị. Thực chất tất cả lực lượng vũ trang do Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chỉ đạo, trực tiếp là các Khu ủy và Quân ủy từng quân khu hay Trung ương cục Miền Nam và Quân ủy Miền, Khu. Các tổ chức khác của Mặt trận đều do Trung ương Đảng lãnh đạo và đều tôn vinh Hồ Chí Minh làm lãnh tụ, dù cơ cấu tổ chức và tuyên bố bên ngoài độc lập với hệ thống chính trị Việt Nam Dân chủ cộng hòa [13][14].

Trên thực tế cơ cấu tổ chức của phía cách mạng phức tạp và biến chuyển hơn các tin tức từ phía đối phương khai thác được. Tựu trung, để tạo cho lực lượng cách mạng ở miền Nam một vị thế chính trị độc lập với vị thế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nâng cao vị thế của họ trên bình diện quốc tế, có lợi cho cách mạng, nhất là trong thu hút lực lượng, tranh thủ ủng hộ quốc tế, và trên bàn đàm phán, tránh mang tiếng Miền Bắc "xâm lược"... nên cơ cấu tổ chức của lực lượng cách mạng ở miền Nam độc lập với các thiết chế ở miền Bắc, bao gồm cả Đảng, Mặt trận, chính quyền, quân đội,... Sau 30/4/1975 mới công khai đảng Nhân dân Cách mạng là bộ phận của Đảng Lao động, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Riêng Mặt trận và chính quyền đại diện lãnh thổ quản lý, thì sáp nhập sau các hội nghị hiệp thương, bầu cử và địa hội thống nhất.[cần dẫn nguồn]

Về lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian đầu, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận chính quyền Miền Nam có địa vị tương đương, nhưng không công nhận chính thể Việt Nam Cộng hòa và hai quốc gia khác nhau, nhằm tranh thủ đấu tranh thống nhất đất nước bằng hòa bình. Các cuộc đấu tranh ở Miền Nam giai đoạn này Miền Bắc cơ bản không kiểm soát được hoàn toàn, mà do các đảng bộ miền Nam chỉ đạo, có khi vượt ngoài chỉ đạo của TW. Sau Hội nghị TW 15 và sau này ra đời Mặt trận, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không còn công nhận Việt Nam Cộng hòa để công khai ủng hộ cho phía cách mạng Miền Nam.

Trong thời gian đầu khi lực lượng cộng sản miền Nam còn yếu, Miền Bắc luôn phủ nhận sự can thiệp vào các vấn đề nội bộ của miền Nam, nhưng sau thì Mỹ và Việt Nam Cộng hòa phát hiện đường mòn Hồ Chí Minh và các lực lượng từ Bắc di chuyển vào thì Việt Nam Dân chủ cộng hòa công khai ủng hộ cho lực lượng Quân Giải phóng, các lực lượng từ Bắc vào được xem là một bộ phận của lực lượng cách mạng Miền Nam, chịu sự chỉ đạo chung của Đảng Lao động, "Đảng nhân dân cách mạng", Mặt trận và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tuy nhiên ngoài tham gia chỉ đạo về quân sự, với danh nghĩa giúp đỡ để hoàn thành mục tiêu chung, Miền Bắc không thừa nhận chỉ đạo về đường lối chính sách đối ngoại đối nội của phái Mặt trận, tạo uy thế có tính độc lập trong chính sách của phía Mặt trận, nhằm thu hút thêm quần chúng ủng hộ cách mạng, phân hóa kẻ thù, và tạo thêm sự ủng hộ từ các lực lượng chính trị khác trong và ngoài nước, nhất là các nước nằm ngoài phe Xã hội Chủ nghĩa. Về phía đối phương, họ lúc thì khẳng định Mặt trận là do Miền Bắc thành lập để phản đối Miền Bắc xâm lược, nhưng nhiều khi họ luôn khai thác các yếu tố sự độc lập của Mặt trận để chia rẽ nội bộ giữa Mặt trận và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[cần dẫn nguồn]

Về hợp nhất Mặt trận, các đoàn thể và chính quyền là mang tính nguyên tắc trên cơ sở pháp lý. Sau 30/4/1975 trên thực tế tồn tại hai chính quyền có lãnh thổ riêng và chính sách riêng, nhưng lúc này Đảng Lao động công khai chỉ đạo cả Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Trong thời gian còn chiến tranh thì các chỉ đạo chính sách với Mặt trận và Chính phủ Cách mạng là mang tính bí mật, đôi khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời có tuyên bố không giống nhau thể hiện sách lược của đảng. Do Chính phủ khi đặt trụ ở tại Tây Ninh hay Campuchia, hay Quảng Trị, hay phần lớn thành viên ở ngoài Bắc do đó các chỉ thị từ TW Đảng là trực tiếp hay thông qua TW Cục Miền Nam. Các lãnh đạo Mặt trận và chính quyền là đảng viên công khai hay bí mật nhiều lần tham gia vào các cuộc họp ra quyết định của Đảng liên quan công tác của họ.

Đối phương thường cho Mặt trận không có thực quyền, mà thực quyền thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không chuẩn xác. Vì các thiết chế nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ ra các văn bản chỉ đạo đối với Miền Bắc, và các văn bản ủng hộ cho Miền Nam chứ không có các văn bản chỉ đạo. Các văn bản chỉ đạo thuộc thiết chế của Đảng, mà Đảng được phía cách mạng định nghĩa không chỉ thuộc Miền Bắc như sau này thừa nhận. Hệ thống của Đảng trụ sở tại Hà Nội nhưng chỉ đạo xuyên suốt từ miền Bắc đến miền Nam, nhiều ủy viên Bộ Chính trị và TW Đảng cũng công tác trong Nam, trong đó một bộ phận tham gia TW Cục Miền Nam. Trong khi đó chính quyền ngoài Bắc gồm nhiều người ngoài Đảng hay các đảng Xã hội và Dân chủ.

Đảng lãnh đạo toàn bộ (sau này được công khai), nhưng đường lối chính sách của Mặt trận có tính độc lập bề ngoài vì Mặt trận gồm nhiều thành phần, nhưng chịu chỉ đạo bí mật từ các cấp lãnh đạo Đảng theo nguyên tắc xác lập trong nội bộ Mặt trận. Các lãnh đạo của Mặt trận nhiều người không công khai là đảng viên cộng sản (trừ các vị công khai là lãnh đạo Đảng Nhân dân Cách mạng), sau này mới công khai, nhằm tạo ra một vị thế đa thành phần tranh thủ ủng hộ quốc tế, và thu hút lực lượng rộng rãi hơn, nhất là các thành phần ở đô thị, tầng lớp trên tư sản dân tộc hay trí thức, hay tín đồ và chức sắc các tôn giáo,... Điểm này rất giống với Mặt trận Việt Minh trước đây, nhiều đảng viên trong Mặt trận hoạt động danh nghĩa trí thức hay của đảng Dân chủ và đảng Xã hội.

Nhìn chung tổ chức của phía cách mạng đều do Đảng lãnh đạo toàn bộ như sau này thừa nhận, và các tin tức bóp méo có tính chất chia rẽ nội bộ đối phương khai thác thời chiến tranh và cả sau này đều không có sơ sở, như không biết Mặt trận là Cộng sản hay hai quân đội riêng độc lập nhau hay mâu thuẫn giữa Mặt trận và Miền Bắc. Mặt khác sự chỉ đạo toàn bộ này chỉ công bố sau chiến tranh, thể hiện rõ sách lược phân hóa kẻ thù, "đánh lạc hướng" và tranh thủ lực lượng của Đảng. Càng về cuối cuộc chiến tranh thì tính chất giống nhau về bề ngoài của phía cách mạng với miền Bắc càng bộc lộ khi lực lượng của họ mạnh lên, như các khẩu hiệu tuyên truyền về Xã hội Chủ nghĩa, hay các biểu tượng Lenin, Hồ Chí Minh,... cho dù đến 1976-1977 đất nước mới thống nhất chính thức hệ thống chính trị và tuyên bố đi lên Xã hội Chủ nghĩa cả nước chỉ đặt ra từ đại hội IV.[cần dẫn nguồn]

Về quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thành lập Quân giải phóng miền Nam, một lực lượng quân sự mà nòng cốt là những người từng tham gia Việt Minh đồng thời bao gồm cả một số người từng là thành viên Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên.

Phía đối phương có khi phân chia quân giải phóng (với quân đội nhân dân) để chỉ lực lượng ở B2 là căn cứ vào thẩm quyền chỉ huy, vì từ B2 trở vào là do Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang miền Nam chỉ huy - là chỉ huy Quân giải phóng công khai khi quân giải phóng mới thành lập. Trên thực tế, B2 là địa bàn xa, TW cần một ban chỉ đạo trực tiếp nên thiết lập TW Cục Miền Nam để chỉ đạo. Cơ cấu tổ chức của phía cách mạng địa bàn này cũng khác biệt với các địa bàn do TW trực tiếp chỉ đạo. Như TW có TW Đảng thì B2 có TW Cục, TW có Bộ Tổng tư lệnh, thì B2 có Bộ Tư lệnh Miền, TW có quân ủy TW thì B2 có quân ủy Miền... tức các thiết chế tương tự như ở TW, dưới nữa mới đến các Khu hay quân khu, tương tự như các khu do TW trực tiếp chỉ đạo, nhưng vẫn chịu chỉ đạo thông suốt từ TW.[cần dẫn nguồn]

Theo nhận định của Mỹ, lực lượng quân chủ lực gồm từ cả ngoài Bắc vào, được trang bị vũ khí hạng nặng, phần lớn là đảng viên, biết đọc viết, được huấn luyện chu đáo. Quân địa phương thường chiến đấu gần tỉnh nhà của họ, không cần tỷ lệ đảng viên cao, không cần biết chữ, dù hoạt động chuyên nghiệp. Du kích hầu hết là nông dân nghèo hoạt động bán thời gian ở địa phương, tham gia xây dựng công sự, vận chuyển khí tài... chịu chỉ đạo của quân giải phóng ở mức độ thấp hoặc của Mặt trận. Đôi khi có sự thiếu hụt nhân lực phải bổ sung nhưng ít có hoán chuyển và quân chủ lực luôn bảo đảm tinh nhuệ nhất. Lính miền Bắc khi vào Nam vẫn giữ phù hiệu, dù có cá nhân độn vào lực lượng tiểu đoàn Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Các đơn vị từ miền Bắc di chuyển sâu hơn về phía Nam cần phối hợp nhiều hơn với Quân Giải phóng và các lực lượng tại địa phương. Về công khai tất cả các lực lượng vũ trang tại miền Nam đều do Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chỉ huy. Việc phân chia quân đội Bắc Việt và quân đội Việt Cộng cũng một phần nhằm mục đích chia rẽ, nhưng chủ yếu để có chiến thuật quân sự thích hợp, vì quân miền Bắc được huấn luyện tốt hơn lực lượng tại chỗ.

Theo nhận định của Mỹ, trong khi Bắc Việt Nam và đồng minh của họ cố gắng ngụy trang tổ chức thực sự chỉ đạo chiến tranh, điều quan trọng cần lưu ý là cả Quân Giải phóng và các binh sĩ thường xuyên của quân Bắc Việt Nam đều thuộc một lực lượng. Mỗi bộ phận đều có đặc tính riêng biệt của địa phương, cách tuyển dụng, các nhiệm vụ, nhưng tựu chung họ đều được kiểm soát bởi bộ chỉ huy ở Hà Nội.

Theo tài liệu của đảng cộng sản, khi đó chưa công khai, chỉ thị của Tổng quân ủy Trung ương chỉ rõ "Quân giải phóng Miền Nam là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, do đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo,..."[15]

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Đường lối, chính sách, cương lĩnh, tuyên ngôn đưa ra của Mặt trận trong thời gian chiến tranh luôn có sự thay đổi tùy theo tình hình, miễn có lợi cho phía Cách mạng. Tuy nhiên nhìn chung không thừa nhận chính quyền Sài Gòn là chính quyền hợp pháp, và chính thể Việt Nam Cộng hòa là chính thể độc lập. Quan điểm của Mặt trận là Miền Nam chưa có độc lập, chính thể và chính quyền Việt Nam Cộng hòa chỉ là bù nhìn tay sai cho Mỹ, còn Mỹ là kẻ đi xâm lược, thi hành chính sách thực dân mới.

Một cuộc tấn công của MTDTGPMNVN tại Sài Gòn năm 1965

Mặt trận luôn cho rằng miền Nam chưa có độc lập, nên gọi đó là cuộc chiến tranh giải phóng. Việt Nam dân chủ cộng hòa và sau này thì Nhà nước lại hay dùng từ Kháng chiến chống Mỹ, để khẳng định Việt Nam đã độc lập từ 1945, và chống các kẻ thù xâm lược một nước đã có chủ quyền, hay dùng từ cách mạng dân tộc dân chủ, hay cách mạng tư sản dân quyền, để chỉ một giai đoạn trong chính sách của Đảng cộng sản. Giai đoạn cách mạng tiếp theo là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là cách dùng từ theo quan điểm hai giai đoạn cách mạng của Lenin rút ra từ thực tiễn đấu tranh giành chính quyền tại Nga.

Đường lối của họ là chống Mỹ, và trong một số hoàn cảnh chấp thuận thương lượng với phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tùy thuộc chính quyền đó do ai lãnh đạo, và hoàn cảnh cụ thể. Mặt trận còn chủ trương chống chính phủ Việt Nam Cộng hòa mà theo họ là chế độ độc tài, đòi thi hành dân sinh dân chủ, bao gồm cả cải cách ruộng đất, xây dựng Miền Nam là một chính thể tự do dân chủ và đi đến hiệp thương với miền Bắc thống nhất nước nhà. Mặt trận thông qua nhiều tổ chức khác do họ điều khiển, tổ chức biểu tình chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tuyên truyền kêu gọi "Hòa bình và Hòa giải dân tộc" để thu hút quần chúng, cô lập và phân hoá đối phương.

Mặt trận còn chủ trương cho Tây Nguyên tự trị và kết nạp tổ chức Phong Trào Các Dân Tộc Tự Trị Tây Nguyên[16]. Tuy nhiên sau chiến tranh chủ trương này không được Nhà nước hiện nay thực hiện.

Các vấn đề liên quan đến Chủ nghĩa Cộng sản hay Chủ nghĩa Xã hội không được nhắc đến trong Cương lĩnh Mặt trận tương tự Việt Minh trước đây. Các khái niệm "chuyên chính vô sản", "quốc hữu hóa", "tập thể hóa", nhà nước của giai cấp công nhân không được phổ biến công khai và rộng rãi. Tuy nhiên đối phương luôn khẳng định Mặt trận là cộng sản, vì trong thành phần Mặt trận, Đảng Nhân dân cách mạng theo chủ nghĩa Marx-Lenin là lực lượng nòng cốt. Ngoài ra do các nguồn tin khác nhau họ biết sự chỉ đạo từ Đảng Lao động Việt Nam ở miền Bắc đối với Mặt trận.

Lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Mỹ ước tính vào giữa 1962 miền Nam Việt Nam có khoảng 2.500 làng, khoảng 85% tổng dân số, 20% đã được kiểm soát một cách hiệu quả bởi Việt Cộng. Mặc dù Việt Cộng kiểm soát số làng nơi sinh sống của ước tính 9% dân số nông thôn, tổng diện tích đại diện những ngôi làng này bao phủ một tỷ lệ lớn hơn nhiều của các vùng nông thôn. Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiểm soát có hiệu quả khoảng 47% dân cư nông thôn và 33% của các làng, phần lớn nằm ở vùng ven của các thành phố lớn, thị xã và các khu vực dân cư đông đúc hơn dọc theo các đường chính. Trong 47% còn lại của các vùng nông thôn và 44% dân cư nông thôn, không phải là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng không phải là Việt Cộng kiểm soát có hiệu quả, mặc dù Chính phủ Việt Nam ảnh hưởng dường như lớn hơn trong hầu hết những ngôi làng này. Theo tài liệu của Mỹ, năm 1965 lên đến 50% của vùng nông thôn ở miền Nam Việt Nam bây giờ, ở một số mức độ do Việt Cộng kiểm soát.

Theo tài liệu phía cách mạng, năm 1962 phía cách mạng kiểm soát 76% lãnh thổ và 50% dân số toàn miền Nam. Từ 1964 đến 1965, vùng do Mặt trận kiểm soát chiếm 3/4 diện tích và 2/3 dân số miền Nam [17]. Năm 1968 Mặt trận quản lý 10/14 triệu người, trong đó "4 triệu sống trong vùng giải phóng và ít nhất 6 triệu rưỡi người nữa thuộc quyền cai trị bí mật của Mặt trận trong các vùng danh nghĩa là của Mỹ và Sài Gòn kiểm soát"[18]

Quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính thể lãnh đạo thực tế Miền Bắc Việt Nam từ 1954, nhưng thừa nhận chủ quyền hợp pháp đối với toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Điều này được ghi nhận trong Lời nói đầu và Điều 1 Hiến pháp năm 1959. Các quy định công khai này được phía đối phương xem là "hiếu chiến" chuẩn bị cho "xâm lược" Miền Nam (dù trong bản Hiến pháp chỉ quy định là thống nhất trong hòa bình, nhưng đề cập cách mạng dân tộc - dân chủ ở Miền Nam). Trong những năm đầu sau khi đất nước bị chia cắt làm hai miền, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thừa nhận công khai chính quyền Việt Nam cộng hòa là một chính thể ngang hàng (gọi là nhà đương cục Miền Nam, hay chính quyền Miền Nam), nhưng không thừa nhận Việt Nam cộng hòa với tư cách chính thể và có hai nước Việt Nam, và đề nghị tổ chức Hội nghị Hiệp thương để thống nhất Việt Nam đồng thời tố cáo Việt Nam Cộng hòa không tuân thủ Hiệp định Genève, đàn áp những người yêu nước và đấu tranh hòa bình ở miền Nam để thống nhất đất nước (nhưng trong văn kiện Đảng thì luôn coi chính quyền Việt Nam Cộng hòa là bù nhìn, tay sai). Do lập trường như vậy nên đến năm 1959, sau khi thấy khả năng không thể thống nhất trong hòa bình, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam ngầm ủng hộ cho khởi nghĩa ở Miền Nam thì mới công bố Hiến pháp mới khẳng định Việt Nam là một nước không thể chia cắt và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể có địa vị hợp pháp, chủ quyền hợp pháp toàn Việt Nam bằng cách viện dẫn Cách mạng Tháng Tám, bầu cử Quốc hội năm 1946 và Hiến pháp 1946 mà Hiến pháp 1959 là kế thừa.

Nghị quyết Quốc hội khóa I kỳ 11 ngày 31-12-1959 (khi đó vẫn có các đại biểu Miền Nam được bầu năm 1946 đủ tư cách) - khi đó vẫn xem là Quốc hội Việt Nam thống nhất - khẳng định "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiêu biểu cho tính chất thống nhất của nước ta và tiêu biểu cho ý chí tranh đấu của nhân dân cả hai miền Nam - Bắc". Những ghi nhận này khẳng định Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể duy nhất có quyền lực pháp lý trên toàn lãnh thổ Việt Nam và công khai không thừa nhận Việt Nam Cộng hòa là một nhà nước hợp pháp, miền Nam chưa được giải phóng và cũng "ám chỉ" Việt Nam nếu không thể thống nhất bằng hòa bình thì bằng chiến tranh.

Hiến pháp năm 1959 cũng ghi nhận Đảng Lao động là lãnh đạo cách mạng trong Lời nói đầu, nhưng không quy định là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội trong điều khoản nào như Hiến pháp 1980 và 1992 sau này (chưa có địa vị pháp lý lãnh đạo chính thức) nhằm để ngỏ khả năng hiệp thương với chính quyền Miền Nam và động viên nhưng người không có lập trường cộng sản nhưng chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đứng về phía cách mạng. Đến 1960 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn công khai đưa ra đề nghị thương lượng lần cuối (khẩu hiệu đấu tranh hòa bình thống nhất vẫn được khẳng định tại Hiến pháp, và cả văn kiện công khai của đại hội III Đảng Lao động, nhưng các văn kiện bí mật chỉ lưu hành nội bộ thì ủng hộ cho giải pháp khởi nghĩa và lập đoàn chi viện vào Nam).

Phía Việt Nam Cộng hòa trước đó ban hành Hiến pháp riêng 1956 và bầu cử riêng, cũng thừa nhận địa vị hợp pháp của chính quyền này dựa trên Quốc gia Việt Nam trước đây và tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam. Điều này (cộng với từ chối tổng tuyển cử cả nước) được phía bên kia xem là một cử chỉ thể hiện sự "hiếu chiến" chuẩn bị cho "Bắc tiến".

Sau Đồng khởi, thì một vùng do Đảng Lao động và cách mạng kiểm soát ở Miền Nam hình thành, đồng thời miền Bắc viện trợ cho miền Nam một lượng lớn vũ khí, quân trang, quân dụng và cử nhiều cán bộ, binh sỹ vào Nam chiến đấu. Trong khi Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã đưa ra những chứng cớ mà họ cho là Miền Bắc "xâm lược", do đó chủ trương của Đảng Lao động là thành lập một Mặt trận lấy danh nghĩa giải phóng Miền Nam để kiểm soát các vùng đất này, và tách đảng bộ miền Nam lập một đảng danh nghĩa (tương tự với đảng Xã hội và Dân chủ). Mặt trận lấy danh nghĩa là Việt Nam đã độc lập năm 1945 và kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nhưng miền Nam chưa có độc lập để đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam - tính độc lập hình thức với Miền Bắc không rõ ràng bằng khi lập chính thể Cộng hòa Miền Nam như sau này. Mặt trận thừa nhận Miền Bắc đã được giải phóng, và Việt Nam dân chủ cộng hòa là chính thể hợp pháp cả nước. Tuy nhiên tính chất độc lập tương đối được đưa ra khi văn kiện Mặt trận khẳng định Mặt trận sẽ hiệp thương với Miền Bắc để thống nhất. Tính độc lập này chỉ là tương đối và khớp với văn kiện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (khi khẳng định chủ quyền với toàn lãnh thổ). Chương trình hành động của Mặt trận (điểm IX):

Yêu cầu bức thiết của đồng bào trên toàn quốc là phải hoà bình thống nhất Tổ quốc. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam chủ trương thống nhất nước nhà từng bước bằng phương pháp hoà bình, trên nguyên tắc hai miền cùng nhau thương lượng, cùng nhau bàn bạc mọi hình thức và biện pháp có lợi cho dân tộc, cho Tổ quốc Việt Nam. Trong khi nước nhà chưa thống nhất, chính phủ hai miền cùng nhau thương lượng cam kết không tuyên truyền chia rẽ dân tộc, không tuyên truyền chiến tranh, không dùng binh lực đối với nhau. Thực hiện trao đổi kinh tế văn hoá giữa hai miền. Cho nhân dân hai miền được tự do đi lại buôn bán, thăm viếng, tự do gửi thư từ cho nhau.

Sau khi Mặt trận ra đời thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công khai khẳng định Mặt trận đại diện nhân dân miền Nam, nhưng không sửa lại Hiến pháp. Hồ Chí Minh trong trả lời phỏng vấn của Daily Worker năm 1965 khẳng định Mặt trận có đường lối riêng của họ, phù hợp với hoàn cảnh mỗi miền, nhưng Việt Nam là một[19]. Sau này Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức xem Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một chính thể và nhà nước độc lập với nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng chỉ giới hạn ở Miền Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không sửa lại Hiến pháp. Tuy vậy Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không đặt quan hệ bình thường như thiết lập đại sứ hay quan hệ ngoại giao với các nước khác mà đặt đại diện. Mục tiêu hiệp thương thống nhất hai nhà nước luôn thể hiện trong các tuyên bố hai phía và hai bên đặt đại diện (chứ không phải cấp đại sứ hay lập quan hệ ngoại giao thông thường) tại Hà Nội và Tây Ninh thể hiện ý chí này.

Bên cạnh đó, Đảng Lao động bề ngoài vẫn thừa nhận Đảng Nhân dân Cách mạng có tính "độc lập" tuy nhiên sau này thừa nhận Trung ương Cục là đại diện Đảng Lao động tại miền Nam. Lập trường quốc tế nói chung đa số vẫn thừa nhận Việt Nam có hai chính quyền ở hai miền chứ không nói là hai nước theo cách hiểu thông thường, và sau nhiều nước thừa nhận Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một trong hai chính quyền ở Miền Nam (chứ không phải Miền Nam có hai nước). Do lập trường của Mặt trận và Cộng hòa miền Nam Việt Nam là Miền Nam chưa có độc lập nên họ sử dụng cụm từ "giải phóng", và Việt Nam dân chủ cộng hòa dùng từ "kháng chiến" để chỉ cuộc kháng chiến hai miền nam - bắc vì một mục tiêu chung. Sau đó cụm từ "kháng chiến" lại phổ biến, do lập trường của Việt Nam là Việt Nam độc lập từ 1945 và kháng chiến để chống lại một nước đã có chủ quyền (không phải chưa có độc lập như các văn kiện Mặt trận thời chiến tranh).

Lập trường Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phía Mặt trận thường giống nhau, trừ việc Mặt trận không hề đề cập đến các chính sách cải tạo Xã hội Chủ nghĩa ở miền Nam. Năm 1955 và năm 1960 Miền Bắc cho thành lập các khu tự trị, có ý nghĩa trong chính sách lôi kéo người dân tộc thiểu số miền Nam đứng về phía cách mạng (khi đó chính quyền Việt Nam Cộng hòa phủ nhận sự tự trị mà Pháp trao cho các dân tộc thiểu số). Phía Mặt trận và Chính phủ Cách mạng Lâm thời cũng cho thành lập các Ủy ban tự trị dân tộc thuộc địa phận vùng kiểm soát của mình, trong thời gian chiến tranh như miền Bắc có khu tự trị. Tuy nhiên sau 1975 thì do vấn đề Trung Quốc, Khmer Đỏ và các vấn đề an ninh... nên các chính quyền tự trị này ở miền Bắc lẫn miền Nam đều bị giải tán.

Về phía Mặt trận, chỉ công khai các chức danh do hiệp thương bầu cử ra (của Mặt trận hay chính quyền các cấp), hay chức vụ của các tổ chức, Đảng (cả đảng Nhân dân cách mạng) trong Mặt trận, cũng như quân giải phóng (Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang,...), nhưng trước khi Hiệp định Paris ký kết không công khai các chức danh hay cán bộ thuộc về phía Đảng Lao động chỉ định (như ủy viên TW hay Bộ Chính trị hay trong TW Cục, và các cấp lãnh đạo đảng ở địa phương, cũng như nhiều chỉ huy quân đội,...) để thể hiện rõ lập trường Miền Bắc chỉ chi viện giúp đỡ miền Nam và phối hợp quân sự, kể cả cử cán bộ chỉ huy Quân giải phóng, lực lượng cách mạng, chứ không chi phối chính sách của phía Mặt trận do sự hiệp thương của các lực lượng tham gia quyết định, mặt khác thể hiện nguyên tắc bí mật trong thời chiến.

Quan hệ ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 2 năm 1962, Mặt trận đặt đại diện thường trực tại Cuba, đến tháng 2 năm 1963 đặt đại diện thường trực tại Algérie, sau đó tại Indonesia, Cộng hòa Dân chủ Đức, Trung Quốc, Liên Xô, Campuchia, România, Mông Cổ, Thụy Điển, Albania, Ba Lan, Tiệp Khắc, Bắc Triều Tiên, Đan Mạch, Congo - Brazzaville, Pháp, Phần Lan, Iraq, Mali, Nam Yemen, Somalia, Tanzania,...

So sánh các mặt trận khác do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Hội Phản đế Đồng minh[sửa | sửa mã nguồn]

Hội Phản đế Đồng minh năm 1930 mang màu sắc tả khuynh hơn so với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, vì đảng chủ trương thành lập Cộng hòa Soviet, sử dụng cờ đỏ búa liềm để hiệu triệu thể hiện tính giai cấp sâu sắc nên bị Pháp coi là "cực đoan", bạo loạn phải kiên quyết đàn áp.[cần dẫn nguồn]

Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương thành lập năm 1936 khi Mặt trận Bình dân Pháp lên nắm quyền, Mặt trận chống phát xít làm mục tiêu chính có tên trên, nhưng giai đoạn đó Chính phủ Pháp ban hành nhiều quyền tự do dân chủ cho xứ thuộc địa so với trước, khi đó Đảng đổi hướng sang đòi tự do dân chủ nên tên không phù hợp và ít thuyết phục nên 1938 đổi tên là Mặt trận thống nhất dân chủ Đông Dương, để khẳng định lập trường hơn hướng đấu tranh tự do dân chủ dân sinh.[cần dẫn nguồn] Thời gian này một số đảng hoạt động công khai hay bán công khai, trong đó có Đảng Cộng sản. Các khẩu hiệu mang màu sắc Chủ nghĩa xã hội hay Chủ nghĩa Cộng sản không được nhắc đến trong các cương lĩnh đường lối của Mặt trận.[cần dẫn nguồn] Năm 1939, khi cánh hữu Pháp nắm quyền Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, xác định khẩu hiện dân tộc chủ nghĩa, thành lập chính thể cộng hòa, cũng không nhắc đến các khẩu hiệu mang màu sắc Chủ nghĩa xã hội hay Chủ nghĩa Cộng sản. Khởi nghĩa Nam Kỳ dùng cờ đỏ sao vàng chứ không dùng cờ đỏ búa liềm.[cần dẫn nguồn]

Mặt trận Việt Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1941 thành lập Mặt trận Việt Minh, cũng không đưa ra các đường lối mang màu sắc Chủ nghĩa xã hội hay Chủ nghĩa Cộng sản để thu hút lực lượng, phân hóa kẻ thù, xác định lập chính quyền dân chủ cộng hòa (chứ không phải chính quyền Xô viết).[cần dẫn nguồn] Sự lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản cũng bí mật, công khai là Tổng bộ Việt Minh, nhằm tranh thủ Mỹ, Trung Hoa Dân Quốc, và sau cả chính quyền De Gaulle chống phát xít Nhật, phát xít Pháp và bù nhìn.[cần dẫn nguồn]

Trong cách mạng Tháng Tám, miền Bắc và Trung chỉ sử dụng cờ đỏ sao vàng, trong Nam có tính chất tả khuynh hơn, sử dụng cả cờ đỏ búa liềm, và những ngày đầu chính quyền trong đó cũng có các chính sách tả khuynh hơn các nơi khác.[cần dẫn nguồn]

Sau Cách mạng Tháng Tám, Đảng mới thừa nhận lãnh đạo thực tế, thậm trí khi đó Hồ Chí Minh mới công khai mình là Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên nhìn chung đối phương, và các đồng minh luôn biết hoặc nghi ngờ Việt Minh do Đảng Cộng sản là nòng cốt. Đảng Cộng sản Đông Dương khi đó giải tán. Các đảng viên hoạt động công khai trong Việt Minh - dân tộc chủ nghĩa, hay dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác.[cần dẫn nguồn]

Lúc này Đảng Dân chủ đã tách khỏi Việt Minh, tạo bề ngoài một tổ chức chính trị độc lập với Việt Minh (và trên thực tế quan hệ giữa Việt Minh và đảng Dân chủ ở một số nơi có cạnh tranh), nhưng tạo ra một quan hệ đồng minh thế mạnh hơn so với phe Việt Quốc và Việt Cách,... trước bầu cử. Như vậy xét về tính chất thì Việt Minh ban đầu là một tổ chức liên minh dân tộc chủ nghĩa, khi Đảng Cộng sản Đông Dương "tuyên bố giải tán" thì nó là bình phong để Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động.[cần dẫn nguồn]

Chính phủ Liên hiệp Lâm thời tổ chức bầu cử và ra hiến pháp (không có hiệu lực thực tế) nhằm tạo ra một chính phủ hợp pháp mà Việt Minh làm nòng cốt nhằm tranh thủ sự ủng hộ quốc tế.[cần dẫn nguồn]

Khác với phe đối lập (có tham gia chính quyền các cấp) tuyên truyền cho dân chủ nhưng bỏ qua dân sinh, phe Việt Minh tuyên truyền cho dân sinh. Nhưng cả hai phe có lập trường chống thực dân Pháp xâm lược Miền Nam. Sau phe Việt Quốc, Việt Cách lập Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam (thân Trung Hoa dân quốc) gồm 3 đảng đã tuyên bố tẩy chay bầu cử, và lại tách ra, do họ cho bầu cử không công bằng. Lúc đó Việt Minh mang chính sách tả khuynh.[cần dẫn nguồn]

Ở miền Bắc, khi chính phủ quyết định cho quân Pháp ra Bắc, một số thành viên Việt Quốc, Việt Cách rời bỏ chính phủ để phản đối. Sau vụ án Ôn Như Hầu, coi như Việt Minh loại bỏ những "người đối lập", còn một số thành viên Việt Quốc, Việt Cách hợp tác với Việt Minh. Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập, thu hút trí thức ngả về phe tả, tranh thủ Đảng Xã hội Pháp và cánh tả châu Âu, thực chất có lợi cho Việt Minh.[cần dẫn nguồn]

Ở miền Nam, hình thành chính quyền liên hiệp một số nơi gồm cả Việt Minh và đồng minh và các nhóm khác bao gồm Trotskyist (nhóm trước có thời gian hợp tác với Đảng Cộng sản nhưng sau đó bị Đảng Cộng sản cho là theo phát xít do phản đối Mặt trận bình dân Pháp), Đảng Dân chủ Xã hội Việt Nam, Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng, Việt Quốc, Đại Việt...[cần dẫn nguồn]

Sau này quan hệ giữa Việt Minh với các đảng phái khác (trừ đảng Dân chủ, Xã hội và một số ít người từ các đảng khác) xấu đi. Việt Minh coi tất cả các đảng phái còn lại là phản động, Việt gian còn các đảng phái này liên minh thành lập Quốc gia Việt Nam hay còn gọi là giải pháp Bảo Đại chống lại Việt Minh. Mỹ ủng hộ giải pháp Bảo Đại, nhưng sau Pháp mới đồng ý. Chính phủ Quốc gia Việt Nam tập hợp nhiều phái chống Cộng sản, lỏng lẻo, và về hình thức giống chính phủ Trần Trọng Kim trước đây, không có cả Quốc hội lẫn Hiến pháp...[cần dẫn nguồn]

Đạo Cao Đài vẫn ủng hộ cho Cường Để, hay Bảo Đại, trừ một số gia nhập hay liên minh với Việt Minh, có thời gian phối hợp với Pháp, một số sau vào Mặt trận giải phóng. Phật giáo Hòa Hảo truyền thống thân Pháp, và một thời gian Nhật, nhưng chống phát xít kể cả phát xít Pháp, sau thời gian ngắn chống Pháp lại liên kết lỏng lẻo với Pháp, số rất ít theo Việt Minh, cho đến thời Mặt trận giải phóng đa phần trung lập. Vùng Tây Nguyên (tương tự ở Tây Bắc, Mường, Nùng), Pháp tuyên bố cho tự trị nên đa số ngả theo Pháp, Việt Minh sau phải trở lại tuyên truyền, ở Tây Nguyên có lực lượng ủng hộ khá đông.[cần dẫn nguồn]

Về lực lượng vũ trang, ban đầu Việt Minh không nắm được toàn bộ, nhưng cơ bản ngoài Bắc và Trung nắm quân đội quốc gia. Các tổ chức khác có tổ chức vũ trang hay bán vũ trang riêng, có khi sáp nhập hoặc không.[cần dẫn nguồn]

Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam gọi tắt là Hội Liên Việt thành lập ngày 29/5/1946 trên cơ sở đoàn kết các đảng chống Pháp, bao gồm Việt Minh, các tổ chức "đối lập" với Việt Minh, và Đảng Xã hội... chống mưu đồ Pháp thu hút lực lượng về họ với chiêu bài tự trị. Nhưng sau các phe đối lập với Việt Minh rời bỏ hội, và chỉ còn Việt Minh và các đảng đồng minh, cùng các tổ chức cá nhân có lập trường chống Pháp khác thân với Việt Minh.[cần dẫn nguồn]

Mặt trận Liên Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1951 lúc này Đảng Cộng sản hoạt động công khai thì Việt Minh sáp nhập với Hội Liên Việt thành lập Mặt trận Liên Việt.[cần dẫn nguồn]

Khi Đảng đã mạnh, và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, thì lúc đó Đảng ra hoạt động công khai, và ra tuyên bố mang màu sắc Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Cộng sản. Vào thời gian trước về công khai Việt Minh chỉ xem mình là tổ chức dân tộc chủ nghĩa (nhưng các chủ trương về Chủ nghĩa Xã hội vẫn được học tập trong nội bộ hay tuyên truyền trong quần chúng theo cách mạng).[cần dẫn nguồn]

Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1955, Đảng Lao động Việt Nam lập Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam từ Mặt trận Liên Việt, ban đầu xem là Mặt trận chung, nhưng sau khẳng định tổ chức của riêng miền bắc.[cần dẫn nguồn]

Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1968 khi Quân giải phóng (bao gồm cả quân tại chỗ và ở ngoài bắc vào theo định nghĩa của phía Mặt trận) Tổng tiến công Mậu thân thì Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam được Đảng (ngầm) thành lập, mục đích chính tạo một lực lượng đệm, giữa chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Mặt trận, thu hút chủ yếu dân thành thị hay tầng lớp trên tham gia, nhưng ủng hộ cho phía Mặt trận.[cần dẫn nguồn]

Nếu Liên minh giành được thắng lợi sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do ở Miền Nam, mà Liên minh này sẽ liên kết với Mặt trận để tạo đa số. Nhưng sau đó tình hình không thuận lợi, do đó Liên minh với Mặt trận thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời để tạo một địa vị pháp lý cao hơn cho đàm phán tại Paris. Lực lượng này thu hút nhiều hơn ủng hộ những người hay lo ngại Cộng sản ở Miền Nam chi phối Mặt trận, nhưng lại có lập trường chống Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.[cần dẫn nguồn]

Sau chiến tranh Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, và Mặt trận dân tộc giải phóng hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tạo Mặt trận Thống nhất năm 1977.[cần dẫn nguồn]

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung, các chủ trương thành lập các Mặt trận và sự lãnh đạo của Đảng chỉ được công khai với thế giới sau này, và tùy theo thực tế, có khi đảng không hoàn toàn chi phối được tất cả các chính sách các Mặt trận do có nhiều tổ chức tham gia ngoại trừ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau này. Do đó tính chất của các Mặt trận kể trên không hoàn toàn như lịch sử công khai ở Việt Nam hiện nay nêu và như các lực lượng chống đối Đảng Cộng sản đánh giá do không có đủ tư liệu.

Nếu so với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thì Việt Minh trước đây cũng là một liên minh gồm nhiều đảng phái, tổ chức và cá nhân bao gồm cả Đảng Cộng sản (nòng cốt). Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương giải tán và Việt Minh trở thành bình phong của người cộng sản trong một hai năm đầu, chủ yếu nhất giai đoạn trước kháng chiến toàn quốc, còn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam luôn là một liên minh trong đó những người cộng sản làm nòng cốt.

Theo đánh giá của William Colby, cựu giám đốc CIA và người từng chỉ huy Chiến dịch Phượng Hoàng, để làm mờ đi lý lịch cộng sản (và thu hút nhiều người tham gia hơn), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được coi là một phong trào của riêng người Nam Việt Nam sẵn sàng đón nhận mọi đảng phái và những nhân vật miền Nam mà tên tuổi được tung ra như là những người lãnh đạo tổ chức thì trên thực tế họ không có mấy quyền hành kiểm soát mặt trận cũng như những người trong mặt trận Việt Minh thời Chiến tranh Đông Dương. Quyền chi phối Mặt trận chủ yếu thuộc về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa [20].

Theo định nghĩa hiện nay thì các Mặt trận do đảng lãnh đạo hay chủ trương thành lập (ngầm hay công khai) đều là các tổ chức Mặt trận Dân tộc Thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, và trong khối dân vận. Như vậy về thực tế các tổ chức này làm dân vận cho đảng, đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của đảng, cho dù thực tế về mặt quá khứ công khai như Việt Minh được xem như là một "đảng": 1945-1951, hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng là một liên minh chính trị "độc lập" với Đảng Lao động Việt Nam.

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ TÊN GỌI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trích: "gây ra chiến tranh đặc biệt, rồi chiến tranh cục bộ và sau cùng chúng đưa chiến tranh lan rộng ra toàn quốc làm trở ngại cho sự hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy trong cao trào đồng khởi ở miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở miền Nam mới ra đời và trong dịp tổng tấn công Tết Mậu thân năm 1968 có thêm Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam" (Bài phát biểu của ông Xuân Thuỷ, Uỷ viên Ban Trù bị Đại hội hợp nhất 3 tổ chức Mặt trận - Đại hội 1 (tháng 2 năm 1977).
  2. ^ MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM Việt Nam VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, TRẦN TRỌNG TÂN, Tạp chí Mặt Trận, số 86, 12/2010
  3. ^ “Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954–1960”. The Pentagon Papers. 1971. tr. 242–314. 
  4. ^ Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960, Boston, Beacon Press, 1971
  5. ^ William Duiker, Ho Chi Minh, Hyperion, 2000, tr. 525
  6. ^ Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ và đường lối của Đảng trong giai đoạn mới, ngày 10-9-1960, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tháng 10/2002
  7. ^ Trần Bạch Đằng chủ biên (1993) Chung một bóng cờ (Về MTDTGPMNVN), NXB CTQG, Hà Nội tr.958-962
  8. ^ Nguyễn Khắc Viện, Nam Việt Nam: từ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đến Chính phủ Cách mạng Lâm thời, trang 239-243, Hà Nội, 1970
  9. ^ a ă Trond Gilberg: Coalition Strategies of Marxist Parties. Duke University Press 1989, p.187
  10. ^ Douglas Pike: War, Peace, and the Viet Cong, The MIT Press; First Edition edition (April 15, 1969)
  11. ^ Báo Tây Ninh 66 năm xây dựng và trưởng thành, Báo Tây Ninh
  12. ^ Victory in Vietnam. The official history of the people's army of Vietnam 2002, University Press of Kansas Merle Pribbenow, trang 18-211
  13. ^ Văn kiện Đảng về Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, tập II (1945-1977), NXB Sự thật, Hà Nội 1970
  14. ^ Nguyễn Hữu Thọ, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam - mấy bài học lớn, Việt Nam trên con đường lớn bản hùng ca thế kỷ XX, NXB Lao động 2005
  15. ^ Hồ Sĩ Thành- Trần Thị Nhung, Bộ tư lệnh Miền, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh
  16. ^ Công tác dân tộc của Đảng qua các thời kỳ cách mạng, Dân tộc, Ủy ban Dân tộc
  17. ^ Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 4 NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1966
  18. ^ Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 5, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1978, tr.201
  19. ^ Douglas Pike War, Peace, and the Viet Cong-The MIT Press; First Edition edition (April 15, 1969)
  20. ^ William Colby, Một chiến thắng bị bỏ lỡ, Nxb Công an Nhân dân, trang 110

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]