Gia Định

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Gia Định (chữ Hán: 嘉定) là một địa danh cũ ở miền Nam Việt Nam. Trải bao biến cố, ngày nay, địa danh ấy chỉ còn dùng để chỉ khu vực trung tâm quận Bình Thạnh của Thành phố Hồ Chí Minh.

Lịch sử (sơ lược)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân Lạp-Phù Nam, vào năm 600.

Đất Gia Định xưa thuộc nước Phù Nam (tồn tại khoảng đầu thế kỷ 1 đến khoảng nửa thế kỷ 7), sau đó thuộc vương quốc Chân Lạp (nay là Campuchia). Tuy nhiên, "thuộc" một cách lỏng lẻo: "các dân tộc vẫn sống tự trị, và mấy sóc Khrmer lẻ tẻ chưa hợp thành đơn vị hành chánh thuộc triều đình La Bích (Chân Lạp). Trong khi đó triều đình ấy phải tập trung lực lượng ở phía nam Biển Hồ (sau khi bỏ Ăngco ở phía bắc) để đối đầu với Xiêm La (nay là Thái Lan) đang tiếp tục lấn đất Chân Lạp ở phía tây. Đất Gia Định vẫn là đất tự do của các dân tộc và hầu như vô chủ, là đất hoang nhàn cả về kinh tế lẫn chủ quyền từ xưa"[1].

Theo sử liệu, lưu dân Việt đã đến đây khai hoang và làm ăn sinh sống vào đầu thế kỷ 17, nhờ có cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II vào năm 1620. Vì mưu sinh, có thể lưu dân Việt đã có mặt ở đây trước khi có cuộc hôn nhân ấy. Song, chính nhờ mối quan hệ đó, mà Đại Việt (nay là Việt Nam) và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống, tạo điều kiện cho lưu dân Việt ngày càng đông đảo hơn ở khu vực Đồng Nai, Sài Gòn...[2].

Và căn cứ đoạn chép trong Gia Định thành thông chí, thì lúc bấy giờ lưu dân Việt "ở lẫn với người Cao Mên" (tức Chân Lạp), trích:

"Năm Mậu Tuất (1658)...vua (chúa Nguyễn Phúc Tần) sai Phó tướng Yến Vũ hầu (Nguyễn Phước Yến)...đem 2000 quân, đi tuần đến thành Mỗi Xoài nước Cao Mên, đánh phá được, bắt vua nước ấy là Nặc Ông Chân, đóng gông đem đến hành tại ở dinh Quảng Bình. Vua dụ tha tội...Khi ấy địa đầu trấn Gia Định là hai xứ Mỗi Xoài, Đồng Nai đã có dân lưu tán của nước ta cùng ở lẫn với người Cao Mên, để khai khẩn đất"..[3]

Trong công cuộc Nam tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kỷ Mùi (1679), vì không theo nhà Thanh, các tướng nhà MinhDương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình đã đem hơn 3.000 quân cùng 50 chiếc thuyền từ Quảng Đông (Trung Quốc) vào hai cửa biển là Tư Dung (cửa Tư Hiền) và Đà Nẵng xin qui phụ. Nghe theo lời bàn của triều thần, chúa Nguyễn Phúc Tần bèn cho họ vào ở xứ Đồng Nai (nhóm Trần Thượng Xuyên) và xứ Mỹ Tho (nhóm Dương Ngạn Địch). Từ đó, họ vỡ đất phá hoang, cày ruộng, dựng nhà và phố chợ, buôn bán giao thông với người Trung Quốc, Tây Dương, Nhật Bản, Đồ Bàn...khiến phong tục văn minh dần dần phổ biến...[4].

Đến đầu năm Mậu Dần (1698), nhận lệnh của chúa Nguyễn Phúc Chu, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lược nước Chân Lạp. Sau đó, ông "lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, đặt xứ Đồng Nai (Lộc Dã) làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên (vùng Biên Hòa); xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (vùng Gia Định). Các nơi đều đặt quan lưu giữ. Mở đất ngàn dặm, được trên 4 vạn hộ. Chiêu mộ dân xiêu tán từ Bố Chánh trở vào Nam cho đến ở, thành lập xã thôn, khai khẩn ruộng đồng, làm sổ đinh, sổ điền. Lại lấy những lái buôn người Hoa sống ở Trấn Biên lập nên xã Thanh Hà, những người ở Phiên Trấn lập nên xã Minh Hương"...[5].

Vậy, kể từ năm đó (1698), dinh Phiên Trấn gồm một phủ (Gia Định) và một huyện (Tân Bình). Về mặt hành chính, chúa Nguyễn Phúc Chu đặt chức Giám quân, Cai bộ và Ký lục để cai trị.

Dần dần, đến đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, vùng đất phía Nam nới rộng thêm ra, theo chính sách "tàm thực" (lối xâm lấn dần dần như tằm ăn lá dâu) của tướng Nguyễn Cư Trinh. Sau khi con đường Nam tiến thành công, toàn lãnh thổ miền Nam được phân ra thành ba dinh lớn là: Trấn Biên dinh (trấn lỵ ở Biên Hòa), Phiên Trấn dinh (trấn lỵ ở Gia Định) và Long Hồ dinh (trấn lỵ ở Vĩnh Long).

Dưới thời Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long)[sửa | sửa mã nguồn]

Bản Đồ Xứ Gia Định, Việt Nam khoảng cuối thế kỷ 18. Vẽ lại một phần từ lược đồ của tác giả Tạ Chí Đại Trường (Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam 1771- 1802, Sài Gòn: Nhà xuất bản Văn Sử Học, tr. 95
Vị trí thành Bát Quái so với sông Sài Gòn năm 1795 do Le Brun vẽ

Năm Bính Thân (1776), Gia Định bị quân Tây Sơn vào chiếm cứ [6]. Sau khi đánh lấy lại, tháng 11 (âm lịch) năm Kỷ Hợi (1779), chúa Nguyễn Phúc Ánh duyệt xem bản đồ, chia toàn miền Nam lúc bấy giờ ra thành một trấn (Hà Tiên) và 4 dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Trường Đồn [nâng lên từ đạo], Long Hồ) [7]. Tất cả các dinh trấn này đều chịu sự cai quản của phủ Gia Định [8]. Khi ấy, dinh Phiên Trấn có một huyện là Tân Bình, gồm 4 tổng là: Bình Dương, Tân Long, Thuận An và Phước Lộc.

Năm 1790, chúa Nguyễn Phúc Ánh sai đắp thành Bát Quái, đồng thời chọn thành phố Sài Gòn (thuộc tổng Bình Dương, huyện Tân Bình) [9] làm nơi đóng đô của mình, và gọi là Gia Định kinh. Địa vị kinh đô này chỉ tồn tại được trên 10 năm (1790 - 1801), vì sau khi lấy được Phú Xuân (1801), chúa Nguyễn liền dời đô ra đấy [10].

Năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long (tức chúa Nguyễn Phúc Ánh) cho đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định, đồng thời cho các dinh cũng đổi thành các trấn, gồm: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên. Tất cả các trấn này nằm dưới sự cai quản của trấn Gia Định. Có thể coi đây là thời kỳ "Gia Định ngũ trấn"[8].

Đến năm Mậu Thìn (1808), nhà vua này định lại bờ cõi, phân địa giới toàn lãnh thổ Việt Nam ra làm 4 dinh gồm 25 trấn, đồng thời lại chia làm hai miền Bắc Nam, gọi là Bắc ThànhGia Định Thành để tiện việc cai quản[11]. Lúc bấy giờ, trấn Gia Định được đổi thành Gia Định Thành, và cho cai quản 5 trấn, là: Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và An Giang[12].

Theo Nguyễn Đình Đầu, sở dĩ trấn Gia Định được đổi tên là "Gia Định Thành" là vì trước đây Gia Định và Phiên An cùng gọi là "trấn", rất dễ lẫn nhau, và dễ nhầm là ngang bậc nhau. Và cũng theo nhà nghiên cứu này, mặc dù danh xưng thay đổi, song Sài Gòn (thuộc trấn Phiên An) vẫn luôn là lỵ sở của các thời kỳ: phủ Gia Định, trấn Gia Định và Gia Định Thành[8].

Về mặt hành chính của Gia Định Thành, đứng đầu là Tổng trấn, có hai phụ tá là Hiệp Tổng trấn và Phó Tổng trấn. Các thuộc viên khác, gồm có Trấn thủ, Cai bộ và Ký lục. Đây chính là các quan chức đại diện cho triều đình để thống quản các trấn ở phía Nam [13].

Tổng trấn đầu tiên của Gia Định Thành là Nguyễn Văn Nhơn (hay Nhân), và vị Tổng trấn cuối cùng là Lê Văn Duyệt. Theo thống kê năm 1819, thì 5 trấn của Gia Định Thành có khoảng 700.000 dân, tiêng trấn Phiên An có khoảng 180.000 dân [14].

Dưới thời Minh Mạng - Thiệu Trị[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Kỳ lục tỉnh giai đoạn (1832-1862)

Năm Minh Mạng thứ 13 (Nhâm Thìn, 1832), sau khi Lê Văn Duyệt từ trần, nhà vua bãi bỏ chức Tổng trấn, chia miền Nam Việt Nam ra làm 6 tỉnh là: Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An GiangHà Tiên (gọi chung là Nam Kỳ lục tỉnh), và không đặt một viên quan nào cai trị chung cho cả lục tỉnh nữa. Đơn vị hành chính Gia Định Thành kể như bị xóa sổ từ năm ấy (1832).

Lúc bấy giờ, tỉnh Phiên An gồm hai phủ là phủ Tân Bình (4 tổng lệ thuộc là Bình Dương, Tân Long, Thuận An và Phước Lộc đều thăng làm huyện) và phủ Tân An (lấy hai huyện Thuận An và Phước Lộc lập thành)[15].

Tháng 5 (âm lịch) năm Quý Tỵ (1833), Lê Văn Khôi khởi binh chiếm thành Phiên An. Tháng 8 (âm lịch) năm đó, vua Minh Mạng cho đổi tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định[16]. Sau, nhà vua lại đặt thêm phủ Tây Ninh gồm hai huyện là Tân Ninh và Quang Hóa[17].

Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), lại đặt thêm phủ Hòa Thịnh (gồm hai huyện Tân Hòa và Tân Thịnh), và phủ Tân Bình lại đặt thêm huyện Bình Long[17].

Dưới thời Tự Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tự Đức thứ 5 (1852), bỏ bớt phủ Hòa Thịnh. Cử Tri huyện Tân Hòa kiêm công việc của huyện Tân Thịnh, đồng thời lại cho thuộc vào phủ Tân An. Lại cho Tri phủ Tân Bình kiêm công việc ở huyện Bình Long [17].

Sau trận Đại đồn Chí Hòa (tháng 2 năm 1861), 3 tỉnh miền Đông (Gia Định, Biên Hòa, Định Tường) mất vào tay thực dân Pháp (theo Hòa ước Nhâm Tuất, 1862). Lần hồi cả 6 tỉnh Nam Kỳ đều bị họ chiếm hết, rồi trở thành thuộc địa (theo Hòa ước Giáp Tuất, 1874).

Dưới thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Một đường phố Sài Gòn thời thuộc Pháp (1915)
  • Nói chung về Nam Kỳ lục tỉnh:

Tính đến năm 1944, Nam Kỳ lục tỉnh thời Nguyễn đã được thực dân Pháp chia thành 22 tỉnh như sau:

-Khu vực Sài Gòn cũ gồm các tỉnh: Gia Định, Tân Bình[18]Chợ Lớn.
-Khu vực miền Đông gồm các tỉnh: Biên Hòa, Thủ Dầu Một (Bình Dương ngày nay), Tây Ninh, Bà RịaVũng Tàu.
-Khu vực miền Tây gồm các tỉnh: Bến Tre, Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, Trà Vinh, Long Xuyên, Châu Đốc, Sóc Trăng, Bạc LiêuHà Tiên.

Về việc hành chính, sau khi chiếm xong Gia Định, Đề đốc Charner cho thiết lập chế độ cai trị tạm thời. Nhiều sĩ quan được lãnh trách nhiệm cai trị, gọi là "Quản đốc bổn quốc sự vụ", vì lúc ấy các quan Nam triều đã bỏ đi hết...Đến thời Đô đốc Bonard mới giao phó cho một số viên chức người Việt. Tuy nhiên, kể từ năm 1859, cấp lãnh đạo tối cao lần lượt vẫn là các sĩ quan Hải quân cao cấp của Pháp, như Rigault de Genouilly, Page, Charner, Bonard, De la Grandière...

Năm 1864, Đô đốc De la Grandière thay đổi chế độ cai trị. Ba tỉnh miền Đông bị chia làm 7 khu vực: Bà Rịa, Biên Hòa, Cần Giuộc, Mỹ Tho, Sài Gòn, Tân An, Gò CôngTây Ninh. Đây vẫn còn là tổ chức quân sự. Để chuyển dần qua chế độ dân sự, ngày 9 tháng 11 năm đó (1864), De la Gradière lập một tòa Thượng thư cai quản các quan Tham biện, sĩ quan và nhân viên công lực, v.v...Và trong năm 1865, riêng vùng Gia Định có mấy sở Tham biện được đặt ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Giuộc, Tây Ninh và Tân An.

Năm 1867, thực dân Pháp chiếm trọn 6 tỉnh Nam Kỳ. Sau đó, họ chia Nam kỳ ra làm 6 tỉnh: Sài Gòn, Mỹ Tho, Biên Hòa, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên; đồng thời đặt ra 24 sở Tham biện để cai quản số tỉnh ấy. Riêng ở Sài Gòn có 7 tham biện...

Tuy vậy, đến ngày 13 tháng 5 năm 1879, do lệnh của Tổng thống Pháp, bên quan văn mới được nắm quyền cai trị tối cao. Vị quan văn Pháp đầu tiên được cử làm Thống đốc Nam Kỳ là Le Myre de Vilers. Từ đấy, việc quân sự và dân sự mới được phân biệt hẳn hoi…

  • Nói riêng về tỉnh Gia Định thời Nguyễn:

Đại để, sau khi thực dân Pháp chiếm lấy tỉnh Gia Định thời Nguyễn, lần lượt họ đã chia cắt ra làm 6 tỉnh là: Gia Định, Chợ Lớn (lập năm 1876), Tân An (lập năm 1854), Tây Ninh (lập năm 1900), Gò Công (lập năm 1900) và Tân Bình (lập năm 1944).

Năm 1956, tỉnh Chợ Lớn sáp nhập với tỉnh Tân An thành tỉnh Long An, tỉnh Gò Công sáp nhập với tỉnh Mỹ Tho thành tỉnh Định Tường...[19]

Dưới thời Việt Nam Cộng hòa và sau đó...[sửa | sửa mã nguồn]

Phân chia hành chánh tỉnh Gia Định 1973. Đô thành Sài Gòn nằm giữa nhưng không phụ thuộc tỉnh Gia Định

Năm 1956, dưới thời Việt Nam Cộng hòa, Gia Định là một trong 22 tỉnh của Nam phần (tức Nam Kỳ lục tỉnh), không kể Đô thành Sài Gòn. Năm 1957, tỉnh Gia Định gồm có 6 quận, 10 tổng và 61 xã:

  • Quận Gò Vấp có 1 tổng Bình Trị Thượng; quận lỵ: Hạnh Thông Xã.
  • Quận Tân Bình có 1 tổng Dương Hòa Thượng; quận lỵ: xã Phú Nhuận.
  • Quận Hóc Môn có 2 tổng: Bình Thạnh Trung, Long Bình; quận lỵ: Thới Tam Thôn.
  • Quận Thủ Đức có 2 tổng: An Bình, An Điền; quận lỵ: Linh Đông Xã.
  • Quận Nhà Bè có 1 tổng Bình Trị Hạ; quận lỵ: xã Phú Xuân Hội.
  • Quận Bình Chánh có 3 tổng: Long Hưng Thượng, Long Hưng Trung, Tân Phong Hạ; quận lỵ: xã Bình Chánh.

Năm 1970, Gia Định chia thành 8 quận, ngoài các quận trên còn có thêm:

Năm 1974, tỉnh Gia Định có 8 quận, 74 xã, 351 ấp, với 1.422.653 dân.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, tháng 5 năm đó, tỉnh Gia Định (ngoại trừ 2 quận: Cần Giờ và Quảng Xuyên) được sáp nhập với Đô thành Sài Gòn, cộng thêm một phần các tỉnh Long An, Bình Dương, Hậu Nghĩa để trở thành thành phố Sài Gòn - Gia Định.

Đến ngày 2 tháng 7 năm 1976, thành phố Sài Gòn - Gia Định được chính thức đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh [20]

Ngày nay, địa danh Gia Định chỉ còn dùng để chỉ khu vực trung tâm quận Bình Thạnh của Thành phố Hồ Chí Minh.

Phân chia hành chánh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1910[sửa | sửa mã nguồn]

1. Tổng An Bình gồm 8 làng: An Phú, Bình Trưng, Bình Lợi, Bình Thạnh, Đông Phú, Phú Thọ, Mỹ Thủy, Tân Lập;

2. Tổng An Điền gồm 9 làng: Linh Chiểu Đông, Linh Chiểu Tây, Linh Chiểu Trung, Bình Qưới Đông, Bình Thới, Bình Thọ, Trường Thọ, Xuân Trường, Xuân Vinh;

3. Tổng An Thành gồm 9 làng: An Thạnh, Hưng Thạnh, Long Tân, Phước Khánh, Phước Trường, Tân Điền, Trường Cửu, Trường Lộc, Tuy Thạnh;

4. Tổng An Thít gồm 5 làng: An Thạnh, Bình Khánh, Khánh Độ, Sài Tân, Vạng Phước;

5. Tổng An Thổ gồm 10 làng: Bình Chánh, Bình Chiểu, Bình Đức, Bình Đường, Bình Phú, Bình Phước, Bình Thủy, Bình Triệu, Đông An, Dĩ An;

6. Tổng An Thủy gồm 14 làng: An Nhơn, Bình Thắng, Bình Thung, Đông Minh, Đông Tác, Đông An, Mỹ Hòa, Ngãi Hòa, Phong Phú, Tân Long, Tăng Phú, Tân Nhơn, Tân Ninh, Tân Qưới;

7. Tổng Bình Thạnh Hạ gồm 16 làng: Mỹ Hòa, Tân Đông Thượng, Tân Đông Trung, Tân Hội, Tân Hưng, Tân Thới Nhứt, Tân Thới Thượng, Thới An, Thới Hòa, Thuận Kiều, Trung Chánh, Trung Chánh Tây, Tân Hưng, Xuân Hòa, Xuân Thới Tây, Vinh Lộc;

8. Tổng Bình Thạnh Trung gồm 17 làng: An Hòa, Bình Lý, Bình Lý Đông, Bình Nhan, Bình Xuân, Hội Thạnh, Mỹ Thạnh, Phú Lợi, Tân Đông, Tân Mỹ Đông, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây, Thạnh Hòa, Thạnh Phú, Thạnh Yên, Thới Thạnh, Thới Thuận;

9. Tổng Bình Trị Hạ gồm 9 làng: Phú Hội, Phú Mỹ Tây, Phước Hải, Phước Long Đông, Phước Thành, Phước Thới, Phú Xuân Đông, Tân Qui Đông, Tân Thuận Đông;

10. Tổng Bình Trị Thượng gồm 15 làng: An Hội, An Lộc, An Lộc Đông, An Nhơn, An Phước, An Thạnh Trung, An Xuân, Bình Hòa, Bình Lợi Trung, Bình Qưới Tây, Hanh Phú, Hanh Thông, Hanh Thông Tây, Qưới An, Thạnh Đa;

11. Tổng Bình Trị Trung gồm 5 làng: An Lợi, An Lợi Đông, Bình Khánh, Phú An, Phú Mỹ;

12. Tổng Cần Giờ gồm 6 làng: Cần Thạnh, Đông Hòa, Long Thạnh, Lý Nhơn, Tân Thạnh, Thạnh Thới;

13. Tổng Dương Hòa Hạ gồm 12 làng: Đức Hưng, Long Kiểng, Long Phước, Long Thạnh Tây, Long Thới, Mỹ Đức, Nhơn Mỹ, Nhơn Ngãi, Phong Lộc, Phú Lễ, Phước Thạnh, Thới Hiệp;

14. Tổng Dương Hòa Thượng gồm 13 làng: Bình Hưng, Bình Hưng Đông, Bình Thới, Hòa Hưng, Phú Nhuận, Phú Thọ, Tân Hòa, Tân Hòa Tây, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Nhứt, Tân Thới, Tân Trụ, Thạnh Hòa;

15. Tổng Long Tuy Hạ gồm 11 làng: Mỹ Khánh, Phước An, Phước Mỹ, Tân Thông, Tân Thông Đông, Tân Thông Tây, Tân Thông Trung, Thái Bình Hạ, Thái Bình Thượng, Trung Lập, Vĩnh An Tây;

16. Tổng Long Tuy Thượng gồm 14 làng: Phước Ninh, Tân Phú Trung, Tân Thới Đông, Tân Thới Nhì, Tân Thới Tam, Tân Thới Tây, Tân Thới Trung, Tân Thới Tứ, Thới Sơn, Thới Tam Đông, Vĩnh Cư, Vĩnh Phước, Xuân Thới, Xuân Thới Đông;

17. Tổng Long Tuy Trung gồm 6 làng: An Nhơn Tây, Mỹ Hưng, Nhuận Đức, Phú Đức, Phú Hòa Đông, Phú Thạnh;

18. Tổng Long Vĩnh Hạ gồm 11 làng: Chí Thạnh, Ích Thạnh, Long Đại, Long Hậu, Long Sơn, Long Tuy, Mỹ Thạnh, Phước Hậu, Phước Thiện, Phước Thới, Vĩnh Thuận.

Năm 1940[sửa | sửa mã nguồn]

1. Quận THỦ ĐỨC có 19 làng:

  • Tổng An Bình có 05 làng: Bình Trưng (sáp nhập Tân Lập vào Bình Trung), Thạnh Mỹ Lợi (hợp nhất Hưng Thạnh, Bình Thạnh, Mỹ Thủy và Bình Lợi), Phú Hữu (hợp nhất Tân Điền, An Thạnh và Tuy Thạnh), An Phú (sáp nhập Đông Phú vào An Phú) và An Khánh Xã (hợp nhất An Lợi Xã, An Lợi Đông và Bình Khánh);
  • Tổng An Điền có 04 làng: Linh Xuân Thôn (hợp nhất Linh Chiểu Trung, Xuân Vinh xà Xuân Trường), Phước Long Xã (hợp nhất Phú Thọ và Bình Thái) và Linh Đông Xã (hợp nhất Linh Chiểu Đông, Linh Chiẻu Tây, Trường Thọ, Bình Thọ và Bình Qưới Đông);
  • Tổng An Thổ có 03 làng: An Bình Xã (hợp nhất Dĩ An và Bình Đường), Hiệp Bình Xã (hợp nhất Bình Thủy, Bình Chánh, Bình Phước và Bình Triệu) và Tam Bình Xã (hợp nhất Bình Đức, Bình Phú và Bình Chiểu);
  • Tổng An Thủy có 04 làng: Bình An, Đông Hòa Xã (hợp nhất Đông Minh và Mỹ Hòa), Tăng Nhơn Phú (hợp nhất Tăng Phú, Tân Nhơn và Phong Phú) và Tân Đông Hiệp (hợp nhất An Nhơn, Tân Ninh, Tân Long, Đông An và Đông Tác);
  • Tổng Long Vĩnh Hạ có 04 làng: Long Thạnh Mỹ (hợp nhất Long Hậu, Chí Thạnh, Ít Thạnh và Mỹ Thạnh), Long Trường (hợp nhất Long Tân, Phước Trường và Trường Lộc), Long Phước Thôn (hợp nhất Trường Cửu, Long Đại, Phước Thới, Phước Khánh và Phước Hậu) và Long Bình (hợp nhất Long Sơn, Long Tuy, Vĩnh Thuận và Phước Thiện);

2. Quận NHÀ BÈ có 19 làng:

  • Tổng Bình Trị Hạ có 05 làng: Phú Mỹ Tây, Phú Xuân Hội (hợp nhất Phú Xuân Đông, Phú Hội và Phước Hải), Phước Long Đông (sáp nhập Phước Thành và Phước Thới vào Phước Long Đông), Tân Quy Đông và Tân Thuận Đông;
  • Tổng Dương Hòa Hạ có 06 làng: Long Kiểng (sáp nhập Long Thạnh Tây vào Long Kiểng), Phước Lộc Thôn (hợp nhất Phước Thạnh và Phong Lộc), Nhơn Đức (hợp nhất Nhơn Ngãi và Mỹ Đức), Long Đức (hợp nhất Long Thới và Đức Hưng), Hiệp Phước (hợp nhất Thới Hiệp và Long Phước) và Phú Lễ;
  • Tổng An Thít có 03 làng: Bình Khánh, An Thới Đông và Tam Thôn Hiệp (hợp nhất An Thạnh, Khánh Độ, Sài Tân và Vạng Phước);
  • Tổng Cần Giờ có 05 làng: Lý Nhơn, Tân Thạnh, Cần Thạnh, Đông Hòa và Long Thạnh;

3. Quận HÓC MÔN có 28 làng:

  • Tổng Bình Thạnh Hạ có 07 làng: Xuân Thới Thượng, Tân Hòa, Mỹ Hòa, Trưng Mỹ Tây, Tân Thới Nhứt, Đông Hưng Thuận và Tân Thới Hiệp;
  • Tổng Bình Thạnh Trung có 07 làng: An Phú, Tân Hòa Thôn, Tân Thạnh Đông, Mỹ Bình, Bình Tân, Nhị Bình và Đông Thạnh;
  • Tổng Long Tuy Thượng có 06 làng: Phước Vĩnh Ninh, Tân Phú Trung, Tân Hiệp, Tân Thới Nhì, Thới Hiệp và Thới Tam Thôn;
  • Tổng Long Tuy Trung có 04 làng: An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông và Phú Mỹ Hưng;
  • Tổng Long Tuy Hạ có 04 làng: Tân An Hội, Phước Hiệp, Thái Mỹ và Trung Lập;

4. Quận GÒ VẤP có 14 làng:

  • Tổng Bình Trị Thượng có 08 làng: An Nhơn Xã, An Phú Đông (hợp nhất An Lộc Đông và Hanh Phú), Bình Hòa Xã, Thạnh Lộc Thôn (hợp nhất An Phước, An Thạnh Trung và An Lộc), Hanh Thông Xã, Thạnh Mỹ Tây (hợp nhất Thạnh Đa, Bình Qưới Tây, Phú Mỹ và Phú An), Thông Tây Hội (hợp nhất Hanh Thông Tây và An Hội) và Quới Xuân (hợp nhất Qưới An và An Xuân);
  • Tổng Dương Hòa Thượng có 06 làng: Bình Hưng Hòa (hợp nhất Bình Hưng, Bình Hưng Đông và Thới Hòa), Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa (hợp nhất Phú Thọ, Tân Hòa và Tân Hòa Tây), Tân Sơn Hòa (hợp nhất Tân Sơn Nhứt và Thạnh Hòa), Tân Sơn Nhì (sáp nhập Tân Thới và Tân Trụ vào Tân Sơn Nhì) và Vĩnh Lộc.

Năm 1955[sửa | sửa mã nguồn]

1. Quận THỦ ĐỨC có 19 làng:

  • Tổng An Bình có 05 làng: Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Phú Hữu, An Phú và An Khánh Xã;
  • Tổng An Điền có 04 làng: Linh Xuân Thôn, Phước Long Xã, Linh Đông Xã và Tăng Nhơn Phú;
  • Tổng An Thổ có 03 làng: An Bình Xã, Hiệp Bình Xã và Tam Bình Xã;
  • Tổng An Thủy có 03 làng: Bình An, Đông Hòa Xã và Tân Đông Hiệp;
  • Tổng Long Vĩnh Hạ có 04 làng: Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Long Phước Thôn và Long Bình;

2. Quận NHÀ BÈ có 11 làng:

  • Tổng Bình Trị Hạ có 05 làng: Phú Mỹ Tây, Phú Xuân Hội, Phước Long Đông, Tân Quy Đông và Tân Thuận Đông;
  • Tổng Dương Hòa Hạ có 06 làng: Long Kiểng, Phước Lộc Thôn, Nhơn Đức, Long Đức, Hiệp Phước và Phú Lễ;

3. Quận HÓC MÔN có 27 làng:

  • Tổng Bình Thạnh Trung có 07 làng: Đông Hưng Thuận, Tân Đông Thượng, Đông Thạnh, Nhị Bình, Tân Thới Hiệp, Thới Tam Thôn và Trung Mỹ Tây;
  • Tổng Long Bình có 06 làng: Tân Hiệp, Tân Thới Nhứt, Tân Thới Nhì, Tân Thới Trung, Xuân Thới Sơn và Xuân Thới Thượng;
  • Tổng Long Tuy Thượng có 06 làng: Phước Vĩnh Ninh, Tân Phú Trung, Bình Mỹ, Tân Hòa, Tân Thạnh Đông và Trung An;
  • Tổng Long Tuy Trung có 04 làng: An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông và Phú Mỹ Hưng;
  • Tổng Long Tuy Hạ có 04 làng: Tân An Hội, Phước Hiệp, Thái Mỹ và Trung Lập;

4. Quận GÒ VẤP có 15 làng:

  • Tổng Bình Trị Thượng có 08 làng: An Nhơn Xã, An Phú Đông, Bình Hòa Xã, Thạnh Lộc Thôn, Hanh Thông Xã, Thạnh Mỹ Tây, Thông Tây Hội và Quới Xuân;
  • Tổng Dương Hòa Thượng có 07 làng: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì và Vĩnh Lộc.

Năm 1974[sửa | sửa mã nguồn]

1. Quận BÌNH CHÁNH gồm 15 xã: An Lạc, An Phú, An Phú Tây, Bình Chánh, Bình Hưng, Bình Trị Đông, Đa Phước, Hưng Long, Phong Đước, Qui Đức, Tân Kiên, Tân Nhựt, Tân Quý Tây, Tân Tạo, Tân Túc;

2. Quận CẦN GIỜ gồm 5 xã: Cần Thạnh, Đồng Hòa, Long Thạnh, Thạnh An, Tân Thạnh;

3. Quận GÒ VẤP gồm 7 xã: An Nhơn Xã, An Phú Đông, Bình Hòa Xã, Thạnh Lộc Thôn, Hanh Thông Xã, Thạnh Mỹ Tây, Thông Tây Hội;

4. Quận HÓC MÔN gồm 12 xã: Đông Hưng Tân, Đông Thạnh, Nhị Bình, Tân Hiệp, Tân Thới Hiệp, Tân Thới Nhứt, Tân Thới Nhì, Tân Thới Trung, Thới Tam Thôn, Trung Mỹ Tây, Xuân Thới Sơn, Xuân Thới Thượng;

5. Quận NHÀ BÈ gồm 9 xã: Phú Mỹ Tây, Phú Xuân Hội, Phước Long Đông, Tân Quy Đông, Tân Thuận Đông, Long Kiểng, Phước Lộc Thôn, Nhơn Đức, Long Đức;

6. Quận QUẢNG XUYÊN gồm 4 xã: An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp;

7. Quận TÂN BÌNH gồm 7 xã: Bình Hưng Hòa, Phú Nhuận, Phú Thọ Hòa, Tân Phú, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì, Vĩnh Lộc;

8. Quận THỦ ĐỨC gồm 15 xã: Tam Bình Xã, Long Bình, Long Phước Thôn, Long Thạnh Mỹ, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Phú Hữu, An Phú, Linh Xuân Thôn, Phước Long Xã, Linh Đông Xã, Long Trường, Tăng Nhơn Phú, Hiệp Bình Xã, Phước Bình

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Nguyễn Đình Đầu, tr. 143.
  2. ^ Theo lời của Lê Quý Đôn, thì lưu dân Việt đã phải chịu nhiều gian khó và hiểm nguy cho cuộc mưu sinh ấy, vì lúc bấy giờ ngay tại vùng đất Sài Gòn ngày nay "từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại toàn là rừng rậm hàng mấy nghìn dặm" (Phủ biên tạp lục, tập 1. Nxb Khoa học xã hội, 1977, tr. 345).
  3. ^ Gia Định thành thông chí, "Cương vực chí" (in trong sách ở mục tham khảo, tr. 172-173). Chữ trong ngoặc là của người soạn.
  4. ^ Xem Gia Định thành thông chí (Cương vực chí, tr. 174) và Quốc triều sử toát yếu (phần Tiền biên, tr. 38).
  5. ^ Xem Gia Định thành thông chí (Cương vực chí, tr. 177) và Quốc triều sử toát yếu (phần Tiền biên, tr. 43).
  6. ^ Lúc quân Tây Sơn vào Nam, lần lượt có các quan trấn thủ Gia Định là: Đỗ Nhà Trập, Đặng Văn Chơn, Nguyễn Văn Lữ và Phạm Văn Tham (theo Huỳnh Minh, tr. 27).
  7. ^ Quốc triều sử toát yếu, phần Chính biên, tr. 27.
  8. ^ a ă â Nguyễn Đình Đầu, tr. 196.
  9. ^ Các nhà nghiên cứu địa lý lịch sử thấy rằng Sài Gòn đã là "thành phố" từ khi tướng Nguyễn Cửu Đàm xây lũy Bán Bích năm 1772...Đến năm 1698, thì Sài Gòn đã thành thương cảng và thành nơi đô hội rồi (theo Nguyễn Đình Đầu, tr. 186). Xem thêm trang: Thành phố Hồ Chí Minh.
  10. ^ Nguyễn Đình Đầu, tr. 195.
  11. ^ Huỳnh Minh, Gia Định xưa, tr. 12.
  12. ^ Quốc triều sử toát yếu, phần "Chính biên", tr. 96.
  13. ^ Nguyễn Đình Đầu, tr. 155.
  14. ^ Theo Nguyễn Đình Đầu, tr. 201.
  15. ^ Theo Đại Nam nhất thống chí (quyển 31, tỉnh Gia Định, mục "Dựng đặt và diên cách, tr. 1148) và Huỳnh Minh, tr. 14.
  16. ^ Theo Quốc triều sử toát yếu (tr. 205) và Nguyễn Đình Đầu (tr. 209).
  17. ^ a ă â Theo Đại Nam nhất thống chí, quyển 31 (tr. 1148).
  18. ^ Xưa là phủ Tân Bình, được thực dân Pháp nâng thành tỉnh vào ngày 11 tháng 5 năm 1944 (Huỳnh Minh, tr. 22).
  19. ^ Phần "Dưới thời Pháp thuộc" căn cứ theo Huỳnh Minh, tr. 19-22.
  20. ^ Xem chi tiết trong Gia Định (tỉnh)Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.