Thiệu Trị

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Hiến Tổ
阮憲祖
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
ThieuTri.jpg
Hoàng đế nhà Nguyễn
Trị vì 11 tháng 2 năm 1841 – 4 tháng 10 năm 1847
Tiền nhiệm Nguyễn Thánh Tổ
Kế nhiệm Nguyễn Dực Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Nghi Thiên Chương hoàng hậu
Hậu duệ
Tên thật Nguyễn Phúc Miên Tông
Niên hiệu Thiệu Trị 紹治
Thụy hiệu Thiệu Thiên Long Vận Chí Thiện Thuần Hiếu Khoan Minh Duệ Đoán Văn Trị Vũ Công Thánh Triết Chương Hoàng đế
紹天隆運至善淳孝寬明睿斷文治武功聖哲章皇帝
Miếu hiệu Hiến Tổ (憲祖)
Triều đại Nhà Nguyễn
Hoàng gia ca Đăng đàn cung
Thân phụ Nguyễn Thánh Tổ
Minh Mạng hoàng đế
Thân mẫu Tá Thiên Nhân hoàng hậu
Sinh 16 tháng 6 năm 1807
Huế, Việt Nam
Mất 4 tháng 10, 1847 (40 tuổi)
Huế, Việt Nam
An táng Xương Lăng (昌陵)

Thiệu Trị (chữ Hán: 紹治; 16 tháng 6, 18074 tháng 10, 1847), hay còn gọi là Nguyễn Hiến Tổ (阮憲祖), là vị Hoàng đế thứ 3 của triều đại nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1841 đến 1847.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngài tên húy là Nguyễn Phúc Miên Tông (阮福綿宗), ngoài ra còn có tên là Nguyễn Phúc Tuyền (阮福暶). Ông là con trưởng của hoàng đế Minh Mạng và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa, sinh ngày 11 tháng 5 năm Đinh Mão, tức 16 tháng 6 năm 1807, tại Huế.

Khoảng 13 ngày sau khi sinh hạ Miên Tông, thân mẫu của ông mất, ông được bà nội là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu nuôi dưỡng.

Bảy năm cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1840, hoàng đế Minh Mạng qua đời, Thái tử Nguyễn Phúc Miên Tông được di mệnh nối ngôi, lấy niên hiệu là Thiệu Trị. Vua Thiệu Trị lên ngôi ngày 20 tháng giêng năm Tân Sửu; tức 11 tháng 2 năm 1841điện Thái Hòa, vừa đúng 34 tuổi.

Sử sách nói vua Thiệu Trị là một người hiền hoà, siêng năng cần mẫn nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Vả chăng, mọi định chế pháp luật, hành chính, học hiệu, điền địabinh bị đều được sắp đặt khá quy củ từ thời Minh Mạng, Thiệu Trị chỉ áp dụng theo các định lệ của tiên đế, không có sự cải cách, thay đổi gì mới. Bầy tôi lúc bấy giờ có Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri PhươngLâm Duy Tiếp ra sức giúp lập.

Tiền vàng thời Thiệu Trị
Lầu Đức Hinh tại Lăng Thiệu Trị
lăng mộ Thiệu Trị đơn giản và hòa hợp với thiên nhiên

Thiệu Trị cũng nổi tiếng là một vị vua thi sĩ, có để lại rất nhiều bài thơ, nổi tiếng nhất là 2 bài thơ chữ Hán có tên là Vũ Trung Sơn Thủy (Cảnh trong mưa)Phước Viên Văn hội lương dạ mạn ngâm (Đêm thơ ở Phước Viên). Cả 2 bài không trình bày theo lối thường mà viết thành 5 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn có 1 số chữ, đếm mỗi bài có 56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú, nhìn vào như một "trận đồ bát quái", vua có chỉ cách đọc và đố là kiếm ra 64 bài thơ trong đó nhưng tới nay chưa ai tìm ra được.

Dưới thời vua Thiệu Trị, đất Nam Kỳ có nhiều giặc giã, dân Chân Lạp nổi loạn và quân Xiêm La sang đánh phá. Nhà vua phải dùng binh đánh dẹp, tới năm Thiệu Trị thứ bảy 1847 mới yên được.

Từ khi Thiệu Thị lên ngôi thì việc cấm đạo Thiên Chúa bớt đi, nhưng triều đình vẫn không có cảm tình với Thiên Chúa giáo, và những giáo sĩ ngoại quốc vẫn còn bị giam ở Huế. Có người báo tin đó cho trung tá Pháp là Favin Lévêque coi tàu Héroïne. Trung tá Favin Lévêque đem tàu vào Đà Nẵng xin cho năm người giáo sĩ được tha. Năm Thiệu Trị thứ 5 – Ất Tỵ 1845, có người Giám mục tên Lefèbvre phải án xử tử. Thiếu tướng nước Pháp là Cécile biết, sai quân đem tàu Alcmène vào Đà Nẵng đón Giám mục ra.

Năm Đinh Vị 1847, khi người Pháp biết rằng ở Huế không còn giáo sĩ bị giam nữa, mới sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiếc chiến thuyền vào Đà Nẵng, xin bỏ những chỉ dụ cấm đạo và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới.

Khi hai bên còn đang thương nghị về việc này thì quan nước Pháp thấy thuyền của Đại Nam đóng gần tàu của Pháp và ở trên bờ lại thấy có quân đắp đồn lũy, nghĩ rằng có âm mưu bèn phát súng bắn đắm cả những thuyền ấy, rồi nhổ chạy ra biển. Vua Thiệu Trị thấy vậy tức giận, có dụ ra cấm người ngoại quốc vào giảng đạo và trị tội những người trong nước đi theo đạo. Những sự kiện này mở đầu "đường lối ngoại giao pháo hạm" của thực dân Pháp, báo hiệu trước những hành động xâm lược về sau này.

Một vài tháng sau Thiệu Trị lâm bệnh nặng. Theo sử nhà Nguyễn, con trai trưởng của ông là Nguyễn Phúc Hồng Bảo, một người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành. Vì vậy khi gọi các quan Trương Đăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri PhươngLâm Duy Hiệp vào trăng trối, Thiệu Trị để di chiếu truyền ngôi cho con thứ là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Hồng Bảo được tin đem binh vào, nhưng bị quan Phạm Thế Lịch giữ lại. Một mình Hồng Bảo vào lạy lục vua cha Thiệu Trị, nhưng ông quay mặt đi không trả lời. Hồng Bảo bị Phạm Thế Lịch và Vũ Văn Giải đưa vào hậu cung và giữ ở đó.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế Thiệu Trị qua đời ngày 27 tháng 9 năm Đinh Mùi, tức 4 tháng 10 năm 1847, hưởng thọ 41 tuổi, miếu hiệu là Hiến Tổ(憲祖). Thụy hiệu đầy đủ của ông là Thiệu Thiên Long Vận Chí Thiện Thuần Hiếu Khoan Minh Duệ Đoán Văn Trị Vũ Công Thánh Triết Chương Hoàng đế (紹天隆運至善淳孝寬明睿斷文治武功聖哲章皇帝), gọi tắt là Chương hoàng đế (章皇帝).

Sau khi mất, bài vị nhà vua được đưa vào thờ trong Thế Miếu. Lăng của ông là Xương Lăng, tọa lạc tại làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng đế Thiệu Trị có rất nhiều vợ. Hoàng hậu của ông là Nghi Thiên Chương hoàng hậu Phạm Thị Hằng, con ngài Lễ bộ thương thư Phạm Đăng Hưng. Lăng của bà phía trái điện Xương Lăng. Hoàng hậu được tôn thờ tại Hữu Nhất Án tại Thái Miếu trong Đại nội của Kinh thành Huế.

Ngoài ra, ông còn các bà khác:

  1. Lệnh phi Nguyễn Thị Nhiệm (阮氏任), người An Giang, con của Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân, tiến cung cùng lúc với bà Nghi Thiên hoàng hậu; nhưng chức tước của cha bà lớn hơn của cha bà Nghi Thiên, nên ban đầu bà ở trên bà Nghi Thiên. Nhưng về sau Nghi Thiên hoàng hậu sinh được 1 hoàng tử và 3 công chúa liên tiếp, còn bà chỉ sinh được một công chúa là Nguyễn Phúc Nhàn Yên; phong hiệu An Thạch công chúa; nên bà Nghi Thiên được phong Hoàng quý phi, tiếp quản hậu cung, ở trên bà.
  2. Thục phi Nguyễn Thị Xuyên (24/7/1808 - 30/9/1885), thụy hiệu Ý Thuận, mộ tại Dương Xuân Thượng, Hương Thủy, Thừa Thiên.
  3. Lương phi Vũ Thị Viên, người huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên), con gái của Phó vệ úy Vũ Hữu Linh.
  4. Đức tần Nguyễn Thị Huyên, là người gốc tỉnh Thừa Thiên, nhưng từ đời ông nội đã vào Gia Định. Bà con của Cai cơ Nguyễn Đức Xuyên.
  5. Quý tần Đinh Thị Hạnh (1807 - 1838), người Gò Công.
  6. Đoan tần Trương Thị Hận (16/2/1817 - 2/1/1889), người Tống Sơn, con gái của Vệ úy Minh Đức Hầu Trương Văn Minh, mẹ là bà Vũ Thị Tôn. Tẩm ở Dương Xuân Hạ, Hương Thủy, Thừa Thiên. Đến năm Đinh tị (1917) cải táng về Long Khê, Hương Trà, Thừa Thiên.
  7. Nhu tần Nguyễn Thị Yên, người Lệ Thủy (Quảng Bình), chị của Thục phi Nguyễn Thị Xuyên.
  8. Nhàn tần Phan Thị Kháng, người huyện Diên Phước (Quảng Nam), là con gái của Cẩm y vệ hiệu úy Phan Văn Phụng.
  9. Thuận tần Hoàng Thị Tần, có húy là Tường Vi, người huyện Lệ Thủy, là con gái của Cẩm y thiên bộ Hoàng Văn Quý.
  10. Tiệp dư Nguyễn Thị Loan.
  11. Quý nhân Ngô Thị Xuân.
  12. Tài nhân Phan Thị Thục.
  13. Tài nhân Đỗ Thị Trinh.
  14. Tài nhân Trương Thị Thúy.
  15. Tài nhân Nguyễn Thị Phương.
  16. Tài nhân Trương Thị Lương.
  17. Tài nhân Vũ Thị Duyên.
  18. Tài nhân Phan Thị Vị.
  19. Tài nhân Trần Thị Sâm.
  20. Tài nhân Trương Thị Vĩnh.
  21. Tài nhân Nguyễn Thị Kinh.
  22. Tài nhân Nguyễn Thị Khuê.
  23. Tài nhân Phan Thị Diệu.

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Thiệu Trị có 64 người con, gồm 29 hoàng tử và 35 công chúa.

Hoàng tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • 01. Hồng Bảo, An Phong Quận Vương, con bà Quý tần Đinh Thị Hạnh. Ông quá lười học, bị đế sư của Thiệu Trị là Trương Đăng Quế dùng kế "bỏ trưởng lập thứ" dù ông đang sắp làm vua. Vợ ông là Trần Thị Thụy và bốn đứa con (3 trai, 1 gái), hai đứa cháu nội (một trai một gái) đều phải chịu chung số phận với ông.
  • 02. Hồng Nhậm, con bà Nghi Thiên Chương hoàng hậu. Là người có học, nên ông giáo (thầy của cha) của ông đã nói với vua cha hãy lập ông làm Thái tử. Hồi nhỏ, ông giáo của ông rất thương vì ông bị bệnh đậu. Ông có 300 vợ mà không có con. Ông chỉ nuôi ba người con, là con của Hồng Y và Hồng Cai, là Ưng Đăng, Ưng Ái và Ưng Kỷ.
  • 03. Hồng Phố, Thái Thạnh Quận Vương
  • 04. Hồng Y, Thoại Thái Vương, con Thục phi Nguyễn Thị Xuyên. Vợ ông là Trần Thị Nga (Thoại Thái vương phi) là mẹ vua Dục Đức. Ngoài Dục Đức, bà Nga sinh ra một người con lớn tuổi hơn tên là Ưng Thịnh, không rõ tên và sự nghiệp.
  • 05. Hồng Kiệm
  • 06. Hồng Tố, Hoằng Trị Vương
  • 07. Hồng Truyền, Vĩnh Quận Công
  • 08. Hồng Hưu, Gia Hưng Vương; con bà Lương phi Vũ Thị Viên. Con cùng cha khác mẹ với vua Tự Đức.
  • 09. Hồng Kháng, Phong Lộc Quận Công
  • 10. Hồng Kiện, An Phước Quận Vương; con bà Lương phi Vũ Thị Viên.
  • 11. Hồng Thiệu
  • 12. Hồng Phò, Tuy Hoà Quận Vương
  • 13. Hồng Bàng; con bà Lương phi Vũ Thị Viên
  • 14. Hồng Sâm
  • 15. Hồng Trước
  • 16. Hồng Nghi, Hương Sơn Quận Công
  • 17. Hồng Thi
  • 18. Hồng Tiệp, Mỹ Lộc Quận Công
  • 19. Tảo thương
  • 20. Hồng Hy
  • 21. Hồng Cơ
  • 22. Hồng Trù
  • 23. Hồng Đình, Kỳ Phong Quận Công
  • 24. Tảo thương
  • 25. Hồng Diêu, Phú Lương Quận Công; con Đức tần Nguyễn Thị Huyên
  • 26. Hồng Cai, Thuần Nghị Kiên Thái Vương. Mẹ sinh là Quý tần Đinh Thị Hạnh. Hai vợ của ông là Bùi Thị Thanh và Phan Thị Nhàn. Bà Thanh sinh ra vua Kiến Phúc và Đồng Khánh, còn bà Nhàn sinh ra vua Hàm Nghi.
  • 27. Tảo thương
  • 28. Hồng Nghê
  • 29. Hồng Dật. Con trai út của Thiệu Trị. Mẹ sinh là Trương Thị Thuận, còn có tên là Hận.

Công chúa[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ có 7 công chúa được biết tên:

Còn 32 công chúa không rõ tên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]