Kiến Phúc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kiến Phúc
Vua Việt Nam (chi tiết...)
07-kien-phuc-emperor.jpg
Vua nhà Nguyễn
Trị vì 1883 - 1884
Tiền nhiệm Hiệp Hòa
Kế nhiệm Hàm Nghi
Thông tin chung
Tên húy Nguyễn Phúc Ưng Đăng
Niên hiệu Kiến Phúc
Thụy hiệu Thiệu Đức Chí Hiếu Uyên Duệ Nghị Hoàng đế
绍德止孝渊睿毅皇帝
Miếu hiệu Giản Tông (簡宗)
Triều đại Nhà Nguyễn
Hoàng gia ca Đăng đàn cung
Thân phụ Nguyễn Phúc Hồng Cai
Thân mẫu Bùi Thị Thanh
Sinh 12 tháng 2 năm 1869
Huế, Việt Nam
Mất 31 tháng 7, 1884 (15 tuổi)
Huế, Việt Nam
An táng Bối Lăng

Kiến Phúc (chữ Hán: 建福, 12 tháng 2, 186931 tháng 7, 1884), còn được gọi là Nguyễn Giản Tông (阮簡宗), là vị hoàng đế thứ 7 của triều đại nhà Nguyễn, lên ngôi ngày 2 tháng 12 năm 1883, tại vị được 8 tháng thì qua đời.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến Phúc đế sinh vào ngày 2 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (12 tháng 2 năm 1869) tại Huế, là con thứ ba của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Trước khi lên ngôi, ông có tên là Nguyễn Phúc Hạo (阮福昊), sau đổi thành Nguyễn Phúc Ưng Đăng (阮福膺登), còn được gọi là Dưỡng Thiện (養善)[1].

Vì không có con, nên vua Tự Đức đã nhận ba người cháu làm con nuôi. Đó là Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Ưng Ái (về sau là vua Dục Đức), Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (về sau là vua Đồng Khánh) và Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đăng là người con nuôi thứ ba. Theo Quốc triều sử toát yếu thì Ưng Đăng được vua Tự Đức truyền đem vào cung, giao cho bà Học Phi (vợ vua Tự Đức) nuôi dạy từ lúc mới 2 tuổi [2].

Sau khi vua Dục ĐứcHiệp Hoà đều mất, Hoàng tử Ưng Đăng được hai quan Phụ chính là Nguyễn Văn TườngTôn Thất Thuyết đưa lên ngôi ngày mùng 3 tháng 11 (âm lịch) năm Quý Mùi (1883), và lấy niên hiệu là Kiến Phúc [3]. Khi ấy, ông mới 15 tuổi, và mọi việc trong triều đều do hai quan Phụ chính quyết định cả [4].

Lúc bấy giờ, ở Bắc Kỳ, lực lượng của Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản hãy còn phối hợp với quân nhà Thanh, kình chống với quân Pháp. Viên Khâm sứ Pháp ở Huế lấy điều đó ra trách cứ, khiến triều đình có dụ truyền cho hai viên tướng ấy phải về Kinh. Nhân nhượng như vậy, nhưng ít lâu sau quân Pháp vẫn tiến đánh và chiếm đoạt các tỉnh là Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng HóaTuyên Quang.

Ngày 18 tháng 4 (âm lịch) năm Giáp Thân (1884), Pháp ký kết hòa ước Thiên Tân (còn gọi là Hòa ước Fournier) với nhà Thanh. Đại lược rằng triều Thanh thuận rút quân đóng ở Bắc Kỳ về, và từ đấy về sau họ để cho nước Pháp được tự do xếp đặt mọi việc ở đất Việt Nam. Thắng thế, ngày 13 tháng 5 (âm lịch) năm đó (tức ngày 6 tháng 6 năm 1884), ông Patenôtre (đại diện Pháp) ký tờ hòa ước mới với triều đình nhà Nguyễn. Đó là Hòa ước Giáp Thân (1884), công nhận cuộc bảo hộ của Pháp và chia nước Việt ra làm hai khu vực là Trung KỳBắc Kỳ.

Đang khi đất nước rối ren như thế, thì vua Kiến Phúc mất vào ngày 10 tháng 6 (âm lịch) năm Giáp Thân (31 tháng 7 năm 1884), hưởng dương 15 tuổi, miếu hiệu là Giản tông Nghị Hoàng đế [5].

Lăng của Kiến Phúc, hiệu Bồi lăng, ở phía trái Khiêm lăng (lăng Tự Đức), tại làng Dương Xuân Thượng, phường Thủy Xuân, thành phố Huế.

Nghi vấn[sửa | sửa mã nguồn]

Sử nhà Nguyễn chép vua Kiến Phúc mất vì bệnh [6]. Viên Khâm sứ Pháp Rheinart cũng cho rằng nhà vua mất vì bệnh. Ông kể:

"...Cái chết của vua [Kiến Phúc] là một cái chết tự nhiên [mort naturelle], nhưng nó đã đến một cách quá bất ngờ làm cho mọi người kinh ngạc. Đứa trẻ đáng thương đã làm vua một cách miễn cưỡng: nó sống trong sự kinh hoàng, luôn luôn lo sợ bị một số phận như người tiền nhiệm, buồn bực, trầm mặc, trốn tránh mọi người. Trong một thời gian khá lâu nó không dậy nổi, tôi không biết nó có thể đứng lên mà không cần người đỡ không, từ lúc bị bịnh, nghĩa là từ ba tháng nay..." [7]

Tuy nhiên, có lời đồn rằng nhà vua chết là do Nguyễn Văn Tường đầu độc. Sách Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam kể:

"Nguyên bà Học phi Nguyễn thị (vợ vua Tự Đức) là mẹ nuôi của Kiến Phúc, tư tình với Nguyễn Văn Tường. Nhân một hôm vua bệnh, ông Tường vào thăm có trò chuyện riêng với bà, vua nghe thấy. Ông Tường thấy có thể nguy hiểm liền xuống Thái y viện bốc một thang thuốc dâng vua uống, ngày hôm sau thì vua mất..."[8].

Ngoài ra, còn có một số giả thuyết như sau:

-Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường giết vua Kiến Phúc, tôn một vị vua nhỏ tuổi hơn để dễ việc nắm trọn quyền bính.
-Hai Phụ chính trên cho rằng Hòa ước Giáp Thân (1884) là bất bình đẳng, nếu vua Kiến Phúc không còn nữa thì "hiệp ước sẽ mất hết hiệu lực" [9].
-Vua Kiến Phúc và phe phái của ông tư thông với khâm sứ Pháp ở Huế, làm trở ngại công việc chống Pháp của hai Phụ chính [10].

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Kiến Phúc mất, đáng lẽ ra con nuôi thứ hai của vua Tự Đức là ông Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (về sau là vua Đồng Khánh) lên nối ngôi. Nhưng sợ lập người lớn tuổi, mình dễ mất quyền, nên Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chọn người em của Ưng Kỳ là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, mới 12 tuổi, lập lên làm vua, đặt niên hiệu là Hàm Nghi[11].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Và các sách đã dẫn ở mục chú thích.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đây là tên nhà học của Ưng Đăng. Theo Trần Trọng Kim, thì Lúc các ông Hoàng chưa được phong, người ta cứ lấy tên nhà học mà gọi (tr. 533).
  2. ^ Quốc triều sử toát yếu, tr. 502.
  3. ^ Chép theo Quốc triều sử toát yếu (tr. 502). Việt Nam sử lược (tr. 536) chép vua Kiến Phúc lên ngôi ngày mồng 7 tháng 10 năm Quý Mùi (1883).
  4. ^ Theo Việt Nam sử lược, tr. 536.
  5. ^ Chép theo Quốc triều sử toát yếu (tr. 508). Đại Nam thực lục (Chính biên, tập 36, tr. 150-151) và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 610) cũng ghi như vậy. Trong Việt Nam sử lược (tr. 542) chép nhà vua mất ngày mồng 6 tháng 4 (âm lịch) là không chính xác.
  6. ^ Quốc triều sử toát yếu (tr. 508), Đại Nam thực lục (Chính biên, tập 36, tr. 150-151). Trong "Hạnh Thục ca" của Lễ tần Nguyễn Nhược Thị Bích, cũng nói vua mất vì bệnh, trích: "Nào ngờ nhiều nỗi chẳng may/ Trị vì sáu tháng bệnh rày lại mang/ Hết lòng khấn vái thuốc thang/ Gẫm âu số mệnh đành khôn cãi trời/ Nương mây chút sớm tếch vời/ Năm Thân tháng sáu rụng rời cành xuân"...
  7. ^ M. Rheinart, Premier chargé d’affaires à Hué, Journal, notes, et correspondance, Bulletins des Amis du vieux Hué, số 1 & 2, 1943, 173.
  8. ^ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 610). Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (quyển 5, tập trung, tự xuất bản, 1963, tr. 14), Tôn Thất Bình (Kể chuyện chín chúa, mười ba vua triều Nguyễn, Nxb. Đà Nẵng, 1996, tr. 95) kể tương tự.
  9. ^ Cả hai giả thuyết này đều lấy trong sách của Bửu Kế, bài "Tòa Khâm sứ Pháp" in trong Chuyện triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hóa, 1990, tr. 89.
  10. ^ Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng, (Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 451), Phạm Hồng Việt, bài "Tôn Thất Thuyết" in trong Danh nhân Bình Trị Thiên (tập 1. Nxb Thuận Hóa, 1986, tr. 261), Ngô Thị Chính-Hoàng Văn Lân, Lịch sử Việt Nam 1858-cuối thế kỷ 19 (Nxb Giáo dục, 1979, tr. 71).
  11. ^ Theo Việt Nam sử lược, tr.542.