Dục Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dục Đức
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Vua nhà Nguyễn
Trị vì  1883 - 1883
Tiền nhiệm Tự Đức
Kế nhiệm Hiệp Hoà
Hậu duệ
19 người con, bao gồm 11 hoàng tử và 8 công chúa
Tên húy
Nguyễn Phúc Ưng Ái
Nguyễn Phúc Ưng Chân
Niên hiệu
Dục Đức[1]
Thụy hiệu Huệ Hoàng Đế
Miếu hiệu Cung Tông
Triều đại Nhà Nguyễn
Hoàng gia ca Đăng đàn cung
Thân phụ Nguyễn Phúc Hồng Y
Thân mẫu Trần Thị Nga
Sinh 23 tháng 2 năm 1852
Huế, Việt Nam
Mất 6 tháng 10, 1883 (31 tuổi)
Huế, Việt Nam
An táng An Lăng, Huế

Dục Đức (chữ Hán: 育德; 23 tháng 2, 18526 tháng 10, 1883) là vị vua thứ năm của nhà Nguyễn, ông lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883, nhưng chỉ tại vị được ba ngày.

Mục lục

[sửa] Thân thế

Dục Đức tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Ái, là con thứ 2 của Thoại Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Y và bà Trần Thị Nga. Ông sinh ngày 23 tháng 2 năm 1852 tại Huế. Có nguồn ghi ông sinh 4 tháng 1 năm Quý Sửu, tức 11 tháng 2 năm 1853.

Vua Tự Đức vì lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên về sau không có con, ông có xin 3 con trai của 2 người em làm con nuôi. Năm 1869, Ưng Ái 17 tuổi được vua Tự Đức chọn làm con nuôi và đổi tên là Nguyễn Phúc Ưng Chân (阮福膺禛), cho xây Dục Đức Đường để ở và giao cho Hoàng Quý Phi Vũ Thị Duyên (sau này là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu) trông coi, dạy bảo. Năm 1883, ông được phong làm Thụy Quốc Công.

[sửa] Ba ngày làm vua

Tự Đức mất để di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, nhưng trong di chiếu có đoạn viết: "... Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây." Các quan Phụ chính Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn TườngTôn Thất Thuyết dâng sớ lên vua Tự Đức xin bỏ mấy đoạn có liên quan đến tính nết xấu của tự quân và câu "không chắc đảm đương nổi việc lớn" nhưng vua Tự Đức từ chối.

Thọ lãnh di chiếu của Tự Đức, Ưng Chân lên ngôi kế vị ngày 20 tháng 7 năm 1883. Theo một vài tài liệu thì đó là ngày 17 tháng 7. Lúc làm lễ lên ngôi, Ưng Chân đã cho đọc lướt đoạn này. Hai Phụ chính Đại thần là Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường dâng lên Hoàng Thái Hậu Từ Dũ tờ hạch tội buộc cho vua Dục Đức bốn tội lớn:

  • Muốn sửa di chiếu của vua cha.
  • Có đại tang mà mặc áo màu.
  • Tự tiện đưa một giáo sĩ vào Hoàng thành.
  • Thông dâm với nhiều cung nữ của vua cha

Và phế bỏ Dục Đức theo lệnh của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức) và Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (vợ vua Tự Đức). Dục Đức bị giam ở Dục Đức Đường, rồi Thái Y Viện và cuối cùng bị bỏ đói đến chết trong ngục thất tại Thừa Thiên.

Làm vua được 3 ngày chưa kịp đặt niên hiệu (Dục Đức chỉ là tên gọi nơi ở Dục Đức Đường) thì Ưng Chân đã bị phế bỏ và giam vào ngục cho đến khi mất. Ông mất ngày 6 tháng 10 năm 1883. Một số tài liệu ghi ông mất ngày 6 tháng 9 năm Giáp Thân, tức 24 tháng 10 năm 1884.

Đến thời vua Thành Thái (con vua Dục Đức) vào năm 1892 đã truy tôn cha mình là Cung Tôn Huệ Hoàng Đế. Lăng của vua Dục Đức là An Lăng, tại làng An Cựu, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.

[sửa] Con cái

Vua Dục Đức có 19 con, gồm 11 con trai và 8 con gái.

[sửa] Hoàng tử

  1. Bửu Cương
  2. Bửu Thi
  3. Bửu Mỹ
  4. Bửu Nga
  5. Bửu Nghi
  6. Bửu Côn
  7. Bửu Lân (vua Thành Thái)
  8. Bửu Chuân
  9. Bửu Thiện, Tuyên Hoà Vương
  10. Bửu Liêm, Hoài An Vương
  11. Bửu Lộc, Mỹ Hoá Quận Công

[sửa] Công chúa

  1. Mỹ Lương (bà chúa Nhất)
  2. Tân Phong (bà chúa Tám)

Và sáu công chúa không rõ tên.

[sửa] Chú thích

  1. ^ Niên hiệu chưa kịp đặt. Dục Đức chỉ là tên gọi nơi ở của Ưng Chân (Dục Đức đường).
Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác