Trần Trọng Kim

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Trọng Kim
Trần Trọng Kim.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 17 tháng 04, 1945
 – 23 tháng 08, 1945
Tiền nhiệm Không
Kế nhiệm Hồ Chí Minh (Chủ tịch nước VNDCCH)
Thông tin chung
Sinh 1883
Xuân phổ Nghi Xuân, Hà Tĩnh, Liên bang Đông Dương
Mất 2 tháng 12, 1953 (70 tuổi)
Đà Lạt
Nghề nghiệp Học giả, Sử gia, Nhà sư phạm

Trần Trọng Kim (18831953 [1][2]) là một học giả danh tiếng [3], thủ tướng của Đế quốc Việt Nam (1945) và là thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Ông là tác giả của tác phẩm Việt Nam Sử Lược.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Trọng Kim, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo Việt Nam, bút hiệu Lệ Thần, sinh năm 1883 (Quý Mùi) tại làng Kiều Linh, xã Đan Phố, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.[4] Vợ ông Bùi Thị Tuất là em gái nhà nghiên cứu văn học Bùi Kỷ. Ông có một người con gái duy nhất là Trần Thị Diệu Chương, lấy chồng làm Chưởng lý Bộ Quốc ấn tại Sénégal. Cha ông là Trần Bá Huân (1838-1894), đã từng tham gia từ rất sớm phong trào Cần Vương do Phan Đình Phùng lãnh đạo.[5]

Hoạt động trong ngành giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Trọng Kim xuất thân trong một gia đình Nho giáo, từ nhỏ ông học chữ Hán. Vào năm 1897, ông theo học tại Trường Pháp-Việt Nam Định và học chữ Pháp. Năm 1900, ông thi đỗ vào Trường Thông ngôn và đến tốt nghiệp năm 1903.[6]

Năm 1904, ông làm Thông sự ở Ninh Bình. Năm 1905, vì hiếu học nên ông qua Pháp học trường Thương mại ở Lyon. Năm 1906, nhân có Hội chợ đấu xảo tại Marseille Pháp, ông xin làm một chân thợ khảm để được đi với Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) sang dự.[6]

Sau hội chợ, ông xin ở lại để học thêm tại các trường ở Ardèche, Lyon rồi tiếp tục học ở Trường thuộc địa. Năm 1909, ông vào học trường Sư phạm Melun và tốt nghiệp ngày 31 tháng 7 năm 1911 rồi về nước.[6][7]

Ông lần lượt dạy Trường trung học Bảo hộ (Trường Bưởi), Trường Hậu bổ và Trường nam Sư phạm. Ông là nhà sư phạm mẫu mực, có uy tín trong xã hội, giữ nhiều chức vụ trong ngành giáo dục thời Pháp thuộc như: [8]

  • Thanh tra Tiểu học (1921)
  • Trưởng ban Soạn thảo Sách Giáo khoa Tiểu học (1924), dạy Trường Sư phạm thực hành 1931
  • Giám đốc các trường nam tiểu học tại Hà Nội (1939)

Từ thập niên 1910 đến thập niên 1940, ông cũng viết nhiều sách về sư phạmlịch sử. Ngoài ra ông còn tham gia các hoạt động xã hội. Ông là Phó trưởng ban Ban Văn học của Hội Khai trí Tiến Đức, Nghị viên Viện Dân biểu Bắc Kỳ, Trưởng ban nghiên cứu Phật học của Hội Bắc kỳ Phật giáo.

Năm 1943, Một năm sau khi ông về hưu, Nhật Bản kéo vào Đông Dương và người Nhật lấy cớ "giúp các ông tránh sự bắt bớ của Pháp" đưa ông và chí sĩ Cử nhân Dương Bá Trạc (1884-1944) bí mật sang Chiêu Nam (Singapore)[9]. Năm 1945, ông được quân đội Nhật đưa về nước.

Hoạt động chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ quẻ Ly của chính phủ Đế quốc Việt Nam, 9 tháng 3 1945 - 22 tháng 8 1945

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp [10], độc chiếm thuộc địa Đông Dương. Để tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng như Miến Điện, Philippines, Nhật tuyên bố "trao trả độc lập" cho Việt Nam.[11]

Ngày 11 tháng 3 năm 1945, triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam.[12][13]

Vua Bảo Đại liền giải tán Hội đồng cơ mật gồm Thượng thư sáu bộ, tuyên bố từ nay sẽ tự mình cầm quyền nhưng bên cạnh nhà vua là viên Đại sứ Nhật ở Đông Dương Yokoyama làm 'Tối cao cố vấn'.[14]

Ngày 30 tháng 03 năm 1945, Trần Trọng Kim được Nhật Bản đón từ Băng Cốc về Sài Gòn.[15]

Khoảng 5 tháng 04 năm 1945, Trần Trọng Kim đến Huế.[15] Sau khi được yết kiến Bảo đại và gặp Trần Đình Nam, Trần Trọng Kim cũng tán thành giải pháp 'lập nội các hẹp' của Ngô Đình Diệm, và theo đề nghị của Trần Trọng Kim, một bức điện thứ 2 triệu tập Ngô Đình Diệm đã được Tối cao cố vấn Yokoyama nhận chuyển đi. Nhưng Ngô Đình Diệm không ra Huế (do Nhật không chuyển điện, hay nhận điện mà từ chối). Bảo Đại triệu Trần Trọng Kim vào tiếp kiến lần thứ hai.

Trần Trọng Kim và một số trí thức có tiếng tăm được giao thành lập nội các ở Huế vào ngày 17 tháng 4 năm 1945.[3][16] Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam "độc lập" trên danh nghĩa và Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Tham gia Nội các của ông đều là các nhà trí thức luật sư, bác sĩ, kỹ sư có tên tuổi (một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật sư): [17]

  • Trần Đình Nam (1896-1974) y sĩ Đông Dương, Bộ trưởng Nội vụ.
  • Trần Văn Chương (1898 – 1986), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Ngoại giao.
  • Trịnh Đình Thảo (1901-1986), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng Tư pháp.
  • Vũ Văn Hiền (1911-1963), Tiến sĩ Luật, Bộ trưởng tài chính.
  • Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), Giáo sư, Thạc sĩ toán học, Bộ trưởng giáo dục và Mỹ thuật.
  • Vũ Ngọc Ánh (1901-1945), Bác sĩ Y khoa, Bộ trưởng Y tế.
  • Lưu Văn Lang (1880-1969), Kỹ sư bách nghệ được vua Bảo đại mời làm Bộ trưởng Công chính, nhưng đến giờ chót ông từ chối vì tuổi cao.
  • Hồ Tá Khanh (1908-1996), Bác sĩ Y khoa, Bộ trưởng Kinh tế.
  • Nguyễn Hữu Thi (1899-?), Y sĩ, đại thương gia, Bộ trưởng tiếp tế.
  • Phan Anh (1911-1990) Luật sư, Bộ trưởng Thanh niên.

Ngoài các thành viên Nội các, rất nhiều nhà trí thức có tiếng tăm cùng tham gia công việc của chính quyền: [17] Phan Kế Toại (Khâm sai Bắc bộ), Bác sĩ Trần Văn Lai (Thị trưởng Hà Nội), Giáo sư Nguyễn Lân (Thị trưởng Huế), Phó bảng Đặng Văn Hướng (Tỉnh trưởng Nghệ An), Phó bảng Hà Văn Đại (Tỉnh trưởng Hà Tĩnh), Giáo sư Đặng Thai Mai (Tỉnh trưởng Thanh Hóa)… Các ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Nguyễn Xiển, Vũ Văn Cẩn, Ngụy Như Kontum, được mời ra thành lập Hội đồng Thanh niên. Tạ Quang Bửu được mời làm Cố vấn đặc vụ ủy viên Bộ Thanh niên và Kỹ sư Lê Duy Thước làm Chánh văn phòng Bộ.

Một chính phủ được thành lập trong bối cảnh lịch sử như chính phủ Trần Trọng Kim, thông thường dễ bị coi là thân Nhật, là tay sai Nhật. Và thực tế đã bị coi như vậy.

Giáo sư Đinh Xuân Lâm có viết:

"Nội các Trần Trọng Kim, với thành phần là những trí thức có tên tuổi, trong đó phải kể tới một số nhân vật tiêu biểu của nước ta trước năm 1945, có uy tín đối với nhân dân, như: Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Đình Thảo, Phan Anh… Họ đều là giáo sư, Luật gia, nhà báo, chưa hề dính líu với bộ máy quan trường, trước đó lại có nhiều hoạt động thể hiện có tư tưởng yêu nước, có tinh thần dân tộc, nên được nhiều người ngưỡng mộ…".[18]

Chính phủ Trần Trọng Kim không có quân đội để tiếp tục duy trì an ninh, nên Việt Minh có điều kiện thuận lợi để cướp chính quyền. Ðây chính là một trong những hậu quả của việc Đế quốc Việt Nam không thành lập Bộ quốc phòng và tổ chức quân đội để tránh phải tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản.

Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam; đặt quốc thiều là bài "Đăng đàn cung"; quốc kỳ có "nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm".[15]

Chính phủ Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Nhật Bản đưa ra chính sách Đại Đông Á, tuyên bố "giúp các dân tộc da vàng đánh đổ ách thống trị của thực dân da trắng để lập nên khu vực thịnh vượng chung", nhưng thực ra đó chỉ là một tên gọi cho ách chiếm đóng mới của quân phiệt Nhật. Vai trò của Nhật, theo kế hoạch của người Nhật, không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, mà còn bảo vệ quân sự và dẫn dắt chính sách nội bộ của các nước trong khối, miền Nam Châu Á sẽ trở thành thị trường và nơi cung cấp nguyên liệu.

Vì vậy nhiều người cho rằng đây chỉ là một chính phủ bù nhìn thân Nhật, không có thực quyền và không có được sự ủng hộ của dân chúng.

Việc Nhật chiếm đóng vào thời điểm 1945 đã gây ra những hậu quả tai hại cho Việt Nam như nạn đói năm Ất Dậu, chính phủ Trần Trọng Kim tuy muốn nỗ lực cứu đói nhưng phương tiện, nhân lực đều do quân Nhật nắm và nhất là giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển từ Nam ra Bắc đều bị quân Đồng minh cắt đứt nên không làm tình hình được cải thiện.

Theo Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng:

"Với an ninh, quốc phòng và kinh tế tài chánh đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc giành lại chủ quyền cho Việt Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng. Nhưng trong tình huống Đông Dương vào năm chót của thế chiến thứ hai, biểu tượng đóng một vai trò rất quan trọng. Biết rằng thất bại của Nhật Bản chỉ là một vấn đề thời gian, Trần Trọng Kim và chính phủ của ông đưa ra một chương trình nhằm thay đổi tâm lý người Việt đến mức mà đất nước sẽ không thể trở lại tình trạng thuộc địa nữa một khi chiến tranh chấm dứt...".[19]

Về hành chánh, Nhật đảo chính lật đổ Pháp ngày 09 tháng 03 năm 1945, nhưng không trao trả toàn bộ chủ quyền đất nước lại cho chính quyền Đế quốc Việt Nam, mà mãi đến tháng 7 năm 1945, sau các cuộc thương lượng của Trần Trọng Kim, toàn quyền Nhật là Tsuchihashi mới trả lại cho chính phủ Đế quốc Việt Nam ba thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Ðà Nẵng kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1945.

Khi quân Nhật thất trận sắp đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim cũng chỉ tồn tại được đến ngày 23 tháng 8 năm 1945 thì sụp đổ.[1] [20] Tuy nhiên, trong thời gian ngắn ngủi, chính phủ này cũng đã làm được một việc quan trọng là thống nhất về mặt danh nghĩa đất Nam Kỳ vào đất nước Việt Nam; và thay chương trình học bằng tiếng Pháp bậc tiểu học và trung học sang chương trình học bằng tiếng Việt, do học giả Hoàng Xuân Hãn biên soạn.[15]

Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ ngoại trừ lĩnh vực y tế và các văn thư liên lạc với Pháp hoặc các công ty của người Trung Hoa.[15]

Bộ trưởng Bộ thanh niên Phan Anh đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội. Trường Thanh niên tiền tuyến đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.

Đặc biệt một trong những việc chính phủ Trần Trọng Kim làm được là việc lấy gạo từ miền Nam ra cứu đói người miền Bắc [21].

Lưu vong và hồi hương[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Việt Minh giành được chính quyền và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Trần Trọng Kim lưu vong ra nước ngoài. Sau nhiều năm tháng ở Quảng ChâuHồng Kông, ngày 6 tháng 2 năm 1947, ông trở về Sài Gòn và sống tại nhà luật sư Trịnh Đình Thảo. Người Pháp thu xếp cho ông trở về Sài Gòn để vận động thành lập chính phủ mới. Về đến Sài Gòn, ông nhận ra rằng những lời hứa hẹn của người Pháp là giả dối nên ông quyết định không làm gì.

Năm 1948, ông qua Phnom Penh và sống với người con gái. Sau đó, ông lại trở về Việt Nam sống thầm lặng và mất tại Đà Lạt vào ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi.

Trần Trọng Kim được đánh giá là một học giả uyên thâm cả tân họccựu học, là người tận tụy cho ngành giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, ông là người có tư tưởng bảo thủ và dân tộc - bảo hoàng. Phan Anh Bộ trưởng Thanh niên trong Nội các của ông nhận xét "Trần Trọng Kim là một người yêu nước nhưng không phải là một nhà chính trị".

Các câu nói và nhận xét của người xung quanh[sửa | sửa mã nguồn]

Câu nói của Trần Trọng Kim Khi gặp đại diện của Việt Minh, Lê Trọng Nghĩa:

"Lịch sử sẽ phán xét công việc của chúng tôi" [22][23][24]

Khi ông Kim gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi để yêu cầu Nhật trả lại ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và toàn bộ đất Nam kỳ cho Việt Nam:

"Quân đội Nhật đã đánh quân đội Pháp và công nhiên hứa hẹn trả quyền tự chủ cho nước Việt Nam. Bởi vậy tôi không quản tuổi già và sự khó khăn của hoàn cảnh mà đứng ra lập chính phủ. Tôi làm việc một lòng giúp nước tôi, cũng như các ông lo việc giúp nước Nhật… Nếu các ông cho tôi là người làm việc cho nước Nhật, việc ấy không phải là phận sự của tôi, tôi sẵn sàng xin lui…" [25]

Nhận xét:

"Tôi quen Trần Trọng Kim từ ngày ông còn dạy học, viết sử. Trong những tác phẩm của mình, ông động viên ý chí quật cường cho thanh niên… Tôi rất có cảm tình đối với ông ấy. Trần Trọng Kim là một người yêu nước nhưng không phải là một nhà chính trị. Ông ta cần được sự giúp đỡ ý kiến" [26]

Về vai trò của chính phủ Trần Trọng Kim[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động, chiến tranh thế giới thứ 2 đang xảy ra. Nhật đã dành quyền ảnh hưởng tại Đông Dương từ tay Pháp, Nhật cần 1 chính phủ mới tại Việt Nam phụ thuộc, ủng hộ các quyền lợi của mình tại chiến lược bành trướng châu Á Thái Bình Dương. Pháp, các đế quốc châu Âu muốn giữ quyền lợi vốn có của mình tại các nước thuộc địa Đông Nam Á. Nước Mỹ, lực lượng chính của phe Đồng Minh tại mặt trận Thái Bình Dương muốn ngăn chặn và triệt tiêu ảnh hưởng của Nhật.

Tình hình trong nước trở nên hỗn loạn khi Nhật đảo chính, kiểm soát tại các vùng quê của chính quyền mới là yếu kém, lực lượng quản lý hành chính chưa kịp đào tạo, lực lượng an ninh quân sự phụ thuộc vào Nhật.

Chính phủ Trần Trọng Kim muốn lợi dụng Nhật để hất cẳng hoàn toàn ảnh hưởng của Pháp, và tăng cường ý thức phản kháng của người dân khi quân Pháp trở lại. Lực lượng Việt Minh với mục tiêu khác biệt không thể dung hòa với chính phủ Trần Trọng Kim, họ đã ra chỉ thị "Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Chớp lấy thời cơ Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, phải rải ráp vũ khí, lực lượng Việt Minh đã kêu gọi biểu tình, bãi công, cướp lấy chính quyền. Chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố giải tán, tạo điều kiện cho cuộc Cách mạng tháng 8 diễn ra suôn sẻ. Sau khi chính quyền Việt Minh được thành lập nhiều nhân vật của chính phủ Trần Trọng Kim đã tham gia vào chính phủ của Việt Minh.[17]

Chính phủ Trần Trọng Kim thường được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mô tả trong các sách giáo khoa hay những tài liệu nghiên cứu chuyên môn trước và sau năm 1975, một cách trực tiếp hay gián tiếp là bù nhìn, là Việt gian, là tay sai của Nhật.[27][28][29][30] Giới sử học ngoài Việt Nam coi Chính phủ Trần Trọng Kim là một bộ phận của chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á của Nhật nhằm chiếm đóng Đông Á trong Đệ nhị thế chiến, trong đó các chính quyền bản xứ phải vận động người dân và nền kinh tế trong nước phục vụ cho lợi ích của Đế quốc Nhật Bản[31].

Phan Anh, bộ trưởng bộ Thanh niên của chính phủ Trần Trọng Kim và cũng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên của chính phủ Việt Minh, đã trả lời cuộc phỏng vấn của nhà sử học Na Uy Stein Tonnesson năm 1989:

"… Chúng tôi không muốn bị cả người Pháp lẫn người Nhật đánh lừa mình… Chúng tôi nghĩ rằng nhiệm vụ cấp bách là phải đuổi bọn Pháp ra khỏi bộ máy hành chính. Chúng tôi huy động sinh viên, công chức làm việc đó, đòi Nhật làm việc đó.
Khẩu hiệu thứ hai của chúng tôi là tạm thời ngồi làm việc với người Nhật, nhưng không phải là "đồng tác giả", không phải là "kẻ hợp tác" với họ; phải giữ thế trung lập".[32]
"… Lấy tư cách là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự… Chính vì muốn giữ thế trung lập mà chúng tôi đã quyết định không có bộ Quốc phòng. Người Nhật muốn có bộ ấy để lôi kéo chúng tôi đi với họ. Thay bộ ấy chúng tôi lập Bộ Thanh niên. Phong trào Việt Minh đã nổi tiếng và gây được hiệu quả là vì được thanh niên ủng hộ. Chúng tôi vận động một phong trào thanh niên là nhằm mục đích quốc gia và mục đích xã hội. Phong trào thanh niên của chúng tôi không hề xung đột gì với Việt Minh. Cùng theo đuổi một mục tiêu như nhau mà!"…[32]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1945, Trần Trọng Kim có nhiều tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ về các lĩnh vực sử học, văn học, nghiên cứusư phạm gồm:

Tác phẩm Việt Nam sử lược được đánh giá là một trong những quyển sử Việt Nam có phong cách ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu, được tái bản nhiều lần.

Sau năm 1945, ông viết hồi ký:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Justin Corfield (2013). Historical Dictionary of Ho Chi Minh City. Nhà xuất bản Anthem Press. ISBN 0857282352. Trang 299.
  2. ^ Bằng Giang (1999). Sài Côn cố sự 1930-1975. Nhà xuất bản Văn học. Trang 111.
  3. ^ a ă Huỳnh Kim Khánh (1986). Vietnamese Communism, 1925-1945. Nhà xuất bản Đại học Cornell. ISBN 0801493978. Trang 295.
  4. ^ Quốc Liên Mai, Văn Lưu Nguyễn, Hoài Anh, Minh Đức Hà (2004). Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Tập 5, Phần 2. Nhà xuất bản Văn học. Trang 859.
  5. ^ “Trần Trọng Kim học giả”. Báo Tia sáng, bộ Khoa học và Công nghệ. Truy cập 2 tháng 7 năm 2014. 
  6. ^ a ă â Quốc Liên Mai, Văn Lưu Nguyễn, Hoài Anh, Minh Đức Hà (2007). Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Tập 3, Phần 1. Nhà xuất bản Văn học. Trang 621.
  7. ^ Trần Văn Giáp (2007). Lược truyện các tác giả Việt Nam, Tập 2. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Trang 121.
  8. ^ Lữ Giang (1999). Những bí ẩn đằng sau cuộc chiến Việt nam, Tập 1. Trang 190.
  9. ^ Xem hồi ký 'Những cơn gió bụi'
  10. ^ Guy Faure, Laurent Schwab (2008). Japan-Vietnam: A Relation Under Influences. Publisher NUS Press. ISBN 9971693895. Trang 27.
  11. ^ Archimedes L. A. Patti (1982). Why Viet Nam?: Prelude to America's Albatross. Publisher: University of California Press. ISBN 0520047834. Trang 330.
  12. ^ Justin Corfield. Historical Dictionary of Ho Chi Minh City. Publisher Anthem Press. ISBN 0857282352. Trang 138. "Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập".
  13. ^ Nghia M. Vo (2011). Saigon: A History. Publisher McFarland. ISBN 0786486341. Trang 112.
  14. ^ Phạm Khắc Hòe (1983). Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc. Nhà xuất bản Hà Nội. [cần số trang]
  15. ^ a ă â b c “Trần Trọng Kim, chính khách bất đắc dĩ?”. Báo Tia Sáng. Truy cập 3 tháng 7 năm 2014. 
  16. ^ Thomas Hodgkin (1981).Vietnam: the revolutionary path. Nhà xuất bản Macmillan. Trang 362.
  17. ^ a ă â “Lệ thần Trần Trọng Kim (1883 - 1953): Học giả & Chính khách”. Tạp chí Văn hóa Nghệ An. Truy cập 3 tháng 7 năm 2014. 
  18. ^ Nội các Trần Trọng Kim với Trường Thanh niên tiền tuyến Huế năm 1945. Tạp chí Huế - Xưa và Nay. Số tháng 7,8 năm 2005.
  19. ^ Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng (15 tháng 4 năm 2006). “Chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945”. Đài Á Châu Tự do. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2013. 
  20. ^ PGS. TS. Phạm Hồng Tung. Nội các Trần Trọng Kim: Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử. Chương 2. Bản tóm tắt.
  21. ^ Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945
  22. ^ 'Tưởng nhớ Phan Anh' do Hoàng Xuân Hãn viết, tập I. Tạp chí Hồng Lĩnh, số 6 năm 1993
  23. ^ La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) do Hữu Ngọc - Nguyễn Đức Hiền biên soạn. Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr. 370-378.
  24. ^ Lê Trọng Nghĩa, "Các Cuộc Tiếp Xúc Giữa Đại Diện Việt Minh Với Chính Phụ Trần Trọng Kim", trong Xưa và Nay, số 5 (06), VIII,. 1994, tr. 4 6 và số 6 (07), IX, 1994, tr. 9 -.
  25. ^ Một đoạn trong sách của G.S Lê Xuân Khoa (SĐD): "Khoảng tháng 6-1945
  26. ^ “Điều mấu chốt là Chủ tịch Hồ Chí Minh tin trí thức”. Tạp chí Văn hóa Nghệ An. Truy cập 3 tháng 7 năm 2014. 
  27. ^ Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr. 370-378.
  28. ^ 'Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử (1919 – 1945)' của Dương Trung Quốc
  29. ^ 'Lịch Sử Việt Nam Giản Yếu'. Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia
  30. ^ Lịch Sử Việt Nam, tập II. Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1989.
  31. ^ Lebra, Joyce C. Japan's Greater East Asia Co-Prosperity Sphere in World War II: Selected Readings and Documents. New York: Oxford University Press, 1975, p. 157, 158, 160
  32. ^ a ă “Giáo sư Stein Tonnesson phỏng vấn Bộ trưởng Phan Anh”. Nghĩ về nước Việt. Truy cập 3 tháng 7 năm 2014. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]