Ninh Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Tỉnh Ninh Bình
Bản đồ Việt Nam với Ninh Bình được tô đậm

Tỉnh Việt Nam
Chính trị và hành chính
Bí thư tỉnh ủy Đinh Văn Hùng
Chủ tịch HĐND Đinh Văn Hùng
Chủ tịch UBND Bùi Văn Thắng
Địa lý
Tỉnh lỵ Thành phố Ninh Bình
Miền Bắc Bộ
Diện tích 1.400 km²
Các thị xã / huyện 6 huyện và 1 thị xã
Nhân khẩu
Số dân (2009)
 • Mật độ
898.459 người
642 người/km²
Dân tộc Việt, Mường
điện thoại 30
Mã bưu chính: 40
ISO 3166-2 VN-18
Website [1]
Biển số xe: 35

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực nam miền Bắc và khu vực đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam. Theo quy hoạch xây dựng phát triển kinh tế thì Ninh Bình thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Mặc dù được xếp vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ nhưng Ninh Bình chỉ có 2 huyện duyên hải là Yên Khánh và Kim Sơn không thuộc miền núi. Chính nhờ vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình và lịch sử văn hóa mà Ninh Bình là tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú và vượt trội so với các tỉnh phía Bắc khác.

Mục lục

[sửa] Vị trí - Địa lý

Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Bình

Ninh Bình tiếp giáp với 4 tỉnh: Hòa Bình, Hà Nam ở phía bắc, Nam Định ở phía đông, Thanh Hóa ở phía tây, biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông nam.
Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam.

Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình bao gồm cả ba loại địa hình. Vùng đồi núi hay còn gọi là vùng "bán sơn địa" ở phía Tây Bắc bao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp; vùng đồng bằng và vùng ven biển ở phía Đông Nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên Khánh. Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp. Ninh Bình có bờ biển dài 18km. Bờ biển Ninh Bình hàng năm được phù sa bồi đắp lấn ra trên 100m.
Ninh Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.

  • Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.700-1.800 mm
  • Nhiệt độ trung bình: 23,5°C
  • Số giờ nắng trong năm: 1.600-1.700 giờ
  • Độ ẩm tương đối trung bình: 80-85%

Diện tích:1.400 km², dân số (điều tra dân số 01/04/2009): 898.459 người với mật độ dân số 642 người/km². Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có hai tôn giáo chính là: Phật giáoThiên chúa giáo. 15% dân số theo đạo Thiên chúa.
Ninh Bình có 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện trực thuộc là:

 

[sửa] Lịch sử - Văn hóa

[sửa] Lịch sử

Ninh Bình xưa thuộc bộ Giao Chỉ, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Qua các đời nhà Hán, Lương, Đường thuộc châu Trường Yên. Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư và đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô về Thăng Long, Ninh Bình nằm trong phủ Trường An, sau đổi là châu Đại Hoàng vào cuối thế kỷ 12. Đời nhà Trần đổi thành lộ, rồi lại đổi thành trấn Thiên Quan. Đời Lê Thái Tông (1434-1439), Ninh Bình sáp nhập vào Thanh Hóa; thuộc trấn Sơn Nam đời vua Lê Thánh Tông; rồi lại thuộc về Thanh Hóa cho tới đời vua Minh Mạng. Thời nhà Nguyễn, địa bàn tỉnh Ninh Bình là 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan.
Năm 1831, Ninh Bình trở thành một trong số 13 tỉnh ở Bắc Kỳ với 6 huyện Yên Khánh, Nho Quan, Kim Sơn, Gia Khánh, Gia Viễn và Yên Mô, thuộc Liên khu 3. Sáu huyện vẫn giữ nguyên cho đến khi tỉnh Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam ĐịnhHà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh ngày 27/12/1975. Ninh Bình lại được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, ngày 26/12/1991. Khi tách ra, tỉnh Ninh Bình có diện tích 1.386,77 km², dân số 787.877 người, gồm 2 thị xã Ninh Bình, Tam Điệp và 5 huyện Kim Sơn, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Hoàng Long. Ngày 23/11/1993, huyện Hoàng Long đổi lại tên cũ là huyện Nho Quan. Ngày 4/7/1994, huyện Tam Điệp đổi lại tên cũ là huyện Yên Mô và tái lập huyện Yên Khánh từ 10 xã của huyện Tam Điệp cũ và 9 xã của huyện Kim Sơn.
Về mặt quân sự, Ninh Bình cũng giữ một vị trí then chốt vì đèo Ba Dội nằm trong dãy Tam Điệp là một cửa giao thông hiểm yếu giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, dùng đường bộ từ Thăng Long vào Thanh Hóa hay từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, đều phải vượt đèo này.
Năm 1873 và 1887 Pháp chiếm đóng Ninh Bình. Năm 1886, có Đốc Tâm chỉ huy dân quân, được rất đông đồng bào Mường tham dự, tấn công quân Pháp nhiều trận, gây cho Pháp nhiều thiệt hại nặng nề. Tại Nho Quan, vào ngày 7 tháng 1 năm 1915, quân Việt Nam Quang Phục Hội đã đánh chiếm các đồn bốt của Pháp.

[sửa] Văn hóa

Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa văn hóa và giao thông giữa các khu vực: Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, là địa bàn ảnh hưởng của nền văn hóa Hòa Bình và văn hóa Đông Sơn. Với đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bình tương đối đa dạng và năng động, mang đặc trưng khác biệt trên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng.

Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê – Lý. Ninh Bình cũng là nơi có nhiều căn cứ quân sự gắn với những chiến công hiển hách của các triều đại nhà Trần, triều đại Tây Sơn và Hậu Trần. Vùng đất này còn là quê hương của nhiều danh nhân đất Việt tiêu biểu như: Đinh Bộ Lĩnh; Trương Hán Siêu, Lý Quốc Sư, Vũ Duy Thanh, Lương Văn Tụy .v.v.

Ninh Bình là vùng đất có nhiều lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái Vi... Các lễ hội khác: lễ hội Yên Cư, hội thôn Tập Minh, lễ hội động Hoa Lư...

[sửa] Giao thông

Nút giao thông QL 1A và QL10

Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng, tất cả các huyện, thành phố, thị xã đều có đường quốc lộ đi qua:

Về giao thông đường sắt Ninh Bình có trục đô thị Tam Điệp – Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt Bắc-Nam. Trên địa bàn tỉnh có các ga Ninh Bình, ga Cầu Yên, ga Ghềnh và ga Đồng Giao. Theo quy hoạch xây dựng mới, đường sắt cao tốc Bắc Nam chạy thẳng từ Hà Nội sẽ đặt ga chính ở Ninh Bình, Vinh.

Về giao thông đường thủy Ninh Bình có hệ thống sông ngòi dày đặc: sông Đáy là sông lớn nhất chảy vào giữa ranh giới Ninh Bình với Hà Nam, Nam Định. Sông Càn với nhiều nhánh nhỏ, phần hạ lưu chảy giữa ranh giới huyện Kim Sơn với tỉnh Thanh Hóa. Các sông nội tỉnh khác: sông Hoàng Long, sông Vạc, sông Vân, sông Bôi, sông Lạng, sông Bến Đang đem lại nguồn lợi đáng kể về tưới tiêu, giao thông và khai thác thuỷ sản. Cảng Ninh Phúc là cảng sông cấp I. Ngoài ra có cảng Ninh Bình, cảng Cầu Yên, cảng Non Nước, cảng Bình Minh và cảng Phát Diệm.

[sửa] Kinh tế

Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa khu vực châu thổ sông Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng rừng núi Tây Bắc. Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch.

Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số, Năm 2005 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 41/42, năm 2006 vươn lên xếp thứ 18/64, năm 2007 xếp thứ 24/64, năm 2008 xếp 23/63, liên tục đứng thứ 5 ở miền Bắc. Năm 2007, Ninh Bình là một trong những tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam; thu ngân sách đạt 1.140 tỷ đồng, là tỉnh thứ 26/64 đạt mức thu 1000 tỷ. Trong khi diện tích và dân số tỉnh chỉ đứng thứ 56/64 và 43/64.
Cơ cấu kinh tế trong GDP năm 2007: Công nghiệp - xây dựng: 40%; Nông, lâm - ngư nghiệp: 26%; Dịch vụ: 34%

[sửa] Công nghiệp

Cảng Ninh Phúc ở khu CN Ninh Phúc

Ninh Bình có tiềm năng và thế mạnh phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng với số lượng nhà máy sản xuất xi măng nhiều[1] trong đó nổi bật là các doanh nghiệp xi măng The Vissai, xi măng Hệ Dưỡng (công suất 3,6 triệu tấn/năm), xi măng Tam Điệp, xi măng Phú Sơn, xi măng Duyên Hà (công suất 0,6 triệu tấn/năm), xi măng Hướng Dương (công suất 2 triệu tấn/năm).v.v. Sản phẩm chủ lực của địa phương là xi măng, đá, thép, vôi, gạch .v.v.

Tính đến năm 2009, Ninh Bình có 7 khu công nghiệp,[2] gồm: Gián Khẩu, Ninh Phúc, Tam Điệp, Phúc Sơn, Sơn Hà, Xích Thổ và Khánh Cư, 22 cụm công nghiệp với diện tích 880 ha. Nghề thủ công truyền thống địa phương có: thêu renHoa Lư, dệt chiếu và làm hàng cói mỹ nghệ ở Kim Sơn, Yên Khánh..., đan lát mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan, sản xuất đồ đá mỹ nghệ ở Ninh Vân (Hoa Lư).
Theo Cục thống kê tỉnh Ninh Bình, tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước đạt hơn 6.000 tỷ đồng trong năm 2008, tăng gần 50% so với năm 2007. Một số nhà máy đã đi vào sản xuất cho ra sản phẩm như nhà máy xi măng Duyên Hà, xi măng Hướng Dương, Công ty may Đài Loan, Cơ sở chế biến hạt điều - Cty CP xuất khẩu đầu tư Ninh Bình, Sản phẩm lò quay ximăng 2,3 triệu tấn/năm của Công ty Cơ khí lắp máy Ninh Bình, các sản phẩm cơ khí công nghệ cao của Công ty cơ khí Quang Trung, sản phẩm hoa quả đóng hộp của Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao…đã góp phần tăng giá trị công nghiệp.
Về thu hút đầu tư, tỉnh có những dự án công nghiệp với mức đầu tư lớn đang được triển khai xây dựng như: Nhà máy phân đạm công suất 56 vạn tấn/năm, nhà máy sản xuất phụ tùng động cơ tàu thuỷ Vinashin vơi vốn đầu tư 1.200 tỷ đồng, nhà máy sản xuất sôđa đầu tư 1.300 tỷ, nhà máy sản xuất phôi thép Ninh Bình đầu tư 560 tỷ đồng.

[sửa] Nông nghiệp

Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều thành phần.
Các vùng chuyên canh nông nghiệp chính của tỉnh: vùng nông trường Đồng Giao chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa thơm, vùng Kim Sơn trồng cây cói làm chiếu và các mặt hàng mỹ nghệ khác, vùng biển Kim sơn nuôi tôm sú, nuôi cá và nuôi lợn, vùng Ninh Phúc, Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch. Cơ cấu Nông, lâm, thuỷ sản trong GDP của tỉnh, năm 2007 đạt 26% (mục tiêu đến năm 2010 là 17%). Trong nông nghiệp, giữa các lĩnh vực sản xuất cũng có sự chuyển dịch. Năm 2001, nông nghiệp chiếm 93,4%, lâm nghiệp 1,3%, thuỷ sản 1,7%, đến năm 2007, tỷ lệ đó là: Nông nghiệp 86,9%, lâm nghiệp 1,7%, thuỷ sản 11,4%.
Lĩnh vực nuôi thuỷ sản phát triển khá ổn định, nhất là ở khu vực nuôi thả thuỷ sản nước ngọt. Diện tích nuôi thuỷ sản năm 2007 đạt 9.021 ha, tăng 27,7% so với năm 2004; trong đó diện tích nuôi thả vùng nước ngọt đạt 6.910 ha, nuôi thuỷ sản nước lợ 2.074 ha. Sản lượng thuỷ sản năm 2007 đạt 18.771 tấn. Trong đó sản lượng tôm sú đạt 1.050 tấn, cua biển đạt 1.280 tấn. Tổng giá trị thuỷ sản năm 2007 đạt 350 tỷ đồng, tăng 73,4 tỷ đồng so với năm 2004.
Về hạ tầng, tỉnh đang đầu tư, nâng cấp, xây mới nhiều trạm bơm nước, kênh mương. Các tuyến đê quan trọng như: Đê biển Bình Minh II; đê tả, hữu sông Hoàng Long; đê Đầm Cút, đê Năm Căn, hồ Yên Quang, âu Cầu Hội... được nâng cấp theo hướng kiên cố hoá.

[sửa] Dịch vụ

Sân vận động trung tâm tp Ninh Bình

Ninh Bình có vị trí hội tụ giao thông liên vùng rất thuận lợi cho phát triển lưu thông hàng hóa với các địa phương khác trong cả nước. Về du lịch, Ninh Bình có điều kiện phát triển đa dạng các loại hình du lịch: sinh thái - nghỉ dưỡng, văn hóa - lịch sử - tâm linh, du lịch mạo hiểm, thể thao.

Về thể thao, giải trí, Ninh Bình có những công trình thể thao cấp quốc gia là nhà thi đấu Ninh Bình và sân vận động Ninh Bình. Từ năm 2006 tỉnh có một đội bóng đá là câu lạc bộ bóng đá Xi măng The Vissai Ninh Bình và một đội bóng chuyền hạng mạnh là Tràng An Ninh Bình. Về giáo dục và đào tạo tỉnh có trường đại học Hoa Lư và 4 trường cao đẳng.
Ninh Bình đang có nhiều nỗ lực kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực du lịch, dịch vụ. Tỉnh coi đây là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn. Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ đạt 16%
Từ năm 2004, Sở Công Thương Ninh Bình đã xây dựng quy hoạch mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015. Năm 2008, toàn tỉnh có 107 chợ, trong đó chợ Rồng ở thành phố Ninh Bình là chợ loại 1, 5 chợ loại 2 (chợ Đồng Giao, chợ Nam Dân, chợ Ngò...) còn lại là chợ loại 3.

[sửa] Du lịch

[sửa] Tiềm năng

Bài chi tiết: Du lịch Ninh Bình
Phong cảnh Ninh Bình – Non nước hữu tình

Ninh Bình có tiềm năng du lịch rất lớn, nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như:

Hiện nay Ninh Bình có các khu du lịch đã và đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới:[3][4][5]

[sửa] Khai thác

Năm 2008, lượng khách du lịch đến Ninh Bình thống kê được là 1.900.000 trong đó khách quốc tế gần 600.000 lượt, Ninh Bình được xác định là một trung tâm du lịch của vùng duyên hải Bắc Bộ

[sửa] Đặc sản ẩm thực

Đặc sản Ninh Bình nổi tiếng gồm có các món ăn chế biến từ thịt Dê núi Ninh Bình; Rượu Kim Sơn, miến lươn, cá rô Tổng Trường, khoai Hoàng Long và Cơm cháy Ninh Bình. Chủ yếu phát triển mạnh dọc theo tuyến quốc lộ 1A.

Trong các đặc sản Ninh Bình thì thịt dê núi Ninh Bình là nổi tiếng và độc đáo nhất. Thịt dê Ninh Bình ngon hơn các vùng khác vì: Dê ở đây nuôi trên núi đá vôi, ăn đa dạng các loại lá cây nên thịt săn chắc hơn so với dê thả đồi; Món ăn từ thịt dê được đi kèm với các loại rau thơm địa phương như lá đinh lăng, lá mơ, lá sung và thịt dê được địa phương xây dựng thành món ẩm thực đặc trưng, đậm đà hương vị sông núi quê hương, được kế thừa truyền thống với những bí quyết riêng, biến thịt dê thành món đặc sản nổi tiếng.

[sửa] Ảnh phong cảnh Ninh Bình

[sửa] Liên kết ngoài

[sửa] Chú thich

  1. ^ Ninh Bình: Các nhà máy xi măng hoạt động sẽ tăng nguồn thu ngân sách
  2. ^ Ninh Bình đầu tư xây dựng 7 khu công nghiệp lớn
  3. ^ Hoa Lư – Còn gì cho di sản thế giới?
  4. ^ Hội thảo về “Giá trị di sản văn hoá Cố đô Hoa Lư và khu du lịch sinh thái Tràng An”
  5. ^ Bộ VH-TT ủng hộ việc lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Khu di tích Cố đô Hoa Lư và Khu hang động Tràng An là di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới