Trần Anh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Anh Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Trần Anh Tông TLĐSXSĐ.jpg
Hình vẽ Trần Anh Tông trong tác phẩm Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ
Hoàng đế nhà Trần
Trị vì 1293 - 1314
Tiền nhiệm Trần Nhân Tông
Thái thượng hoàng Hiến Nghiêu Thái thượng hoàng đế
Kế nhiệm Trần Minh Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Bảo Từ Thuận Thánh hoàng hậu
Chiêu Từ hoàng hậu
Tên húy Trần Thuyên (陳烇)
Niên hiệu Hưng Long (興隆)
Thụy hiệu Ứng Thiên Quảng Vận Hiển Văn Duệ Vũ Khâm Minh Nhân Hiếu hoàng đế
應天廣運顯文睿武欽明仁孝皇帝
Miếu hiệu Anh Tông (英宗)
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Nhân Tông
Thân mẫu Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu
Sinh 17 tháng 9, 1276
Mất 16 tháng 3, 1320
Trùng Quang cung, Thiên Trường
An táng 12 tháng 12, 1320, Thái lăng (泰陵)
Tôn giáo Phật giáo

Trần Anh Tông (chữ Hán: 陳英宗; 17 tháng 9, 127616 tháng 3, 1320), là vị hoàng đế thứ 4 của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi 21 năm (12931314) và làm Thái thượng hoàng trong 6 năm.

Cũng như hoàng đế Trần Nhân Tông, Anh Tông là một vị minh quân nổi tiếng. Ông tính tình cứng rắn, chăm chỉ việc trị quốc, tỏ ra là người xứng đáng nối nghiệp đại thống khi còn trẻ. Khi vừa lên ngôi, ông khôn khéo ngoại giao mềm dẻo với Nhà Nguyên, đồng thời cũng tỏ ra cứng rắn, không chịu khuất phục trước họ, tỏ ra là một vị Hoàng đế trên cơ, mềm mỏng mà khôn ngoan. Ông thiện đãi sứ thần của họ, khiến sứ giả có cảm tình tốt và không gây khó dễ cho quan hệ giữa 2 nước.

Trong triều lúc đó, có những người tài giỏi hết lòng giúp việc nước; Về văn có Trương Hán Siêu, Đoàn Nhữ Hài [1]; võ có Phạm Ngũ Lão, Lê Trung Hiển đều là những người tài giỏi. Thời đó vua hiền, tôi trung, phép tắc nghiêm trang, thưởng phạt phân minh, chính trị không có điều gì hồ đồ. Việc học hành mở mang rộng rãi, cho nên những người có tài văn học như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn đều được thi đỗ, ra làm quan giúp việc triều đình. Thời kỳ Anh Tông cai trị tiếp tục giai đoạn thịnh trị của nhà Trần.

Bên cạnh là một chính trị gia xuất sắc, Anh Tông còn là một nhà thơ giỏi. Thơ Anh Tông giản dị, trong sáng, giàu tình cảmtrau chuốt trong ngôn từ. Niềm hào hứng của người chiến thắng, mang lại yên vui cho quốc gia cũng như niềm tự tin, sự tỉnh táo của một quân chủ có địa vị tối cao phản ánh trong thơ của ông. Đặc biệt, Anh Tông rất hay sáng tác Thơ vịnh sử, nhận xét những nhân vật trong lịch sử qua thơ của mình. Thái độ khen chê những nhân vật lịch sử thể hiện sự tiếp thu có phê phán với quá khứ, đồng thời bày tỏ những quan điểm trị nước và cũng là nhân sinh quan của tác giả, tiêu biểu bình về Hán Cao Tổ, Hán Quang Vũ Đế, Hán Vũ Đế, Đường Túc Tông, Tống Độ Tông.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Anh Tông hoàng đế tên thật là Trần Thuyên (陳烇), con trưởng của Nhân Tông Duệ Hiếu hoàng đế, mẹ là Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu Trần thị, con gái của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Ông sinh ngày 17 tháng 9, năm 1276, tại kinh thành Thăng Long. Ông còn có một người em trai là Huệ Vũ đại vương Trần Quốc Chẩn, chị gái Thượng Trân công chúa (上珍公主), Thiên Trân công chúa (天珍公主) và em gái Huyền Trân công chúa.

Năm 1292, ông được Nhân Tông hoàng đế lập làm Hoàng thái tử, cưới con gái trưởng của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng làm chính phi. Đến năm 1293, Trần Nhân Tông thoái vị, trở thành Thái thượng hoàng, Trần Thuyên nối ngôi báu, tự xưng làm Anh Hoàng (英皇).

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi đầu làm vua[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mới lên nối ngôi, Trần Anh Tông hay uống rượu và đêm thường hay lén ra ngoài đi chơi, có lần bị đồ vô lại ném trúng đầu. Một hôm uống rượu say đến nỗi Thượng hoàng Nhân TôngThiên Trường về kinh đô, các quan đều ra đón rước cả, mà vua vẫn nằm ngủ. Thượng hoàng giận lắm, truyền xa giá lập tức về Thiên Trường và hạ chiếu cho bách quan phải về đấy hội nghị định truất ngôi Anh Tông.

Khi Anh Tông tỉnh rượu, biết thượng hoàng về kinh đô, sợ hãi quá, vội vàng chạy ra ngoài cung gặp một người học trò tên là Đoàn Nhữ Hài, mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủ Thiên Trường. Thượng hoàng xem biểu rồi quở mắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Về đến kinh sư, Anh Tông cho Đoàn Nhữ Hài làm ngự sử trung tán, và từ đấy không uống rượu nữa.

Bãi bỏ tục lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ xưa đến nay vua Đại Việt vẫn có tục lấy chàm vẽ rồng vào đùi, nhưng Anh Tông không muốn theo tục này. Một hôm Thượng hoàng Nhân Tông bảo Anh Tông rằng: "Dòng dõi nhà mình vẫn vẽ mình để nhớ gốc ngày xưa, nay nhà vua phải theo tục ấy mới được".

Anh Tông tuy vâng mệnh nhưng lừa khi Thượng hoàng bận việc khác, lẩn đi không cho vẽ. Từ đấy, vua Đại Việt mới không vẽ mình nữa.

Hôn nhân nội tộc của nhà Trần có từ thời Thái Tông, nhằm để duy trì kín nòi giống dòng tộc nhà Trần, tránh tình trạng ngoại thích có thể lật đổ dòng họ mình, như việc họ đã làm để cướp ngôi nhà Lý. Dưới thời Anh Tông, tục lệ này dần bãi bỏ, khi ngoài chính cung là các công chúa trong hoàng tộc, ông còn kết hôn với những người ngoại tộc khác.

Gả Huyền Trân cho Chiêm Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành, được vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java (Nam Dương ngày nay). Sau đó nhiều lần Chế Mân sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng triều thần nhà Trần phản đối, chỉ có Văn Túc Vương Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành.

Năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) làm hồi môn, vua Trần Anh Tông đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân. Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm hoàng hậu Paramecvari. Một năm sau đó, khi hoàng hậu người Đại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân băng hà. Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang. Theo tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền, đưa Huyền Trân về Đại Việt bằng đường biển.

Sử thần Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử ký Toàn thư chê trách chuyện này:

Ngày xưa Hán Cao Hoàng vì nước Hung Nô nhiều lần làm khổ biên cương, mới lấy con gái nhà dân làm công chúa gả cho thiền vu. Kết hôn với người không cùng giống nòi, các tiên nho đã từng chê trách, song dụng ý là muốn binh yên, dân nghỉ, thì còn có thể nói được. Nguyên Đế thì vì Hô Hàn sang chầu, xin làm rể nhà Hán, nên lấy nàng Vương Tường mà ban cho, cũng là có cớ. Còn như Nhân Tông đem con gái gả cho chúa Chiêm Thành là nghĩa làm sao? Nói rằng nhân khi đi chơi đã trót hứa gả, sợ thất tín thì sao không đổi lại lệnh đó có được không? Vua giữ ngôi trời mà Thượng hoàng đã xuất gia rồi, vua đổi lại lệnh đó thì có khó gì, mà lại đem gả cho người xa không phải giống nòi để thực hiện lời hứa trước, rồi sau lại dùng mưu gian trá cướp về, thế thì tín ở đâu?

Hoàng đế nghiêm khắc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau lần bị Thượng hoàng Nhân Tông quở trách vì rượu chè, Anh Tông bỏ hẳn rượu, không những thế ông còn không ưa những kẻ nghiện rượu. Khoảng năm Hưng Long (1293 - 1314), khuyết chức Hành khiển. Có lần, Ông chầu Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm, Nhân Tông bảo: "Quốc Phụ được đấy!". Ông lại thưa:

"Nếu lấy ngôi thứ mà bàn, thì Quốc Phụ được rồi, chỉ hiềm hắn nghiện rượu thôi!".

Đời Trần, quy định về phục trang, kiệu đi của từng cấp trên dưới rất chặt chẽ và quy củ. Bản thân Anh Tông chấp hành rất nghiêm. Một hôm, Huy Tư hoàng phi đi theo hầu Anh Tông, lệ chưa được đi kiệu. Thuận Thánh hoàng hậu lấy kiệu của mình cho Huy Tư đi thì Anh Tông nhắc nhở:

"Có yêu quý Huy Tư thì cho cái khác, chứ cái kiệu ngồi còn điển chế cũ, không thể cho được".

Nhà Trần tổ chức nhiều cuộc vui cho hoàng tộc và dân chúng, nhưng tuyệt nhiên nghiêm cấm đánh bạc. Năm 1296, Thượng phẩm Nguyễn Hưng đánh bạc, vua sai đánh cho đến chết.

Truyền ngôi và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Anh Tông ở ngôi đến năm 1314, nhường ngôi cho con thứ tư là Trần Mạnh lên ngôi, tức hoàng đế Trần Minh Tông, ông lui về Thiên Trường làm Thái thượng hoàng, tôn hiệu là Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái Thượng Hoàng Đế (光尧睿武太上皇帝).

Năm 1320, Thượng hoàng Anh Tông đau nặng, Bảo Từ hoàng hậu cho đi gọi thầy tăng về để làm lễ xem sự sinh tử, Anh Tông gạt đi mà bảo rằng:Thầy tăng đã chết đâu mà biết được sự chết. Sau đó ông qua đời, hưởng thọ 47 tuổi, tại Trùng Quang cung, thuộc phủ Thiên Trường.

Ngày 12 tháng 12, năm 1320, ông được an táng vào Thái lăngYên Sinh. Miếu hiệuAnh Tông (英宗), thụy hiệuỨng Thiên Quảng Vận Hiển Văn Duệ Vũ Khâm Minh Nhân Hiếu hoàng đế (應天廣運顯文睿武欽明仁孝皇帝).

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Trần Anh Tông có Thủy vân tùy bút (Tùy bút nước mây) gồm 2 quyển, dưới mỗi bức hoạ đều có thơ đề, nhưng ông đã sai đốt trước khi chết. Nay thơ ông chỉ còn lại 12 bài chép trong Việt âm thi tập, có bài làm trên đường đi đánh giặc, có bài vịnh sử, có bài bàn về đạo Thiền. Đáng chú ý là những bài tả cảnh như các bài Vân tiêu am, Đông Sơn tự [2]. Tập thơ này được Phan Huy Chú khen là bài nào cũng là thanh tân và có lực lượng (Văn tịch chí).

Ngoài ra ông còn có bài Thạch dược châm (Bài châm về những lời can ngăn trung trực)[3].

Bài Đông Sơn tự (東山寺):

東山寺
...
風搖解虎秋蟬過,
月瀉軍持夜澗寒。
休向五臺勞夢寐,
看來天下幾東山。
Đông Sơn tự
...
Phong dao giải hổ thu thiền quýnh,
Nguyệt tả quân trì dạ giản hàn.
Hưu hướng Ngũ Đài lao mộng mị,
Khan lai thiên hạ kỷ Đông San.
Chùa Đông Sơn
...
Gió lay gậy thần tích, tiếng ve mùa thu im vắng,
Trăng tãi ánh sáng xuống bình nước, dòng suối ban đêm lạnh lẽo.
Dừng nhọc lông mơ tưởng đến núi Ngũ Đài làm gì.
Xem trong thiên hạ được mấy cảnh Đông Sơn?

Bài Đông Cảnh (冬景), tả cảnh mùa đông như sau:

冬景
...
蒼描翠抹削晴峰,
紫府樓臺倚半空。
幾度碧桃先結實,
洞天三十六春風。
Đông cảnh
...
Thương miêu thuý mạt tước tình phong,
Tử phủ lâu đài ỷ bán không.
Kỷ độ bích đào tiên kết thực,
Động thiên tam thập lục xuân phong.
Cảnh mùa đông
...
Vẽ mầu xanh, tô mầu thuý, thiên nhiên đẽo gọt nên chỏm núi tạnh sáng,
Lâu đài của phủ tía dựa vào lưng chừng trời.
Cây bích đào mấy lần đã kết quả trước,
Gió xuân thổi khắp ba mươi sáu động trời.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Bảo Từ Thuận Thánh hoàng hậu Trần thị (保慈順聖皇后陳氏; ? - 1330), cháu nội Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, con gái Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng. Anh Tông kế vị phong làm Thánh Bà Phu nhân (聖婆夫人) rồi Thuận Thánh Hoàng hậu (順聖皇后). Minh Tông kế vị tấn tôn làm Thuận Thánh Hoàng thái hậu (順聖皇太后).
  2. Chiêu Từ Hoàng hậu Trần thị (昭慈皇后陳氏; ? - 1359), nguyên là Quý phi của Anh Tông, con gái Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng, không xuất thân từ hoàng tộc họ Trần. Minh Tông kế vị, Anh Tông trở thành Thái thượng hoàng, bà được tấn tôn làm Huy Tư nguyên phi (徽思元妃), rồi lại Huy Tư hoàng thái phi (徽思太皇妃), cuối cùng thành Chiêu Hiến Hoàng thái hậu (昭憲皇太后). Sau khi qua đời, bà được an táng cùng Anh Tông trong Thái Lăng, truy phong làm Hoàng hậu.
  3. Tĩnh Huệ phi Phạm thị (静惠妃范氏), con gái Phạm Ngũ Lão, không con, xuất gia năm 1309.
  4. Đa La Thanh, con gái sư người Hồ là Du Chi Bà Lam.
  5. Cung tần Trần Thị Thái Bình (宮嬪陳氏太平).
  6. Nữ quan Vương thị (女官王氏).
  • Hậu duệ:
  1. Ba người con trai mất sớm, không rõ tên.
  2. Trần Mạnh [陳奣], Minh Tông Duệ Hiếu Hoàng đế (明宗睿孝皇帝), con của Chiêu Từ Hoàng hậu.
  3. Thiên Chân Công chúa [天袗公主], con gái Bảo Từ Hoàng hậu, lấy Huệ Chính Vương.
  4. Ý Trinh Công chúa [懿貞公主].
  5. Huy Chân Công chúa [徽袗公主], con gái Cung tần Trần Thị Thái Bình, lấy Uy Giản Hầu.
  6. Huệ Chân Công chúa [惠袗公主, con gái Nữ quan Vương thị.
  7. Thánh Chân Công chúa [聖袗公主].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Công thần nhà Trần Đoàn Nhữ Hài: Danh vọng và nỗi hàm oan
  2. ^ Theo Từ điển bách khoa Việt Nam [1].
  3. ^ Theo Trần Thị Băng Thanh, mục từ "Trần Thuyên" in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nxb Thế giới, 2004, tr. 1807.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]