Trần Thừa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Thái Tổ
Thái thượng hoàng Việt Nam (chi tiết...)
Thái thượng hoàng nhà Trần
Nhiếp chính 1225 - 1234
Tiền nhiệm Lý Huệ Tông
Kế nhiệm Trần Thái Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Thuận Từ hoàng hậu
Hậu duệ
Tên húy Trần Thừa
Thụy hiệu Khai Vận Lập Cực Hoằng Nhân Ứng Đạo Thuần Chân Chí Đức Thần Vũ Thánh Văn Thùy Dụ Chí Hiếu Hoàng Đế
開運立極弘仁應道純真至德神武聖文垂裕至孝皇帝
Miếu hiệu Huy Tông
Thái Tổ[1]
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Lý
Sinh 1184
làng Tức Mặc, Thiên Trường
Mất 17 tháng 2, 1234
Phụ Thiên cung, Thăng Long
An táng 28 tháng 8, 1234, Huy Lăng

Trần Thừa (chữ Hán: 陳承, 1184 - 1234[2]) hay đôi khi còn được gọi là Trần Thái Tổ (陳太祖), là Thái thượng hoàng đầu tiên của nhà Trần, và là một trong hai Thái thượng hoàng chưa từng làm Hoàng đế, người kia là Sùng Hiền hầu.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là con trai cả của Trần Lý, anh ruột[3] của Trần Tự Khánh và Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung, cha ruột của Hoàng đế Trần Thái Tông và An Sinh vương Trần Liễu.

Ông tổ của Trần Thừa là Trần Kính vốn người đất Mân (có người nói là Quế Lâm), sau chuyển tới hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường[2] (nay thuộc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định), đến đời ông dời về sinh sống tại phủ Long Hưng (Thái Bình).[4] Gia đình ông, cho tới đời ông, đều làm nghề đánh cá.

Phụ chính nhà Lý[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thừa lớn lên khi cơ nghiệp nhà Lý đã suy yếu. Vua Lý Cao Tông chơi bời vô độ, dân chúng bị cùng khốn, nổi dậy khởi nghĩa. Các tướng lĩnh địa phương cũng nhân lúc loạn lạc nuôi ý định xây dựng lực lượng riêng, trong đó có cha Trần Thừa là Trần Lý ở Hải Ấp.

Năm 1209, xảy ra loạn Quách Bốc. Vua Lý Cao Tông chạy lên Quy Hoá, thái tử Sảm chạy về Hải Ấp, nơi Trần Lý cai quản. Thái tử Sảm lấy con gái của Trần Lý, em Trần Thừa là Trần Thị Dung làm vợ. Nhân có chính lệnh của thái tử Sảm và có em vợ là Tô Trung Từ làm quan trong triều, Trần Lý có lý do phát triển lực lượng để đánh Quách Bốc. Trần Thừa cùng Trần Tự Khánh giúp cha và cậu thực hiện ý định đó.

Năm sau 1210, Tô Trung Từ và Trần Lý đánh bại Quách Bốc. Trong khi đánh dẹp, Trần Lý bị tử trận[5]. Không lâu sau Cao Tông mất, hoàng tử Sảm lên ngôi vua, tức là Lý Huệ Tông. Huệ Tông lập Trần Thị Dung làm nguyên phi. Cậu Trần Thừa là Tô Trung Từ nắm quyền điều hành triều chính.

Tháng 7 năm 1211, Trung Từ đang đêm sang Gia Lâm tư thông với công chúa Thiên Cực, bị quan nội hầu Vương Thượng là chồng công chúa giết chết[6][7]. Con rể của Tô Trung Từ là Nguyễn Ma La (cũng gọi là Nguyễn Đà La) thấy cha vợ bị giết, triều đình nghiêng ngả, bèn sang nói với Trần Thừa, xin tiến binh dẹp yên ấp Khoái. Nguyễn Ma La cùng với vợ là Tô thị (em họ Trần Thừa) lên thuyền sang đạo Thuận Lưu để gặp bộ tướng của Tô Trung Từ là Nguyễn Trinh thì bị Nguyễn Trinh giết rồi cướp lấy Tô thị đem về. Tô thị bèn sai người tố cáo với Trần Thừa. Ông lập mưu sai Tô thị dụ Nguyễn Trinh đến và giết chết.

Thiên hạ hỗn loạn, nhiều hào trưởng nổi dậy tranh hùng. Năm 1213, không chịu sự thao túng của Trần Tự Khánh, Lý Huệ Tông cùng thái sư Đàm Dĩ Mông tự làm tướng, hẹn với quân Hồng châu của họ Đoàn đi đánh họ Trần. Hai bên chia quân, Trần Thừa đón đánh Đàm Dĩ Mông ở bến An Diên [8], còn Tự Khánh đón đánh Lý Huệ Tông ở Mễ Sở. Lý Huệ Tông thất thế phải chạy lên Lạng Châu.

Trong những năm sau, nhờ tài cầm quân của Trần Tự Khánh, anh em họ Trần chiếm ưu thế trong cuộc chiến với các hào trưởng địa phương và nắm được triều đình nhà Lý. Nhờ công phò tá triều Lý, ông được Lý Huệ Tông phong làm Nội thị phán thủ năm Bính Tý (1216)[3].

Năm 1223, sau khi Trần Tự Khánh mất, ông được Lý Huệ Tông phong làm Thái úy phụ chính[3]. Trên thực tế, quyền điều hành triều chính do em họ ông là Trần Thủ Độ đảm nhiệm.

Thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1225, con trai ông là Trần Cảnh mới 8 tuổi lên làm vua, mở đầu cho thời đại nhà Trần. Ông làm nhiếp chính cho con trai mình. Tháng 10 năm 1226, ông được tôn làm thái thượng hoàng[2], được ở Phụ Thiên cung.

Ông mất ngày 18 tháng Giêng năm Giáp Ngọ, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 3 (tức 17 tháng 2 năm 1234), thọ 51 tuổi, táng ở Thọ Lăng phủ Long Hưng (nay thuộc huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình). Miếu hiệuHuy Tông, tên thụy là Khai Vận Lập Cực Hoằng Nhân Ứng Đạo Thuần Chân Chí Đức Thần Vũ Thánh Văn Thùy Dụ Chí Hiếu Hoàng Đế[2].

Tháng Giêng năm Mậu Thân (1248), Trần Thái Tông đổi miếu hiệu của ông từ Huy Tông thành Thái Tổ, đổi gọi Thọ Lăng thành Huy Lăng[2].

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ chính thức của ông là Thuận Từ Quốc Thánh hoàng hậu Lê thị (順慈國聖皇后黎氏; ? - 1230). Ngoài ra, ông còn một người vợ không chính thức cũng không rõ họ tên, sinh ra Trần Bà Liệt.

Các con của ông là:

  1. An Sinh vương Trần Liễu [安生王陳柳], cha của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.
  2. Trần Cảnh [陳煚], Thái Tông Nguyên Hiếu hoàng đế (太宗元孝皇帝).
  3. Khâm Thiên vương Trần Nhật Hiệu [欽天王陳日晈].
  4. Hoài Đức vương Trần Bà Liệt [懷德王陳婆列].
  5. Thụy Bà công chúa [瑞婆公主], cô Trần Quốc Tuấn, nuôi Quốc Tuấn từ nhỏ.
  6. Thiên Thành công chúa [天城公主], sau lấy Trần Quốc Tuấn.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sau khi mất truy tôn là Huy Tông,sau cải là Thái Tổ
  2. ^ a ă â b c Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, quyển V
  3. ^ a ă â Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, quyển IV
  4. ^ Long Hưng, vùng đất phát nghiệp đế
  5. ^ Sử sách chép không rõ về cái chết của Trần Lý. Có ý kiến cho rằng Trần Lý bị quân giặc cướp giết, vì lúc đó rất hỗn loạn; có ý kiến cho rằng Trần Lý chết vì quân Quách Bốc.
  6. ^ Tương truyền theo luật nhà Lý, nếu nam nữ tư thông mà bị bắt quả tang thì người chồng có thể giết chết tình địch mà không bị tội.
  7. ^ Xem Đại Việt Sử Lược, trang 95, bản điện tử.
  8. ^ Thường Tín, Hà Nội