Trần Thuận Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Thuận Tông
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Vua nhà Trần
Trị vì 1388 - 1398
Tiền nhiệm Trần Phế Đế
Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông
Kế nhiệm Trần Thiếu Đế
Thái thượng hoàng nhà Trần
Tại vị 1398 - 1399
Tiền nhiệm Trần Nghệ Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Khâm Thánh hoàng hậu
Tên húy Trần Ngung
Niên hiệu Quang Thái (1388 - 1398)
Miếu hiệu Thuận Tông
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Nghệ Tông
Sinh 1377
Mất 1399
Tôn giáo Phật giáo

Trần Thuận Tông (chữ Hán: 陳順宗, 1378 – 1398) là vua thứ 11 nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, tên thật là Trần Ngung (陳顒), sinh tại kinh đô Thăng Long, Hà Nội, Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Thuận Tông là con út của thượng hoàng Trần Nghệ Tông, khi còn nhỏ được phong là Chiêu Định Vương, lên làm vua khi mới 11 tuổi, lập con gái trưởng của Hồ Quý Ly là Thánh Ngâu làm hoàng hậu.

Nội loạn - Ngoại xâm[sửa | sửa mã nguồn]

Vua cha Nghệ Tông tin dùng Hồ Quý Ly. Mọi việc trong triều do Nghệ Tông sắp đặt nhưng phần nhiều theo lời Quý Ly.

Trước em họ Trần Ngung là Trần Phế Đế được thượng hoàng lập làm vua, nhưng do Phế Đế muốn trừ Quý Ly, Quý Ly xui thượng hoàng phế bỏ. Do đó thượng hoàng nghe theo, phế và giết Phế Đế, lập ông lên ngôi.

Hồ Quý Ly tiếp tục chuyên quyền, sau khi gả con gái là Thánh Ngẫu cho ông lại gài tay chân thân tín nẵm giữ những chức vụ then chốt trong quân đội và trong triều đình, khiến cho lòng dân hoang mang bất phục. Người ở Thanh Hoá theo Nguyễn Thanh làm loạn, người ở Nông Cống là Nguyễn Kỵ cũng tụ họp bè đảng đi cướp. Đáng chú ý nhất là nhà sư Phạm Sư Ôn ở Quốc Oai, Sơn Tây đã khởi binh tiến đánh kinh sư khiến cho Thượng hoàng và Thuận Tông cùng triều đình bỏ chạy lên Bắc Giang. Phạm Sư Ôn giữ kinh đô 3 ngày rồi rút về Quốc Oai, sau bị tướng Hoàng Phùng Thế đánh, bắt được.

Năm 1389 Chế Bồng Nga đem quân đánh Đại Việt, vua sai Quý Ly và Nguyễn Đa Phương đi đánh nhưng đánh không thắng.

Năm 1390 tướng Trần Khát Chân được vua sai đi đánh Chiêm, đem binh đóng ở Hải Triều (vùng Hưng Nhân,Thái Bình và Tiên Lữ, Hưng Yên). Chế Bồng Nga đi thị sát trận địa, hàng tướng của Chiêm Thành cho Khát Chân biết dấu hiệu thuyền của Chế Bồng Nga, Chân cho quân tập trung mọi loại vũ khí bắn vào thuyền đó, giết được Chế Bồng Nga, quân Chiêm đại bại, hai người con của Chế Bồng Nga về hàng quân Trần, được vua Trần trọng dụng.

Họa xâm lấn của Chiêm Thành tạm yên, Hồ Quý Ly càng lộng hành, những người không ăn cánh đều bị Quý Ly xúi bẩy thượng hoàng giết hại, trong đó có nhiều hoàng tử thân vương. Sĩ phu có người dâng sớ tâu với Thượng hoàng mưu đồ dòm ngó cơ nghiệp nhà Trần của Quý Ly thì Nghệ Tông lại đem cho Quý Ly xem, từ đó không ai dám tâu bày gì nữa.

Đến ngày 15 tháng 12 năm 1394, Nghệ Tông mất, Quý Ly lên làm Nhập nội phụ chính Thái sư bình chương quân quốc trọng sự. Tuyên trung vệ quốc đại vương, đeo lân phù vàng.

Trong tay họ Hồ[sửa | sửa mã nguồn]

Thuận Tông còn nhỏ tuổi, lại nhu nhược, việc trị vì nay đều dựa vào Quý Ly, Quý Ly chép thiên Vô dật trong Kinh thư, có ý khuyên vua không nên nhàn rỗi mà phải lo nghiên cứu học tập, sửa mình.

Năm 1396, Thuận Tông xuống chiếu định lại cách thi cử nhân, dùng thể văn bốn kì thay cho thể ám tả cổ văn. Cụ thể là :

  • Kì 1 thi một bài kinh nghĩa trên 500 chữ.
  • Kì 2 thi một bài Đường luật, một bài phú trên 500 chữ.
  • Kì 3 thi một bài chiếu chữ Hán, một bài chế, một bài biểu.
  • Kì 4 thi một bài văn sách trên 1000 chữ.

Thuận Tông lại cho phát hành tiền giấy, lệnh cho mọi người đem tiền đồng đến quy đổi, 1 quan tiền đồng được 1,2 quan tiền giấy.[1]

Năm 1397, Quý Ly ép vua rời đô về An Tông phủ Thanh Hoá. Nguyễn Nhữ Thuyết có thư can rằng:

An Tôn là đất chật hẹp hẻo lánh, cuối nước đầu non, nên với loạn mà không nên với trị, chỉ cậy hiểm được thôi

Nhưng Quý Ly không nghe, quyết định dời đô, đổi trấn Thanh Hóa thành Thanh Đô, trấn Quốc Oai thành Quảng Oai, Đà Giang thành Thiên Hưng, định quan chức ở các lộ, phủ, bổ nhiệm các chức tổng quản, thái thú.

Vua còn hạ lênh cho các lộ phủ đặt học quan, cho ruộng công theo thứ bậc khác nhau chi phí cho nhà học, hạn chế ruộng đất tư hữu, trừ các đại vương và trưởng công chúa, còn lại chỉ có số nhất định, thừa nộp cho nhà nước.

Tình hình phương Nam lúc này cũng tạm ổn do các tướng Chiêm, trong đó có Chế Đa Biệt đem cả nhà sang hàng.

Năm 1398, Quý Ly ép vua ngường ngôi cho hoàng thái tử An, lên làm thái thượng hoàng và khuyên vua đi tu theo Đạo giáo. Chiếu nhường ngôi viết:

Trẫm trước vốn mộ đạo, không có bụng làm vua, không có đức mà tạm giữ ngôi thực khó làm nổi. Huống chi bệnh thần kinh thường phát ra, thờ cúng và chính sự đều không làm được. Lời thề nguyền trước trời đất quỷ thần đều nghe. Nay nên nhường ngôi để vững nghiệp lớn, hoàng thái tử Án có thể lên ngôi hoàng đế. Phụ chính thái sư Lê Quý Ly [2] là quốc tổ nhiếp chính. Trẫm tự làm thái thượng nguyên quân hoàng đế, tu dưỡng ở cung Bảo Thanh để thỏa chí xưa.

Thái tử An lên ngôi, tức là Trần Thiếu Đế.

Bị giết[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm Kỷ Mão 1399, Quý Ly ép Thuận Tông phải đi tu đạo ở quán Ngọc Thanh thôn Đạm Thuỷ, Quý Ly lại mật sai nội tẩm học sinh Nguyễn Cẩn đi theo để giám sát thượng hoàng ở quán Ngọc Thanh là chỗ ông tu hành. Sau đó Quý Ly làm bài thơ bảo Cẩn đưa cho ông, với 4 câu:

Tiền hữu dung ám quân,
Hôn Đức cập Linh Đức.
Hà bất tảo an bài,
Đồ sử lao nhân lực.

Dịch là:

Trước đó vua hèn ngu,
Hôn Đức và Linh Đức[3]
Sao không sớm liệu đi,
Để cho người nhọc sức?

Cẩm bèn dâng thuốc độc. Thượng hoàng không chết, lại dâng nước dừa và không cho ăn mà vẫn không chết. Sau đó Quý Ly sai tướng Phạm Khả Vĩnh thắt cổ Thượng hoàng chết và chôn ông ở lăng Yên Sinh, miếu hiệu là Thuận Tông. Năm đó ông mới 22 tuổi.

Năm sau, Quý Ly phế Trần An, cướp ngôi nhà Trần.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vợ: Thánh Ngâu, con gái lớn của Quý Ly, tức Khâm Thánh hoàng hậu.
  • Con: Trần An, tức Trần Thiếu Đế. Hồ Quý Ly cướp ngôi, phế làm Bảo Ninh đại vương

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Các triều đại Việt Nam - Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh niên, 2001
  • Hoàng đế triều Trần - Trường Khánh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Giấy một quan vẽ rồng, 5 tiền vẽ phượng, 3 tiền vẽ lân, 2 tiền vẽ rùa, 1 tiền vẽ mây, 10 đồng vẽ rong
  2. ^ Họ Hồ là họ của tổ tiên Quý Ly là Hồ Hưng Dật làm thái thú Diễn Châu từ thời Dương Tam Kha, đến đời thứ 12 thì có Hồ Liêm làm con nuôi tuyên úy Lê Huấn nên đổi thành họ Lê. Sau này Ly lên ngôi lại đổi lại thành họ Hồ vì thế Hồ Quý Ly cũng là Lê Quý Ly
  3. ^ Tức Dương Nhật LễTrần Phế Đế là 2 vua bị phế và bị giết trước đó

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]