Thái Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thái Bình
Tỉnh
Chuakeothaibinh.jpg
Chùa Keo, Thái Bình
Địa lý
Tọa độ: 20°32′20″B 106°23′40″Đ / 20,538935°B 106,394348°Đ / 20.538935; 106.394348Tọa độ: 20°32′20″B 106°23′40″Đ / 20,538935°B 106,394348°Đ / 20.538935; 106.394348
Diện tích 1.570,0 km²[1]
Dân số (2012)  
 Tổng cộng 1.787.300 người[1]
 Mật độ 1.138 người/km²
Dân tộc Việt, Tày, Mường, Hoa
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Hồng
Tỉnh lỵ Thành phố Thái Bình
 Chủ tịch UBND Phạm Văn Sinh
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Hồng Diên
 Bí thư Tỉnh ủy Trần Cẩm Tú
Phân chia hành chính 1 thành phố, 7 huyện
Mã hành chính VN-20
Mã bưu chính 41xxxx
Mã điện thoại 36
Biển số xe 17
Website http://www.thaibinh.gov.vn/

Thái Bình là một tỉnh ven biểnđồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt Nam. Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía đông nam, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía tây nam. Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phía tây bắc, Hải Phòng ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây, Nam Định ở phía tây và tây nam. Phía đông là biển Đông (vịnh Bắc Bộ). Theo quy hoạch phát triển kinh tế, Thái Bình thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình khá bằng phẳng với độ dốc thấp hơn 1%; độ cao phổ biến từ 1–2 m trên mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam. Thái Bình có bờ biển dài 52 km.

Tỉnh này có 4 con sông chảy qua: phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53 km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km. Các sông này tạo ra 4 cửa sông lớn: Diêm Điền (Thái Bình), Ba Lạt, Trà Lý, Lân. Do đặc điểm sát biển nên chúng đều chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh với lưu lượng lớn và hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều và lượng phù sa không đáng kể khiến nước mặn ảnh hưởng sâu vào đất liền từ 15–20 km.

  • Tọa độ: 20°18′đến 20°44′độ vĩ bắc, 106°06′đến 106°39′độ kinh đông.

Khí hậu - Thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9; mùa đông khô lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau; tháng 10 và tháng 4 là mùa thu và mùa xuân tuy không rõ rệt như các nước nằm phía trên vành đai nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình: 23,5 °C. Số giờ nắng trong năm: 1.600-1.800 giờ. Độ ẩm tương đối trung bình: 85-90%

Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển

Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng cận nhiệt đới ẩm, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển. Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ,người ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8492 km, mật độ bình quân từ 5–6 km/km2. Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam. Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình.

Hệ Thống sông ngoài đê: Phía tây, tây nam và phía nam (đoạn ngã ba sông Luộc đến cửa Ba Lạt) có sông Hồng chảy uốn khúc, quanh co, là nguồn cung cấp nước và phù sa chính cho Thái Bình. Phía tây bắc là sông Luộc (một chỉ lưu của sông Hồng), đây là sông cung cấp nước cho các huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà. Phía đông bắc là sông Hóa chảy ra cửa sông Thái Bình. Sông Trà Lý (một chỉ lưu của sông Hồng) bắt nguồn từ sông Hồng chảy ra biển, chia đôi Thái Bình thành hai khu: Khu bắc và khu nam. Sông Diêm Hộ, chảy qua một phần huyện Đông Hưng và chia đôi huyện Thái Thụy (phần Thụy Anh, phần Thái Ninh cũ) và chảy ra biển thông qua cống Trà Linh

Hệ thống sông trong đê: Thái Bình còn có hệ thống sông ngòi trong đê chằng chịt chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt của người dân. Sau đây là một số sông nội bộ của tỉnh:

  • Khu vực bắc Thái Bình:

Sông Tiên Hưng: Vốn là con sông tự nhiên chạy uốn quanh các huyện Hưng Hà và Đông Hưng. Sông dài 51 km, rộng 50-100m, tưới tiêu cho các vùng đất ven sông và là đường giao thông thủy quan trọng của vùng này. Sông Sa Lung: Sông đào, khởi công từ năm 1896 đến năm 1900 thì, dài khoảng 40 km, chảy qua các phủ huyện Hưng Nhân, Duyên Hà (nay là Hưng Hà) Tiên Hưng, Đông Quan (nay là huyện Đông Hưng), Thái Ninh nay là huyện Thái Thụy. Sông Quỳnh Côi: Còn gọi là sông Yên Lộng hay sông Bến Hiệp. Đây là con sông đào xuyên qua một phần huyện Quỳnh Phụ, xuôi xuống Đông Hưng, có chiều dài khoảng 15 km, bắt đầu từ cống Bến Hiệp nối với sông Tiên Hưng ở xã Liên Giang. Sông Đại Nẫm: Cũng là con sông chạy qua huyện Quỳnh Phụ, dài 16 km, bắt nguồn từ cống Đại Nẫm nối với Diêm Hộ. Sông Diêm Hộ: Là con sông tiêu nước quan trọng nhất trong hệ thống thủy nông ở khu vực bắc Thái Bình. Hầu hết các con sông nội đồng trong khu vực đều đổ ra sông Diêm Hộ. Khi chưa có cống Trà Linh, sông Diêm Hộ trở thành con sông trong đê với chức năng chính là tiêu úng cho các huyện phía bắc Thái Bình. Sông Thuyền Quan: Là con sông đào, nối với sông Tiên Hưng ở ranh giới xã Đông Giang - Đông Kính, với sông Sa Lung ở xã Đông Vinh, với sông Trà Lý ở ranh giới xã Đông Lĩnh (Đông Hưng) - Thái Hà (Thái Thụy) dài 9 km. Sông Hệ: Nối sông Hóa với sông Diêm Hộ, dài 12 km, chạy qua mấy xã thuộc Quỳnh Phụ, Thái Bình.

  • Khu vực nam Thái Bình

Sông Cự Lâm: Chảy từ sông Trà Lý ở xã Xuân Hòa qua các xã Hiệp Hòa, Song Lãng, Minh Lãng, Minh Quang, nối với sông Vĩnh Trà ở Thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư. Đoạn sông này dài 14 km. Sông Búng: Chảy qua các xã Hiệp Hòa, Việt Hùng, Dũng Nghĩa, Tân Lập, nối sông Trà Lý với sông Hồng, dài khoảng 13 km. Sông Bạch: Chảy từ cống Nạng (sông Trà Lý) ở ranh giới xã Tân hòa, Phúc Thành uốn lượn qua Tân Phong, Tân Bình (Vũ Thư), phường Tiền Phong, xã Phú Xuân, nối với sông Vĩnh Trà ở phường Phú Khánh Thành phố Thái Bình. Sông Kiến Giang: Là con sông đào gồm nhiều đoạn khác nhau. Dòng chính nối từ sông Vĩnh Trà ở Thành phố Thái Bình, qua một số xã ở huyện Vũ Thư rồi chảy qua huyện Kiến Xương, Tiền Hải, đổ vào Sông Lân, dài 30 km. Đây là con sông quan trọng cho việc tưới tiêu đồng ruộng phía nam Thái Bình và là đường vận tải thủy quan trọng trong khu vực. Có thể nói, nó là xương sống của hệ thống thủy lợi khu nam Thái Bình. Nó có hệ thống sông ngòi, mương máng nối với sông Hồng, sông Trà Lý thông qua các cống. Hầu hết các con sông khác trong khu vực đều có mối liên hệ với sông Kiến Giang, như sông Nguyệt lâm, Dực Dương... Sông Kiến Giang là con sông tương đối đẹp, một nơi có đôi bờ là điểm quần tụ dân cư đông đúc, trù phú, làng mạc xanh tươi. Sông Nguyệt Lâm: Là sông đào đi từ cống Nguyệt Lâm, lấy nước từ sông Hồng (xã Vũ Bình, huyện Vũ Thư), nối với sông Kiến Giang ở xã Hòa Bình, huyện Kiến Xương chiều dài 13 km. Sông Dực Dương: Cũng là sông đào đi từ cống Dực Dương, lấy nước sông Trà Lý, tại vị trí xã Trà Giang, nối sông Kiến Giang ở xã Bình Minh huyện Kiến Xương dài 13 km. Sông Hương: Nối sông Hồng với sông Kiến Giang, từ xã Bình Thanh huyện Kiến Xương đến đến xã Phương Công huyện Tiền Hải. Sông Lân: Trước kia là một nhánh của sông Hồng đổ ra biển. Hiện nay nó trở thành con sông trong đê, chạy từ ranh giới xã Hồng Tiến (huyện Kiến Xương) - Nam Hải (Tiền Hải) chảy ròng ra biển. Từ ngày đắp đê, xây dựng cống Lân, nó trở thành con sông nội đồng. Con sông này tưới tiêu nước cho huyện Kiến Xương và Tiền Hải. Cống Lân làm nhiệm vụ ngăn nước mặn và tiêu nước mỗi khi ngập úng nội đồng, đồng thời điều tiết tưới tiêu cho khu vực nam Thái Bình. Sông Long Hầu: Nối sông Trà Lý với sông Kiến Giang từ xã Đông Quý đến xã Đông Lâm (Tiền Hải). Quá trình hình thành các con sông lớn nhỏ của Thái Bình là sự kết hợp giữa sự phát triển tự nhiên và nhu cầu hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người. Các con sông tự nhiên được hình thành do quá trình vận động của các dòng chảy, bắt đầu từ thượng nguồn, về phía hạ lưu hướng dòng chảy luôn thay đổi do sông uốn khúc nhiều. Sông Hồng trước đây thường hay thay đổi dòng chảy. Từ khi hình thành hệ thống đê điều, dòng chảy của sông Hồng ổn định gần như diện mạo hôm nay. Hệ thống sông trong đê là kết quả quá trình chinh phục của con người, nhằm hạn chế tác hại của thiên tai, tận dụng các điều kiện tự nhiên để tưới tiêu trong nông nghiệp. Trải qua nhiều thập niên, người nông dân Thái Bình liên tục cải tạo, khơi sâu, nắn dòng các con sông nội đồng với mục đích tưới tiêu thuận lợi và một phần phục vu vận tải đường thủy.

Ao, hồ, đầm[sửa | sửa mã nguồn]

Trên địa bàn Thái Bình không có các hồ, đầm lớn, chủ yếu là các ao nhỏ, nằm xen kẽ với làng xóm hoặc ven đê, ven biển do lấy đất đắp đê hoặc do vỡ đê tạo thành các điểm trũng tích nước. Các ao hồ nhỏ nằm rải rác, xen kẽ các khu dân cư là kết quả của quá trình tạo lập đất ở. Xưa kia, đất được bồi đắp không bằng phẳng, chỗ cao chỗ thấp, người ta đào ao lấy đất đăp nền nhà, tạo thành vườn tược, và tận dụng nguồn nước từ ao hồ quanh nhà để lấy nước sinh hoạt. Vì vậy phần lớn làng xóm, cư dân của Thái Bình (nhà cửa, ruộng vườn) đều gần với ao đầm. Tổng diện tích ao hồ gần 6.575ha, chiếm 4,25% đất đai của tỉnh. Các ao hồ của Thái Bình thường có diện tích không lớn (khoảng 200-300m2). Những năm gần đây, diện tích một số ao hồ được cải tạo, có xu hướng tập trung thành quy mô trang trại để nuôi tôm cá theo quy trình bán công nghiệp. Bước đầu một số ao hồ nuôi tôm cá đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là các vùng nuôi tôm ở các ao đầm ven biển (tôm sú, tôm rảo..)

Biển[sửa | sửa mã nguồn]

Biển Thái Bình nằm trong vùng biển vịnh Bắc Bộ, là một phần của Biển Đông. Biển Đông là một biển lớn thông với Thái Bình Dương qua các eo biển rộng. Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây bắc biển Đông, thực ra là phần lục địa bị chìm dưới nước biển do đó biển nông, nơi sâu nhất không quá 200m. Nước ngầm

Thái Bình là bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng, thuộc trầm tích bờ rời Đệ Tứ có nguồn gốc song - biển hỗn hợp. Xét về mặt tổng thể thì trầm tích này có khả năng chứa nước rất lớn, mực nước ngầm nông, dễ khai thác.

Theo tài liệu nghiên cứu về địa chất và thủy văn, vùng này có sự phân đới thủy địa hóa theo phương nằm ngang và phương thẳng đứng như sau:

Phân đới thủy hóa theo phương nằm ngang:

Phân đới thủy hóa theo phương nằm ngang, lấy sông Trà Lý chảy qua giữa tỉnh làm ranh giới: Phía bắc sông Trà Lý gồm các huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ và một số xã thuộc huyện Thái Thụy gần khu vực sông Hóa, nằm trong đới nước ngọt có tổng độ khoáng hóa dao động từ 300–500 mg/l. Các tầng chứa nước ngọt rất tốt. Phía nam sông Trà Lý bao gồm các huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, phần lớn huyện Thái Thụy và Thành phố Thái Bình nằm trong đới nước mặn. Các lỗ khoan cho thấy, nước khoan lên có tổng độ khoáng hóa dao động trong khoảng 600-2.500 mg/l, nước thuộc loại Clorua Natri. Do bị nhiễm mặn nên không đạt tiêu chuẩn dùng cho nước sinh hoạt.

  • Phân đới thủy hóa theo phương thẳng đứng

Phân đới thủy hóa theo phương thẳng đứng từ mặt đất đến độ sâu 140m bao gồm các tầng cách nước và chứa nước sau:

+ Tầng chứa nước nghèo thuộc hệ tầng Thái Bình

+ Tầng cách nước thuộc hệ tầng Hải Hưng II

+ Tầng chứa ít nước thuộc hệ tầng Hải Hưng II

+ Tầng cách nước thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc I

+ Tầng chứa nước lỗ hổng thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc II

+ Tầng chứa nước trong trầm tích cát - cuội- sỏi hệ Hà Nội

Tài nguyên nước[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên nước trong dòng chảy mặt ở Thái Bình rất phong phú. Mật độ sông ngòi dày đặc chứa và lưu thông một lượng nước mặt khổng lồ. Nguồn cung cấp hàng tỷ m3 từ các con sông lớn như sông Hồng, sông Trà Lý, sông Thái Bình, cộng vào đó là lượng nước mưa nhận được hàng năm cũng rất lớn (hàng tỉ tấn). Đây là điều kiện thuận lợi để cư dân sử dụng tài nguyên nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất ở mọi nơi trong tỉnh. Các dòng chảy mặt đã được sử dụng tưới tiêu cho đồng ruộng thông qua hệ thống thủy lợi: mương, máng tưới tiêu, hệ thống cống tự chảy...

Dòng chảy mặt của các con sông nội đồng ngoài tác dụng tưới cho đồng ruộng, phục vụ sinh hoạt của cư dân, còn mang theo các chất thải ở thể lỏng chảy ra biển Đông (nước thải sinh hoạt, nước thau chua, rửa mặn đồng ruộng).

Hệ thống dòng chảy mặt, nhất là hệ thống sông ngòi nội đồng chảy quanh co, ngang dọc trên đất Thái Bình làm thành cảnh quan, tạo ra một khung cảnh sông nước, đồng ruộng, vườn cây trái, hài hòa, yên bình, thơ mộng.

Các tầng chứa nước nông đều có hàm lượng sắt cao, vượt quá tiêu chuẩn cho phép; Để dùng được phải qua xử lý, khử bớt sắt mới đảm bảo tiêu chuẩn cho phép. Hầu hết các giếng khoan đã có biểu hiện ô nhiễm các chất hữu cơ do tàn tích của các loài thực vật, có xuất hiện các ion độc hại như NH4, NO2, P04, S...

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích cát - cuội- sỏi hệ tầng Hà Nội sâu 80-140m có khả năng chứa nước lớn, có giá trị cung cấp cả về số lượng lẫn chất lượng cho những trạm xử lý và cung cấp nước trung bình và nhỏ. Do tầng chứa nước ở dưới sâu nên khả năng gây ô nhiễm nguồn nước trong tầng này được bảo vệ bởi các tầng chứa nước phía trên. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn khi khai thác và sử dụng, cần lưu ý biện pháp bảo vệ và khai thác với mức độ hợp lý.

Nước ngầm tầng mặt của Thái Bình, về mùa khô chỉ đào sâu xuống 1-1,5m, mùa mưa chỉ đào sâu chưa đến 1m. Tuy nhiên, đây chỉ là nước ngầm trên mặt, nếu đào sâu xuống sẽ gặp nước mặn và chua, độ trong không đảm bảo, không thể dùng trong sinh hoạt ngay được mà cần phải xử lý. Càng sâu trong đất liền (Quỳnh Phụ, Hưng Hà) thì mức độ mặn, chua giảm hơn.[2]

Khu dự trữ sinh quyển thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Thái Bình có 2 trong số 5 khu vực đa dạng sinh học được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng, 3 khu vực còn lại thuộc Nam ĐịnhNinh Bình.

Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng nằm trên địa bàn các xã ven biển thuộc 3 tỉnh Thái Bình, Nam ĐịnhNinh Bình đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới từ năm 2004 với những giá trị nổi bật toàn cầu về đa dạng sinh học và có ảnh hưởng lớn đến sự sống của nhân loại.

Khu dự trữ sinh quyển ven biển Thái Bình gồm 2 phần nằm ở cửa biển, nơi giáp Hải PhòngNam Định:

  • Rừng ngập mặn Thái Thuỵ: thuộc các xã Thụy trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thị trấn Diêm Điền, Thái Đô, Thái Thượng.
  • Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải: thuộc các xã Nam Hưng, Nam Phú, Nam Thịnh, Nam Hưng, Nam Phú, Nam Thịnh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ tỉnh Thái Bình năm 1924 thời Pháp thuộc.

Vùng đất thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay, vào thời Bắc Thuộc trước thế kỉ 10, thuộc hương Đa Cương (vùng đất từ sông Luộc ra đến biển) của quận Giao Chỉ. Thời 12 sứ quân vùng đất này là căn cứ của sứ quân Trần Lãm. Tới nhà Hậu Lê, thời vua Lê Thánh Tông về sau vùng đất Thái Bình ngày nay thuộc trấn Sơn Nam. Đến cuối thời nhà Lê trung hưng sang đầu nhà Nguyễn, vùng này thuộc trấn Sơn Nam Hạ. Năm 1832, vua Minh Mạng nhà Nguyễn cắt hai phủ Thái Bình, Kiến Xương nhập vào tỉnh Nam Định, nhập phủ Tiên Hưng vào tỉnh Hưng Yên.

Tỉnh Thái Bình được thành lập vào năm thứ hai niên hiệu Thành Thái nhà Nguyễn (1890), từ hai phủ Kiến Xương và Thái Bình của tỉnh Nam Định và lấy thêm huyện Thần Khê của phủ Tiên Hưng thuộc tỉnh Hưng Yên. Huyện Thần Khê lúc đó được nhập vào phủ Thái Bình, sau đó phủ này được đổi tên thành Thái Ninh. Đến năm 1894, hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà, phần còn lại của phủ Tiên Hưng cũng được nhập về tỉnh Thái Bình từ Hưng Yên, và phủ Tiên Hưng được tái lập trực thuộc tỉnh Thái Bình. Như vậy lúc mới thành lập, tỉnh Thái Bình có 3 phủ là: Kiến Xương, Thái Ninh,Tiên Hưng, trong đó bao gồm 12 huyện:

  • Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải, Trực Định (Chân Định) thuộc phủ Kiến Xương (sở lị phủ kiêm huyện lị huyện Trực Định, đặt ở xã Động Trung)
  • Đông Quan, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Thụy Vân (Thụy Anh), Thanh Quan thuộc phủ Thái Ninh (sở lị phủ kiêm huyện lị huyện Thanh Quan)
  • Hưng Nhân, Duyên Hà, Thần Khê thuộc phủ Tiên Hưng (sở lị phủ kiêm huyện lị huyện Thần Khê)

Sau đó, đơn vị hành chính cấp phủ bị loại bỏ, các huyện có sở lị phủ thì đổi theo tên của phủ kiêm quản trước đó: Thanh Quan thành Thái Ninh, Trực Định thành Kiến Xương, Thần Khê thành Tiên Hưng.

Tỉnh lị tỉnh Thái Bình khi mới thành lập năm 1890, đặt tại xã Kỳ Bố, trước là huyện lị của huyện Vũ Tiên (từ thời Minh Mạng). Sau này, tỉnh lị Thái Bình phát triển mở rộng sang các huyện lân cận thành thị xã Thái Bình, rồi thành thành phố Thái Bình.

Sau năm 1954, tỉnh Thái Bình có 13 đơn vị hành chính gồm thị xã Thái Bình và 12 huyện: Đông Quan, Duyên Hà, Hưng Nhân, Kiến Xương, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Thái Ninh, Thư Trì, Thụy Anh, Tiền Hải, Tiên Hưng, Vũ Tiên.

Ngày 17 tháng 6 năm 1969, hợp nhất 2 huyện Đông Quan và Tiên Hưng thành huyện Đông Hưng; hợp nhất 2 huyện Hưng Nhân và Duyên Hà thành huyện Hưng Hà; hợp nhất 2 huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực thành huyện Quỳnh Phụ; hợp nhất 2 huyện Thái Ninh và Thụy Anh thành huyện Thái Thụy; hợp nhất 2 huyện Vũ Tiên và Thư Trì thành huyện Vũ Thư.

Ngày 29 tháng 4 năm 2004, chuyển thị xã Thái Bình thành thành phố Thái Bình.[3]

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2011, Thái Bình có 1.786.000 người với mật độ dân số 1.138 người/km². Thành phần dân số:

  • Nông thôn: 90,1%
  • Thành thị: 9,9%

Phấn đấu đạt tỉ lệ đô thị hoá 22,3% năm 2015, đến năm 2020 tỉ lệ đô thị hoá đạt khoảng 40%, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động khoảng 67%.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Thái Bình có 287 đơn vị cấp xã gồm 10 phường, 9 thị trấn và 268 xã. Thái Bình được chia thành 7 huyện và 1 thành phố trực thuộc là:

  1. Thành phố Thái Bình (tỉnh lỵ) là đô thị loại II gồm 10 phường và 9 xã.
  2. Huyện Đông Hưng (sáp nhập 2 huyện Đông QuanTiên Hưng) 1 thị trấn và 43 xã
  3. Huyện Hưng Hà (sáp nhập 2 huyện Hưng NhânDuyên Hà và 5 xã của huyện Tiên Hưng) 2 thị trấn và 33 xã.
  4. Huyện Kiến Xương 1 thị trấn và 39 xã
  5. Huyện Quỳnh Phụ (sáp nhập 2 huyện Quỳnh CôiPhụ Dực) 2 thị trấn và 36 xã
  6. Huyện Thái Thụy (sáp nhập 2 huyện Thái NinhThụy Anh) 1 thị trấn và 47 xã.
  7. Huyện Tiền Hải 1 thị trấn và 34 xã,
  8. Huyện Vũ Thư (sáp nhập 2 huyện Vũ TiênThư Trì) 1 thị trấn và 29 xã
STT Thể loại hành chính Tên gọi Thành Lập Thủ phủ Diện tích ( km²) Dân số (người) Mật dộ dân số (người/ km²) Đơn vị hành chính cấp xã - phường - thị trấn
1 Thành phố Thái Bình 2004 KĐT Trần Hưng Đạo 67,71 268.167* 3.961* 10 phường: Bồ Xuyên, Phú Khánh, Kỳ Bá, Tiền Phong, Quang Trung, Trần Lãm, Lê Hồng Phong, Đề Thám, Trần Hưng Đạo, Hoàng Diệu

9 xã: Đông Hòa, Vũ Chính, Vũ Phúc, Phú Xuân, Tân Bình, Vũ Đông, Vũ Lạc, Đông Thọ, Đông Mỹ.

2 Huyện Đông Hưng 1969 thị trấn Đông Hưng 191,8 246.335 1.284 1 Thị trấn: Đông Hưng

43 xã: Đông Cường, Đông Xá, Đông Phương, Đông Sơn, Đông La, Đông Giang, Đông Hà, Đông Các, Đông Hợp, Đông Động, Đông Vinh , Đông Kinh, Đông Tân, Đông Lĩnh, Đông Phong, Đông Huy, Đông Á, Đông Hoàng, Đông Xuân, Đông Dương, Đông Quang, Trọng Quan, Đồng Phú, Liên Giang, Đô Lương, Phú Lương, Nguyên Xá, Phong Châu, Phú Châu, Minh Châu, An Châu, Hợp Tiến, Mê Linh, Chương Dương, Thăng Long, Lô Giang, Hoa Lư, Hoa Nam, Minh Tân, Hồng Việt, Hồng Châu, Hồng Giang, Bạch Đằng.

3 Huyện Hưng Hà 1969 thị trấn Hưng Hà 200,4 253.996 1.268 2 Thị trấn: Hưng HàHưng Nhân

33 Xã: Hồng Minh, Chí Hòa, Minh Hòa, Độc Lập, Minh Tân, Văn Lang, Hồng Lĩnh, Minh Khai, Kim Trung, Thái Phương, Thái Hưng, Hồng An, Tiến Đức, Liên Hiệp, Phúc Khánh, Tân Tiến, Hòa Tiến, Cộng Hòa, Tân Hòa, Tân Lễ, Canh Tân, Điệp Nông, Dân Chủ, Duyên Hải, Hùng Dũng, Đoan Hùng, Thống Nhất, Văn Cẩm, Bắc Sơn, Đông Đô, Tây Đô, Hòa Bình, Chi Lăng

4 Huyện Kiến Xương 1890 thị trấn Thanh Nê 199,2 223.179 1.121 1 Thị trấn: Thanh Nê

36 xã: An Bồi, Quang Trung, Quang Minh, Bình Minh, Thượng Hiền, Hoà Bình, Quang Bình, Quang Lịch, Vũ Trung, Vũ Quý, Vũ Công, Vũ Bình, Vũ Thắng, Vũ Hoà, Vũ Ninh, Vũ An, Vũ Lễ, Vũ Tây, Vũ Sơn, An Bình, Trà Giang, Hồng Thái, Lê Lợi, Nam Cao, Đình Phùng, Thanh Tân, Bình Nguyên, Quốc Tuấn, Quyết Tiến, Quang Hưng, Minh Hưng, Minh Tân, Nam Bình, Bình Thanh, Bình Định, Hồng Tiến.

5 Huyện Quỳnh Phụ 1969 thị trấn Quỳnh Côi 209,6 245.188 1.170 2 Thị trấn: Quỳnh CôiAn Bài

36 xã: Quỳnh Lâm, Quỳnh Ngọc (nhập thôn Bương của xã Quỳnh Hà cũ), Quỳnh Hoàng, Quỳnh Khê, Quỳnh Sơn, Quỳnh Châu, Quỳnh Nguyên, Quỳnh Bảo, Quỳnh Mỹ, Quỳnh Hồng, Quỳnh Giao, Quỳnh Hoa, Quỳnh Thọ, Quỳnh Minh, Quỳnh Hải, Quỳnh Hội, Quỳnh Hưng, Quỳnh Xá, Quỳnh Trang, Đông Hải, Đồng Tiến, An Vinh, An Lễ, An Vũ, An Dục, An Tràng, An Mỹ, An Thanh, An Ninh, An Quý, An Ấp, An Cầu, An Thái, An Hiệp, An Đồng, An Khê

6 Huyện Thái Thụy 1969 thị trấn Diêm Điền 256,8 267.012 1.040 1 Thị trấn: Diêm Điền

47 xã: Thụy Ninh, Thái Thủy, Thái Xuyên, Thái Thượng, Thái Hòa, Thụy Chính, Thụy Dân, Thụy Duyên, Thụy Thanh, Thụy Phong, Thụy Sơn, Thụy Phúc, Thụy Hưng, Thụy Việt, Thụy Dương, Thụy Văn, Thụy Bình, Thụy Liên, Thụy Hà, Thụy Lương, Thụy Quỳnh, Thụy Trình, Hồng Quỳnh, Thụy Hồng, Thụy Dũng, Thụy Tân, Thụy An, Thụy Hải, Thụy Xuân, Thụy Trường, Thái Giang, Thái Sơn, Thái Hà, Thái Phúc, Thái Dương, Thái Hồng, Thái Thuần, Thái Thành, Thái Thịnh, Thái Thọ, Thái Học, Mỹ Lộc, Thái Tân, Thái Đô, Thái Hưng, Thái An, Thái Nguyên

7 Huyện Tiền Hải 1890 thị trấn Tiền Hải 226 213.616 945 1 Thị trấn: Tiền Hải

34 xã: An Ninh, Bắc Hải, Đông Cơ, Đông Hải, Đông Hoàng, Đông Lâm, Đông Long, Đông Minh, Nam Thịnh, Nam Trung, Phương Công, Tây An, Đông Phong, Đông Quý, Đông Trà, Đông Trung, Đông Xuyên, Nam Chính, Nam Cường, Nam Hà, Nam Hải, Nam Hồng, Nam Hưng, Nam Phú, Nam Thanh, Nam Thắng, Tây Giang, Tây Lương, Tây Ninh, Tây Phong, Tây Sơn, Tây Tiến, Vân Trường, Vũ Lăng

8 Huyện Vũ Thư 1969 thị trấn Vũ Thư 195,2 224,832 1.152 1 Thị trấn: Vũ Thư

29 xã: Trung An, Song An, Song Lãng, Minh Lãng, Vũ Vân, Vũ Vinh, Vũ Hội, Vũ Đoài, Vũ Tiến, Xuân Hòa, Hiệp Hòa, Tân Hòa, Tân Lập, Tân Phong, Hồng Phong, Hồng Lý, Hòa Bình, Minh Khai, Dũng Nghĩa, Bách Thuận, Việt Thuận, Việt Hùng, Nguyên Xá, Đồng Thanh, Phúc Thành, Tự Tân, Minh Quang, Tam Quang, Duy Nhất

  • Theo QUYẾT ĐỊNH 733/QD -TTg của thủ tướng chính phủ ngày 17/5/2011 PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THÁI BÌNH ĐẾN NĂM 2020
  1. Xây dựng 4 đô thị trung tâm vùng cấp tỉnh: Thị trấn Diêm Điền (Thái Thụy), Khu du lịch Đồng Châu và khu vực Cồn Vành (Tiền Hải), thị trấn Hưng Nhân (Hưng Hà), thị trấn An Bài (Quỳnh Phụ) lên đô thị loại IV.
  2. Quy hoạch đô thị trung tâm cấp huyện (thị trấn): Các thị trấn: Quỳnh Côi, An Bài, Đông Hưng, Tiên Hưng, Thanh Nê, Vũ Quý, Hưng Hà, Hưng Nhân, Tiền Hải, Nam Trung, Thái Ninh, Diêm Điền, Vũ Thư.
  3. Nâng cấp một số xã thành đô thị loại V trực thuộc huyện: Các xã: Đông Đô, Thái Phương (Hưng Hà); xã Thụy Xuân (Thái Thụy); các xã: An Lễ, Quỳnh Giao (Quỳnh Phụ); xã Vũ Hội (Vũ Thư).

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2013 ước đạt 37.188 tỷ đồng, tăng 8,8% so với năm 2012;Tổng giá trị sản xuất ước tăng 9,74%
  • Cơ cấu nông, lâm thuỷ sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ năm 2013 tương ứng: 31,97% - 34,76% - 33,27%
  • GDP bình quân đầu người năm 2012 là 24,8 triệu/người, năm 2013 là 26,1 triệu / người.
  • Sản xuất nông nghiệp: Năng suất lúa đạt 130,88 tạ/ha, tăng 0,55% so với năm 2012. Diện tích cây màu vụ xuân đạt 12.522 ha, cây màu vụ mùa đạt 15.633 ha, tăng 3.738 ha so với năm 2012. Mô hình cánh đồng mẫu đạt kết quả tích cực. Toàn tỉnh đã có 62 trang trại quy mô lớn, tăng 9 trang trại so với năm 2012. Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 14.861 ha, tăng 3,3%. Khai thác thủy sản ước đạt 54.100 tấn, tăng 9,2% so với năm 2012. Toàn tỉnh đã trồng được gần 1,4 triệu cây phân tán nội đồng và trên 90 ha rừng ngập mặn.
  • Giá trị sản xuât Công nghiệp (theo giá so sánh 2010) năm 2013 ước đạt 30.523 tỷ đồng, tăng 11,87% so với năm 2012. Trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 1.137 tỷ đồng, tăng 9,68%; Kinh tế ngoài Nhà nước ước đạt 19.232 tỷ đồng, tăng 6,62%; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 10.153 tỷ đồng, tăng 23,7% so với năm trước.Công nghiệp khai thác ước đạt 109 tỷ đồng tăng 16,94%; Công nghiệp chế biến ước đạt 29.921 tỷ đồng tăng 11,9%; Sản xuất truyền tải và phân phối điện ước đạt 366 tỷ đồng, tăng 11,51%; Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải ước đạt 127 tỷ đồng, tăng 3,78% so với năm trước.Một số sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp tăng so với năm 2012 như: Cát tự nhiên các loại tăng 41,37%; Bia dạng lon tăng 18,18%; Khăn các loại tăng 13,98%; Áo khoác dài, áo khoác không tay tăng 7,74%; Bộ Complê, quần áo đồng bộ, áo jacket tăng 7,31%; Áo sơ mi cho người lớn tăng 18,16%; Polyaxetal, polyester khác và nhựa epoxy tăng 35,42%; Xơ staple tổng hợp tăng 85,28%; Gạch đất nung tăng 7,05%; Sứ vệ sinh tăng 24,77%; sắt thép không hợp kim tăng 1,33%; Sản phẩm tai nghe tăng 61,27%; Bộ giây đánh lửa và bộ giây khác sử dụng cho xe ca động cơ tăng 211,85%; Điện thương phẩm tăng 11,81%; Nước uống tăng 4,65%. Một số sản phẩm giảm như: Khí tự nhiên giảm 11,07%; Thịt lợn đông lạnh giảm 24,67%; Tôm đông lạnh giảm 15,81%; Thức ăn cho gia súc giảm 15,92%; Thức ăn cho gia cầm giảm 3,22%; Tấm lát đường và vật liệu lát giảm 3,06%; Tàu đánh bắt thủy hải sản, các loại tàu chuyên dụng giảm 34,95 %.Đến nay dự án đầu tư vào các khu công nghiệp của tỉnh là 138 dự án, với vốn đầu tư 13.873 tỷ đồng.
  • Thương mại - dịch vụ: Tổng mức l­ưu chuyển hàng hoá bán lẻ năm 2013 ư­ớc đạt 23.040 tỷ đồng, tăng 11,58% so với năm trước. Trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 1.950 tỷ đồng, tăng 7,26%, kinh tế cá thể ước đạt 17.763 tỷ đồng, tăng 11,74%, kinh tế tư nhân ước đạt 3.317 tỷ đồng, tăng 13,41%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 9,24 tỷ đồng tăng 1,65%. Thương nghiệp ước đạt 19.155 tỷ đồng tăng 11,79%; Khách sạn, nhà hàng ước đạt 2.201 tỷ đồng tăng 10,9%; Du lịch lữ hành ước đạt 0,2 tỷ đồng bằng 20,13%; Dịch vụ ước đạt 1.685 tỷ đồng tăng 10,17%. Hoạt động tín dụng ngân hàng chuyển biến tích cực. Tổng nguồn vốn huy động ước đạt 33.570 tỷ đồng, tăng 12,4%; chất lượng tín dụng được kiểm soát, tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,6% tổng dư nợ, giảm 0,2% so với năm 2012.
  • Kim ngạch xuất khẩu năm 2013 ước đạt 975 triệu USD, tăng 20,92% so với năm trước.
  • Kim ngạch nhập khẩu năm 2013 ước đạt 896,8 triệu USD, tăng 19,54% so với năm trước.
  • Toàn tỉnh hiện có 50 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 353 triệu USD, chiếm 56,5% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Hiện nay toàn tỉnh có 3.774 doanh nghiệp, 394 chi nhánh, văn phòng đại diện với tổng số vốn đăng ký là 23.962 tỷ đồng.
  • Thu ngân sách năm 2013 đạt 10.794,6 tỷ đồng, tăng 3,4% so với năm trước; trong đó thu nội địa ước đạt 2.858 tỷ đồng.
  • Năm 2014, ngành Công thương phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp đạt 34.265 tỷ đồng tăng 12,3% so với năm 2013. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2014 đạt 26.000 tỷ đồng, tăng 12,85% so với năm 2013. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1.075 triệu USD, tăng 10,2% so với năm 2013. Kim ngạch nhập khẩu đạt 990 triệu USD tăng 10,4% so với năm 2013.
  • Thành lập Khu Kinh tế Biển tại 2 huyện Tiền Hải và Thái Thụy rộng 30.000 Ha, phấn đấu năm 2020 Thái Bình trở thành Tỉnh Công Nghiệp [4].
  • Trung tâm thương mại Thái Bình Dream tọa lạc tại vị trí trung tâm của tỉnh Thái Bình (Ngã tư An Tập - Số 355 Lý Bôn, TP Thái Bình) bao gồm Khách sạn Thái Bình Dream đủ chuẩn 3 sao (+84 36 3644828)và Siêu thị G*mart (nơi mua sắm sầm uất nhất Thái Bình)thuộc Geleximco Thái Bình.
  • Trung tâm Điện lực Thái Bình tại xã Mỹ Lộc - Huyện Thái Thụy với vốn đầu tư 2.1 tỉ USD, diện tích 254ha. Dự án có công suất 1800 MW, dự kiến Nhà máy 1 sẽ hoàn thành vào năm 2013 - 2014 và Nhà máy 2 hoàn thành vào năm 2015.
  • Tập đoàn dầu khí quốc gia sẽ triển khai 15 dự án thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trên địa bàn Thái Bình: Dự án Trung tâm Điện Lực, dự án khoan thăm dò dầu khí, dự án xây dựng kho xăng dầu tại Xã Hoà Bình - Vũ Thư quy mô chứa 6000m³, dự án xây dựng hệ thống trạm kinh doanh nhiên liệu, dự án xây dựng văn phòng đại diện Công ty dầu khí Sông Hồng, dự án Trung tâm thương mại Thành Phố Thái Bình, dự án Khách sạn 4 sao (thay thế KS Giao Tế cũ), dự án dây truyền cán thép...

Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) của Việt Nam năm 2013; tỉnh Thái Bình xếp thứ 21, tăng 4 bậc so với năm 2012.[5]

Các khu Công nghiệp của Tỉnh Thái Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các khu Công nghiệp trên, Chính phủ đã chấp nhận cho phát triển các khu Công nghiệp:

  • Các điểm Công nghiệp tại các huyện, diện tích 235ha
  • Cụm Công Nghiệp Đông La, Đông Hưng
  • Cụm Công Nghiệp Mỹ Xuyên, Thái Xuyên, Thái Thuỵ
  • Cụm Công nghiệp Phương La, Hưng Hà
  • Cụm Công nghiệp Vũ Quý, Kiến Xương

Công ty Bất động sản Dầu khí đang lập kế hoạch đầu tư Khu Công Nghiệp Minh Hoà với diện tích 500ha và 40ha đô thị kèm theo chia làm 2 giai đoạn. Hiện nay đã hoàn thành quy hoạch 1/2000, năm 2010 triển khai hạ tầng, năm 2011 thu hút đầu tư Gần đây nhất là cụm CN Thái Thọ, nơi dự định đặt dự án nhà máy A môn Nitorat Thái Bình tại đây và nhiều dự án khác

Công ty CP Đông A Super Heat (sieunhiet.com.vn) lập dự án thu gom rác thải từ nông nghiệp và lâm nghiệp như rơm, rạ, cỏ cây lá, vỏ trấu, vỏ bào, mùn cưa, gỗ phế phẩm trong tỉnh để tái sản xuất và cung cấp sản phẩm than, củi ép SiêuNhiệt Sạch cho môi trường và Kinh tế cho các Doanh nghiệp trong tỉnh. Dây chuyền thiết bị máy móc có công suất 10.000tấn/tháng đã tạo một phần việc làm cho người dân trong tỉnh. Dự án đã dần đi vào hoạt động trong quý I năm 2012.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành Giáo dục - Đào tạo và khoa học công nghệ được giữ vững và phát triển. Trong năm học 2012 - 2013, Thái Bình là một trong 5 tỉnh, thành phố đầu tiên trong cả nước được công nhận đạt phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi; học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt tỷ lệ cao; số học sinh đỗ đại học, cao đẳng xếp thứ 2 toàn quốc...

Giáo dục chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra còn có trường đại học

  1. Cao Đẳng Y tế Thái Bình
  2. Đại học Y Thái Bình (đường Lý Bôn - TP Thái Bình)
  3. Trường Đại học Thái Bình (nâng cấp từ Trường CĐ Kinh tế)
  4. Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Cơ sở Thái Bình, (Địa chỉ: Xã Tân Bình, TP Thái Bình)
  5. Cao đẳng sư phạm Thái Bình
  6. Cao Đẳng Văn hoá nghệ thuật Thái Bình (
  7. Trung cấp Sư phạm mầm non (Địa chỉ: Đường Hùng Vương - phường Quang Trung - Thành phố Thái Bình;
  8. Trường Trung học Nông nghiệp Thái Bình (Địa chỉ: TT Quỳnh Côi - Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình,
  9. Trường Trung cấp công nhân kĩ thuật
  10. Trường Trung cấp xây dựng (Địa chỉ xã Vũ Lạc - TP Thái Bình)
  11. Trường Trung cấp nghề số 19 Bộ Quốc Phòng (Địa chỉ: Số 784 Đường Lý Bôn - Phường Trần Lãm - Thành phố Thái Bình)

Giáo dục phổ thông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2004, Thái Bình có 295 trường mầm non, 293 trường tiểu học, 276 trường trung học cơ sở, 39 trường trung học. Học sinh ba cấp tương ứng là: 140.967 - 141.004 - 58.848. Tiêu biểu là các trường như: Tiểu học Đồng Phú(địa chỉ: xã Đồng Phú, huyện Đông Hưng, đt 0363 898 052), Trung học cơ sở An Bài(Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, địa chỉ: thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ)

Top 100 trường PTTH hàng đầu Việt Nam, Thái Bình có 3 trường: Trường Chuyên Thái Bình xếp hạng 21. Trường Trung học phổ thông Nguyễn Du xếp hạng 78, Trường Nguyễn Đức Cảnh xếp hạng 87 (số liệu năm 2007).

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Các khoáng sản chính:

  • Khí mỏ: Thái Bình có mỏ khí đốt Tiền Hải đã được khai thác từ năm 1986 với sản lượng khai thác hàng năm vài chục triệu m³ khí thiên nhiên. Tháng 5, 6 năm 2003, Tổng công ty dầu khí Việt Nam đã tiến hành nổ địa chấn 3D lô 103/107 vịnh Bắc Bộ trữ lượng ước tính 7 tỷ m³.
  • Nước khoáng: Mỏ Tiền Hải ở độ sâu 450 m có trữ lượng khoảng 12 triệu m³, đã khai thác từ năm 1992, sản lượng 9,5 triệu lít với các nhãn hiệu nước khoáng Vital, nước khoáng Tiền Hải.
    • Nước khoáng nóng: Đã thăm dò và phát hiện ở làng Khả xã Duyên Hải huyện Hưng Hà mỏ nước nóng 57 °C ở độ sâu 50 m và nước nóng 72 °C ở độ sâu 178 m có thể sẽ được đầu tư khai thác phục vụ phát triển du lịch và chữa bệnh, hiện tại có 2 công ty nước khoáng khai thác hoạt động tại làng Khả (công ty nước khoáng Duyên Hải và Tiên Hải).
  • Than: Có than nâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng với trữ lượng 210 tỉ tấn (lớn gấp 20 lần trữ lượng than tại Quảng Ninh). Hiện nay Tập đoàn than khoáng sản và Tỉnh Thái Bình đã kí kết thoả thuận phối hợp chỉ đạo và thực hiẹn một số nội dung quan trọng: Giai đoạn 2010 - 2015 triển khai địa chất 24 lỗ khoan, giai đoạn 2015 - 2020 khoan thăm dò địa chất 3600 lỗ khoan. Từ 2010 đầu tư thử nghiệm một số dự án khai thác than bằng công nghệ ngầm dưới lòng đất hoặc công nghệ hàm lò tại Tiền HảiThái Thụy, mỗi dự án có quy mô công suất 6 triệu tấn/năm.
  • Công ty dầu khí Sông Hồng bắt đầu khoan thăm dò khai thác khí than tại giếng khoan Tiền Hải C-08 tại Xá Tây Ninh - Tiền Hải, giếng có độ sâu 1100m.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường bộ: Quốc lộ 10 sang Nam Định, quốc lộ 39 nối Hưng Yên - Diêm Điền và Hải Phòng; đường 217 sang Hải Dương, Quốc lộ 37 nối Cảng Diêm Điền với tỉnh Yên Bái.
  • Đường thuỷ: Cảng Diêm Điền, đang đầu tư xây dựng để tàu 1000 tấn có thể ra vào.
  • Khởi công xây dựng Cầu Hiệp nối 2 tỉnh Thái Bình và Hải Dương, chiều dài cầu 542.5 m, khổ rộng 12m, tổng mức đầu tư 245.425 tỉ đồng, dự kiến hoàn thành năm 2010
  • Dự án xây dựng Cầu vượt sông Hồng và tuyến đường bộ nối 2 tỉnh Thái Bình, Hà Nam với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình (khởi công ngày 25/1/2010). Giai đoạn 2 của dự án nối quốc lộ 10 với đường ven biển Tiền Hải - Thái Thuỵ
  • Dự án tuyến đường ôtô cao tốc ven biển đang được chính phủ nghiên cứu khả thi, dự án tại Thái Bình qua 2 huyện: Thái Thụy và Tiền Hải
  • Đường 39B (TL458) nối Thành Phố Thái Bình - Kiến Xương - Tiền Hải - Cảng Diêm Điền (Thái Thuỵ)
  • Đường 39B nối thị trấn Thanh Nê với Thị Trấn Diêm Điền dài 28.9 km [6].

Văn hóa-xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Có gần 82 lễ hội đặc sắc, 16 loại hát múa, trò chơi như: chiếu chèo "làng Khuốc", trò múa rối nước làng Nguyên Xá (Đông Hưng) và làng vườn Bách Thuận (Vũ Thư) v.v.

Phát triển du lịch văn hoá gắn với các lễ hội, giỗ tổ Đền thờ vương triều nhà Trần, tham quan chùa Keo, đền Mẫu Đợi xã Đông Hải huyện Quỳnh Phụ,đền Đồng Bằng xã An Lễ huyện Quỳnh Phụ, đền Tiên La, du lịch sinh thái gắn với xây dựng Khu du lịch Cồn vành, Cồn Thủ, du lịch làng nghề (Đồng Xâm, Hồng Thái Capital - Kiến Xương...), du lịch biển (Đồng Châu - Tiền Hải), đặc là khu resort Cồn Đen đang được xây dựng tại xã Thái Đô, Thái Thụy, Thái Bình

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: danh nhân (Thái Bình)

Thái Bình cũng là quê hương của các vị danh nhân tiêu biểu qua nhiều thời kỳ.

Trước thời kỳ phong kiến, nơi này có những danh nhân tiêu biểu như: Bát nạn tướng quân Vũ Thị Thục Nương (thế kỷ I)- bà là một nữ tướng tài ba dưới thời 2 Bà Trưng; Lý Bôn hay còn gọi Lý Bý ông sinh năm 503 và từ trần năm 548, sau khi đánh tan quân Lương, ông lên ngôi vua lấy hiệu Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, chọn Long Biên là thủ phủ; Sứ quân Trần Lãm (?-967), người có công giúp đỡ Đinh Bộ Lĩnh sau này lập ra nhà Đinh (968 - 980); Bùi Quang Dũng (thế kỷ X) là tướng Nhà Đinh có công khai khẩn đất hoang, một nhà hoạt động chính trị; Ðỗ Ðô (1042-?) là một thiền sư nổi tiếng thời Lý; Nhà bác học lỗi lạc Lê Quí Đôn...

Tiến sỹ Lưu Đức An (Sinh năm Canh Tuất 1490 - Mất năm Nhâm Tuất 1562) người xã Vũ Nghị, tổng Lễ Thần, huyện Thanh Lan, phủ Thái Ninh (nay thuộc xã Thái An, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình). Năm Đại Chính thứ 19 (1538) ông về kinh ứng thí, vượt lên trên 1000 sỹ tử, ông đỗ Đồng tiến sỹ và được vua Mạc tin dùng.

Ngay từ khi chưa đỗ, ông đã được vua cho giữ chức Hàn lâm kiểm thảo, Cẩn sự lang. Đến thời Mạc Đăng Doanh, Quảng hòa thứ 3 (1543) ông được nhận chức Giám sát ngự sử, cho ở trong cung, can dán điều hay lẽ phải cho vua. Đến năm 1544, sai ra biên trấn giữ chức Tả Lang Đạo Kinh Bắc, giúp vua cai quản hai vùng Bắc Ninh, Bắc Giang và đến năm 1545 lại đổi bổ chức Hiến sát sứ trấn Vĩnh Định (tỉnh Nghệ An), một năm sau lại chuyển lên biên giới phía bắc giữ chức Thanh hình hiến sát sứ Lạng Sơn. Năm Quang Bảo thứ 3 (1556) ông được vua triệu về Kinh, tấn phong Triều liệt đại phu, phủ doãn Phụng Thiên, được dự bàn việc triều chính và một năm sau Mạc Quang Bảo gia phong ông hàm Tự Khanh, liệt vào bậc Khanh hầu.

Năm 1562 ông về thăm quê thì bị lâm bệnh nặng, được tin, vua Mạc Quang Bảo cho quan Thái y về thăm bệnh, cắt thuốc, nhưng vì tuổi cao, sức yếu, ông đã tạ thế tại quê nhà. Ngày ông mất, vua đã cho quan phủ thần về tế lễ và tổ chức tang lễ, đồng thời tấn phong cho tổ phụ họ Lưu là Lưu Dẫn hàm Tham Chính, tổ mẫu là Vũ Thị hàm Lệnh Nhân, cấp ruộng thần điền và cho thờ tự.

Sau khi mất, ông được các Hương lão và nhân dân suy tôn làm Á thần thành hoàng, và được phối thờ cùng đương cảnh hoàng lành Lâm Giang Tự.

Tên tuổi của ông đã làm vinh quang thêm gia phả họ Lưu (Thái Bình), xứng là con cháu của Tể tướng Lưu Khánh Đàm.

Thế kỷ XII, Thái Bình là quê hương của triều đại nhà TrầnTrần Thủ Độ. Hiện ở nơi phát tích Hưng Hà còn quần thể lăng mộ tổ và các vị vua đầu, các hoàng hậu của triều đại này. - Nguyễn Văn Cẩm (?-?) còn có tên khác là Kỳ Đồng sinh tại Văn Cẩm, Hưng Hà. Ông là một người rất yêu nước và là người con ưu tú, danh nhân nổi tiếng của miền đất Thái Bình.

Trong và Sau cách mạng tháng tám, Thái Bình có:

  • Hoàng Văn Thái (1915 - 1986), Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng tham mưu trưởng đầu tiên, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.
  • Nguyễn Đức Cảnh (1908-1932), là đại biểu chính thức tham gia thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930, là chủ tịch công hội đỏ đầu tiên là tiền thân của tổ chức Công đoàn Việt Nam.
  • Vũ Ngọc Nhạ (1928-2002) là một trong 4 huyền thoại trong ngành Tình báo Việt Nam, và là một Thiếu tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
  • Nguyễn Thị Chiên (1930-), nữ anh hùng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1952),
  • Lại Ngọc Cang (nhà nghiên cứu văn học, đặc biệt là văn học Hán Nôm, như Truyện Kiều, Hoa tiên..., ông tự vẫn),
  • Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) là một nhà báo, một trong những người sáng lập nên Hội truyền Bá Quốc ngữ, là thứ trưởng Bộ Thanh Niên và là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân
  • Tạ Quốc Luật, người giương cao ngọn cờ trên nóc hầm Đờ Cát trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử hào hùng.
  • Bùi Quang Thận, người cắm cờ chiến thắng trên nóc dinh độc lập ngày 30.04.1975 thống nhất đất nước.
  • Phạm Tuân (1947-) là phi công, phi hành gia đầu tiên của Việt Nam và châu Á bay lên vũ trụ vào năm 1980 trong chương trình Intercosmos của Liên Xô. Ông cũng là một trong số ít người nước ngoài được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Trong thời kì đổi mới và hội nhập không thể không nhắc tới những doanh nhân nổi tiéng đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của đất nước như:

  • Vũ Văn Tiền (1959-), người Tiền Hải, một trong những doanh nhân giàu nhất Việt Nam, hiện là Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội. Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng An Bình. Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán An Bình. Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần xi măng Thăng Long. Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần An Hòa. Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Ngôi sao An Bình...
  • Vũ Quang Hội (1963-), người Hưng Hà, hiện là chủ tịch hội đồng quản trị của Bitexco Group

Thể Dục - Thể Thao[sửa | sửa mã nguồn]

Thể dục - Thể Thao phong trào[sửa | sửa mã nguồn]

Thể dục - Thể thao chuyên nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội bóng chuyền nữ Thái Bình là một trong các đội bóng chuyền mạnh quốc gia, đội đã từng vô địch Giải vô địch bóng chuyền Việt Nam năm 2007 và đội đã ba lần đạt giải á quân Giải vô địch bóng chuyền Việt Nam ở các mùa giải 2004, 2006 và 2008. Đội bóng chuyền nữ Thái Bình đã 2 lần đạt đứng thứ ba Giải vô địch bóng chuyền Việt Nam qua các mùa giải 2005 và 2009. Gương mặt nổi bật như Bùi Thị Huệ, Lê Thị Mười...
  • Đoàn thể thao tỉnh Thái Bình đã đứng thứ 15 trên 66 đoàn tham gia đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VI năm 2010 với 37 bộ huy chương (bao gồm: 11 huy chương vàng, 12 huy chương bạc và 14 huy chương đồng)
  • Tay vợt Nguyễn Thị Bình Thơ thi đấu hơn mười năm qua, có thành tích đáng nể với tổng số 38 huy chương các loại từ các giải Quốc gia, Quốc tế, trong đó có 17 huy chương Vàng, 14 huy chương bạc và 7 huy chương đồng. Song ấn tượng nhất và được giới cầu lông toàn Quốc nể trọng, người hâm mộ mãi lưu tên là thành tích liên tục bốn năm liền từ 2006 đến 2009, Bình Thơ giành vô địch và bảo vệ thành công ngôi vô địch đơn nữ cầu lông toàn quốc.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: ẩm thực Thái Bình

Thái bình có nhiều đặc sản nổi tiếng như Bánh cáy, canh cá quỳnh côi, gỏi nhệch, sứa muối, ổi bo, bún bung hoa chuối, bánh gai đại đồng, bánh chưng cầu báng, bánh giò bến hiệp.

Những làng nghề nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm[sửa | sửa mã nguồn]

Làng nằm ở phía Bắc của huyện Kiến Xương, thuộc xã Hồng Thái, đây là một làng nghề chạm khắc trên mặt kim loại. Cách đây hơn 300 năm nghệ nhân nghề chạm bạc tên là Nguyễn Kim Lâu theo thuyền dọc sông Trà Lý về lập nghiệp ở đây. Ông đã truyền nghề chạm bạc cho dân làng, trải qua nhiều thời kỳ đến nay nghề vẫn được duy trì và ngày càng phát triển. Sau khi ông mất, để tưởng nhớ đến công lao của ông nhân dân ở đây đã lập đền thờ ông ở ngay làng gọi là Đền Đồng Xâm. Hàng năm lễ hội đền Đồng Xâm được tổ chức từ ngày 1- 5/4 âm lịch với nghi lễ rước, tế linh đình, các trò chơi dân gian được duy trì và mở rộng nên đã thu hút được nhiều du khách từ các tỉnh, thành về dự. Vào ngày hội các sản phẩm chạm bạc của làng được trưng bầy và bán hàng lưu niệm. nguồn Thaibinh.gov.vn

Làng Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Nguyễn chỉ là một tên gọi khác của xã Nguyên Xá huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình. Nói tới Thái Bình là mọi người nghĩ ngay đến một món đặc sản đó là Bánh Cáy Làng Nguyễn. Cũng không biết nghề làm Bánh Cáy có từ bao giờ nhưng tương truyền ngày xửa ngày xưa (mình cũng không nhớ là vào đời vua nào nữa) hoàng tử con vua mắc bệnh biếng ăn, bao nhiêu là cao lương ngũ vị nhưng hoàng cũng chẳng chịu ăn và ngày một gầy đi. Hoàng thượng lo lắng đã ban chiếu trong cả nước mong tìm được một món ăn làm cho hoàng tử thích nhất. Sau một thời gian chiếu ban, bao nhiêu là món ngon của lạ được dâng lên nhưng tất cả đều không được hoàng tử để ý đến, tất cả triều đình đều lo cho sức khỏe của người. Một hôm, có một người ăn mặc rách rưới đến xin được yết kiến hoàng thượng và nói rằng có thể làm một món mà sẽ làm cho hoàng tử thích. Nhìn người đàn bà rách rưới, các quan ra mặt khinh bỉ nhưng nghe nói có thể làm được món mà hoàng tử thích nên cũng để cho làm thử xem sao.Sau khi món ăn được dâng lên thì lạ thay hoàng tử đã rất thích và ăn một cách ngon lành. Đức vua và bá quan văn võ đều lấy làm vui mừng, nhà vua quyết định ban thưởng cho người đàn bà đã làm ra thứ bánh đó. Nhưng khi nhà vua cho triệu tập thì người đó đã bỏ đi, nhà vua cho tìm tung tích nhưng chẳng được kết quả j chỉ biết rằng người đó làm nghề mò bán cáy. Để ghi nhớ công ơn của bà, nhà vua quyết định đặt tên cho món đó là món Bánh Cáy. Đó là sự tích mà mọi người được biết về món Bánh Cáy, chẳng biết thục hư ra sao nhưng Bánh Cáy ngày nay đã trở thành một đặc sản của Thái Bình và Làng Nguyễn đã trở thành cái nôi sản sinh ra món đặc sản đó.

Làng Chiếu Hưng Nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Hới (Thái Bình) có nghề dệt chiếu lâu đời và nổi tiếng ở nước ta. Chiếu Hới còn gọi là chiếu Hưng Nhân theo tên huyện cũ, là chiếu Hưng Hà theo tên huyện mới, và chiếu Thái Bình (tên tỉnh). Chưa có ai biết nghề chiếu xuất hiện ở Hới từ bao giờ, cũng như Tổ nghề thật sự là ai. Theo truyền thuyết, vào thời Tiền Lê - Lý (thế kỷ X-XI), làng Hới đã bắt đầu dệt chiếu, rồi phát triển mạnh vào thời Hậu Lê (thế kỷ XV). Nghề dệt chiếu Hới thịnh đạt lúc bấy giờ là nhờ công lao của Trạng nguyên Phạm Đôn Lễ (1457 - ?)- Ông người làng Hải Triều, huyện Ngự Thiêm, phủ Tân Hưng. Ông thi đỗ Trạng nguyên khoa thi Tân Sửu, niêu hiệu Hồng Đức năm thứ 12 (1481) làm quan tới chức Thượng thư. Khi ông lớn lên, làng Hới đã có nghề dệt chiếu từ lâu. Nhưng chiếu dệt khung đứng, không có ngựa đỡ sợi nên chiếu không đẹp. Đi sứ sang Trung Quốc, khi qua vùng Ngọc Hà, Châu Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Phạm Đôn Lễ đã tìm hiểu và học được bí quyết kỹ thuật dệt chiếu của người Trung Quốc. Đó là kỹ thuật dệt khung nằm, có ngựa đỡ sợi dọc, làm cho sợi đay căng, chao cói nhanh hơn và chiếu đẹp hơn. Ông đã phổ biến kinh nghiệm và kỹ thuật dệt mới cho nhân dân. Ông cho cải tiến khung dệt. Nhờ vậy, chiếu Hới đẹp hơn và nổi tiếng từ đó. Dân làng tôn ông là ông Tổ nghề dệt chiếu, gọi ông là "Trạng Chiếu" và lập đền thờ sau khi ông mất; đền thờ Phạm Trạng Nguyên. Như thế, sản phẩm chiếu dệt thủ công của làng Hới từ lâu đã trở thành một sản phẩm tiêu biểu không chỉ của một địa phương nhỏ, mà của cả một tỉnh nông nghiệp loại lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ và lưu vực sông Hồng.

Làng vườn bách thuận[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Bách Thuận nằm cách Thành phố Thái Bình 10 km theo hướng Cầu Tân Đệ đi Nam Định thuộc huyện Vũ Thư. Đây là một làng vườn trù phú, rìa làng là bãi phù sa nơi trồng dâu nuôi tằm. Trong làng là những vườn cây ăn quả, cây cảnh. Đến Bách Thuận du khách như lạc vào công viên thu nhỏ với đủ các gam màu đậm, nhạt dọc theo hai bên đường làng là màu xanh của cây hoè, táo. Thiên nhiên ưu đãi cho Bách Thuận phát triển nghề vườn truyền thống, ở đây có đủ các loại hoa quả bốn mùa: táo, ổi, cam, chanh, hồng xiêm, roi, chuối bên cạnh những vườn cây ăn quả là những vườn cây cảnh, cây thế. Mỗi loại cây cảnh đều mang một dáng, nét riêng với những tên gọi khác nhau tuỳ theo sự uốn tỉa của chủ nhân của nó. Bách Thuận còn là một làng quê cổ, tiêu biểu cho vùng quê ở vùng đồng bằng bắc bộ. Nơi đây có chùa Từ Vân và chùa Bách Tính đã được Nhà nước công nhận xếp hạng di tích lịch sử, là một điểm du lịch để du khách đến thăm quan, vãn cảnh. Du khách trong và ngoài nước rất thích thú với cảnh quan, môi trường sinh thái ở làng vườn Bách Thuận này. nguồn Thaibinh.gov.vn

Những khu du lịch nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Biển Đồng Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Biển Đồng Châu thuộc huyện Tiền Hải, cách thành phố Thái Bình 35 km theo tỉnh lộ đi Kiến Xương - Tiền Hải.

Đến với khu du lịch biển Đồng Châu, du khách sẽ được tận hưởng bầu không khí trong lành của biển, của bãi tắm luôn lộng gió.

Khu du lịch bao gồm bờ biển thuộc xã Đông Minh; Cửa Lân; hai đảo biển Cồn Thủ và Cồn Vành. Diện tích toàn khu du lịch rộng hàng chục km2, trung tâm của khu du lịch là bãi biển Đồng Châu dài 5 km, nơi đây đã hình thành hệ thống các khách sạn, nhà nghỉ cao tầng phục vụ du khách đến với Đồng Châu tắm biển, nghỉ dưỡng. Đến với khu du lịch biển Đồng Châu, du khách sẽ được tận hưởng bầu không khí trong lành của biển, của bãi tắm luôn lộng gió, được thăm quan đền Nhà Bà thờ vợ một vị vua đời Tống bên Trung Quốc đã có công giúp nhà Trần đánh quân Nguyên Mông và đây cũng là cơ sở hoạt động của xứ uỷ Bắc Kỳ trước cách mạng tháng Tám.

Khu du lịch sinh thái biển Cồn Vành[sửa | sửa mã nguồn]

Cách đất liền 7 km, Cồn ThủCồn Vành nổi lên như hai ngọn sóng xanh giữa biển khơi.

Cồn Thủ có bãi cát trắng mịn, có rừng thông, rừng phi lao xanh ngắt, có bãi tắm nhỏ thơ mộng là địa điểm lý tưởng cho du khách đi tắm biển, tổ chức các cuộc picnic và nghỉ dưỡng bằng tàu thuyền với các trò vui chơi, giải trí trên biển như câu cá, lướt ván, bóng chuyền bãi biển...

Cồn Vành rộng 15km2, có khu bảo tồn rừng ngập mặn là điểm dừng chân của các loài chim quý hiếm như cò thìa, bồ nông, mòng biển... Hằng năm nơi đây đã thu hút rất nhiều du khách là các nhà nghiên cứu, khách du lịch tới thăm cồn đảo. Cồn Vành được xem là một điểm có nhiều tiềm năng thuận lợi để phát triển thành một khu du lịch sinh thái lý tưởng và hấp dẫn. Đây là bãi sa bồi rộng gần 2 nghìn hecta, với địa hình tương đối bằng phẳng, nằm ở phía đông xã Nam Phú (Tiền Hải), phía Bắc giáp Cồn Thủ, phía Nam giáp cửa Ba Lạt (cửa sông Hồng), phía Đông giáp biển đông. Cồn Vành thuộc khu vực khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng (đã được UNESCO công nhận vào tháng 12 năm 2004), nằm trong hệ thống liên hoàn các khu rừng ngập mặn ven biển trải dài từ Ninh Bình - Nam Định - Thái Bình. Nơi đây có hệ sinh thái rừng ngập mặn khá phong phú với nhiều loài thực vật như sú, vẹt, bần, thông, trên 200 loài hải sản có giá trị và nhiều loài chim quý hiếm. Ngày nay, nhờ có tuyến đê PAM dài gần 10 km và 4 cây cầu mới được xây dựng, nối liền các nhánh sông, việc đi lại đã thuận tiện hơn rất nhiều, khiến cho giao thông đến Cồn Vành trở nên dễ dàng hơn.

Khu du lịch sinh thái biển Cồn Đen[sửa | sửa mã nguồn]

Cồn Đen Cách đất liền khoảng 3 km thuộc địa phận xã Thái Đô, Thái Thuỵ, Thái Bình. Cách trung tâm TP Thái Bình khoảng 40 km. Nơi đây vẫn giữ được những nét hoang sơ của một cồn biển đẹp nhất miền Bắc với rừng ngập mặn ven biển gồm những loại sú vẹt, bần đước, và những rặng phi lao thẳng tắp và rừng dừa nước ngập mặn rất hoang sơ.

Hình ảnh Thái Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]