Bình Định

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bình Định
Tỉnh
Sông Côn, đoạn qua An Nhơn.JPG
Sông Côn, đoạn qua An Nhơn
Địa lý
Tọa độ: 14°11′43″B 108°52′48″Đ / 14,195163°B 108,880005°Đ / 14.195163; 108.880005Tọa độ: 14°11′43″B 108°52′48″Đ / 14,195163°B 108,880005°Đ / 14.195163; 108.880005
Diện tích 6.050,6 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 1.501.800 người[2]
 Mật độ 297 người/km²
Dân tộc Việt, Chăm, Ba Na, Hrê
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Nam Trung Bộ
Tỉnh lỵ Thành phố Quy Nhơn
 Chủ tịch UBND Lê Hữu Lộc
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Thanh Tùng
 Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thiện
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã, 9 huyện
Mã hành chính VN-31
Mã bưu chính 59xxxx
Mã điện thoại 56
Biển số xe 77
Website http://www.binhdinh.gov.vn/

Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố cảng Quy Nhơn nằm cách thủ đô Hà Nội 1.065 km về phía bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 649 km về phía nam.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bình Định đời nhà Tần, đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, năm Vĩnh Hoà 2 (137) người trong quận làm chức Công Tào tên là Khu Liên đã giết viên huyện lệnh chiếm đất và tự phong là Lâm Ấp vương.
  • Đời nhà Tùy (605) dẹp Lâm Ấp đặt tên là Xung Châu, sau đó lại lấy tên cũ là Lâm Ấp.
  • Đời nhà Đường,
  • Năm 803, nhà Đường bỏ đất này và nước Chiêm Thành của người Chăm ra đời, đất này được đổi là Đồ Bàn, Thị Nại.
  • Đời nhà Lê
  • Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn thuộc dinh Quảng Nam.
  • Năm 1651, chúa Nguyễn Phúc Tần, đã đổi tên phủ Quy Nhơn thành phủ Quy Ninh.
  • Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn.
  • Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt các đạo làm dinh, nhưng cấp phủ vẫn giữ nguyên. Phủ Quy Nhơn vẫn thuộc về dinh Quảng Nam, đặt các chức tuần phủ và khám lý để cai trị. Phủ lỵ dời ra phía Bắc thành Đồ Bàn, đóng tại thôn Châu Thành (nay là phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn).
  • Năm 1725, ở phủ Quy Nhơn đặt các chức quan trông coi: Chánh hộ, Khám lý, Đề đốc, Đề lãnh, Ký lục, Cai phủ, Thư ký, mỗi chức đặt một người; mỗi huyện đặt cai tri, thư ký, mỗi chức một người và 2 viên lục lại; mỗi tổng có cai tổng.
  • Giữa thế kỷ 18, có cuộc khởi nghĩa của một chàng trai ở Gò Sặt võ nghệ cao cường, tên là Lía. Chàng chọn Truông Mây làm căn cứ. Ngày nay còn có câu:
Chiều chiều én liệng Truông Mây[4]

Cảm thương chú Lía bị vây trong thành

  • Từ 1773 đến 1797, nhà Tây Sơn chiếm cứ đất này, sau khi lấy lại đất này Nguyễn Ánh đổi tên đất này là dinh Bình Định, sai Võ TánhNgô Tùng Châu trấn thủ và đặt quan cai trị gọi là Lưu Thủ, Cai Bộ, Ký Lục.
  • Năm 1808 đổi dinh Bình Định thành trấn Bình Định.
  • Năm 1814, vua Gia Long cho xây dựng lại thành Bình Định mới, ngày nay ở thị trấn Bình Định, nằm về phía đông nam và cách thành cũ khoảng 5 km ở phía gần sông Côn. Sau khi xây xong cho chuyển toàn bộ nhà cửa về thành mới này.
  • Năm 1825 đặt tri phủ Quy Nhơn, năm 1831 lại đổi thành phủ Hoài Nhơn.
  • Năm 1832 tách huyện Tuy viễn thành hai huyện Tuy Viễn và Tuy Phước, tách huyện Phù Ly thành hai huyện Phù Mỹ và Phù Cát đồng thời Bình Định và Phú Yên thành liên tỉnh Bình Phú, sau đó bỏ liên tỉnh này.
Bản đồ tỉnh Bình Định (平定) của nhà Nguyễn Việt Nam in trong Đại Nam nhất thống chí.
  • Năm 1888 đặt huyện Bình Khê. Vào năm 1885 Bình Định là một tỉnh lớn ở Trung Kỳ, nhiều vùng đất của Gia Lai - Kon Tum còn thuộc về Bình Định.
  • Năm 1890, thực dân Pháp sát nhập thêm Phú Yên vào tỉnh Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn. Nhưng đến năm 1899, Phú Yên tách ra khỏi Bình Phú.
  • Ngày 4 tháng 7 năm 1905, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh tự trị Pleikou Derr, tỉnh lỵ đặt tại làng Pleikan Derr của dân tộc Gia Lai. Địa bàn tỉnh Pleikou Derr bao gồm các vùng cư trú của đồng bào thiểu số Xơ đăng, Bana, Gialai tách từ tỉnh Bình Định ra.
  • Ngày 25 tháng 4 năm 1907 xoá bỏ tỉnh Pleikou Derr. Toàn bộ đất đai của tỉnh này chia làm hai phần: một là Đại lý Kontum cho sát nhập trở lại tỉnh Bình Định và đặt dưới sự cai trị của Công sứ Bình Định; một gọi là Đại lý Cheo Reo, cho sát nhập vào tỉnh Phú Yên và đặt dưới sự cai trị của Công sứ Phú Yên.
  • Năm 1913, thực dân Pháp lại sát nhập Phú Yên vào Bình Định thành tỉnh Bình Phú và thành lập tỉnh Kontum làm tỉnh riêng; địa bàn tỉnh Kontum bao gồm Đại lý Kontum tách từ tỉnh Bình Định, Đại lý Cheo Reo tách từ tỉnh Phú Yên và Đại lý Đắc Lắc. Ngày 28 tháng 3 năm 1917 cắt tổng Tân Phong và tổng An Khê thuộc cao nguyên An Khê, tỉnh Bình Định, sát nhập vào tỉnh Kontum.
  • Năm 1921, thực dân Pháp cắt tỉnh Phú Yên ra khỏi tỉnh Bình Định và kéo dài cho đến năm 1945. Thời Việt Nam Cộng hòa đổi các huyện thành quận, tỉnh Bình Định có 11 quận, 1 thị xã, trong đó có 4 quận miền núi. Tháng 2 năm 1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ra nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam theo đó hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình.
  • Năm 1981, chia huyện Hoài Ân thành 2 huyện: Hoài ÂnAn Lão; chia huyện Phước Vân thành 2 huyện: Tuy PhướcVân Canh; chia huyện Tây Sơn thành 2 huyện: Tây SơnVĩnh Thạnh.[5]
  • Năm 1986, chuyển thị xã Quy Nhơn thành thành phố Quy Nhơn.[6]
  • Năm 1989, Bình Định tách ra từ tỉnh Nghĩa Bình để tái lập lại tỉnh và kéo dài như vậy cho đến nay.[7] Khi tách ra, tỉnh Bình Định có 11 đơn vị hành chính gồm: thành phố Quy Nhơn (tỉnh lị) và 10 huyện: An Lão, An Nhơn, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Tây Sơn, Tuy Phước, Vân Canh, Vĩnh Thạnh.
  • Năm 2011, chuyển huyện An Nhơn thành thị xã An Nhơn.[8]

Năm 2014 thành lập Thị xã Hoài Nhơn,trung tâm hành chính thị xã Hoài Nhơn đặt tại Phường Bồng Sơn.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km). Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới chung 63 km (điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông). Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đường ranh giới chung 50 km (điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10 Bắc, 108o54'00 Đông). Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có đường ranh giới chung 130 km (điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông). Phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Qui Nhơn (có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông). Bình Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào.

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông. Phía tây của tỉnh là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển. Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp độ cao trên dưới 100 mét, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn, các đồng bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra biển. Ngoài cùng là cồn cát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườn đông và tây. Các dạng địa hình chủ yếu của tỉnh là:

  • Vùng núi: Nằm về phía tây bắc và phía tây của tỉnh. Đại bộ phận sườn dốc hơn 20°. Có diện tích khoảng 249.866 ha, phân bố ở các huyện An Lão (63.367 ha), Vĩnh Thạnh (78.249 ha), Vân Canh (75.932 ha), Tây SơnHoài Ân (31.000 ha). Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong tỉnh. Chiếm 70% diện tích toàn tỉnh thường có độ cao trung bình 500-1.000 m, trong đó có 11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao nhất là 1.202 m ở xã An Toàn (huyện An Lão). Còn lại có 13 đỉnh cao 700-1000m. Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng. Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp. Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá.
  • Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha (chiếm khoảng 10% diện tích), có độ cao dưới 100 m, độ dốc tương đối lớn từ 10° đến 15°. Phân bố ở các huyện Hoài Nhơn (15.089 ha), An Lão (5.058 ha) và Vân Canh (7.924 ha).
  • Vùng đồng bằng: Tỉnh Bình Định không có dạng đồng bằng châu thổ mà phần lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi. Độ cao trung bình của dạng địa hình đồng bằng lòng chảo này khoảng 25–50 m và chiếm diện tích khoảng 1.000 km². Đồng bằng lớn nhất của tỉnh là đồng bằng thuộc hạ lưu sông Kôn, còn lại là các đồng bằng nhỏ thường phân bố dọc theo các nhánh sông hay dọc theo các chân núi và ven biển.
  • Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian. Trong tỉnh có các dãi cát lớn là: dãi cát từ Hà Ra đến Tân Phụng, dãi cát từ Tân Phụng đến vĩnh Lợi, dãi cát từ Đề Gi đến Tân Thắng, dãi cát từ Trung Lương đến Lý Hưng. Ven biển còn có nhiều đầm như đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầm Thị Nại; các vịnh như vịnh Làng Mai, vịnh Quy Nhơn, vịnh Vũng Mới...; các cửa biển như Cửa Tam Quan, cửa An Dũ, cửa Hà Ra, cửa Đề Gi và cửa Quy Nhơn. Các cửa trên là cửa trao đổi nước giữa sông và biển. Hiện tại ngoại trừ cửa Quy Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định, còn các cửa An Dũ, Hà Ra, Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động.

Hải đảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ven bờ biển tỉnh Bình Định gồm có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ.

  • Tại khu vực biển thuộc thành phố Quy Nhơn gồm cụm đảo Cù Lao Xanh là cụm đảo lớn gồm 3 đảo nhỏ; cụm Đảo Hòn Đất gồm các đảo nhỏ như Hòn Ngang, Hòn Đất, Hòn Rớ; cụm Đảo Hòn Khô còn gọi là cù lao Hòn Khô gồm 2 đảo nhỏ; cụm Đảo Nghiêm Kinh Chiểu gồm 10 đảo nhỏ (lớn nhất là Hòn Sẹo); cụm Đảo Hòn Cân gồm 5 đảo nhỏ trong đó có Hòn ông Căn là điểm A9 trong 12 điểm để xác định đường cơ sở của Việt Nam; Đảo đơn Hòn Ông Cơ.
  • Tại khu vực biển thuộc huyện Phù Mỹ gồm cụm Đảo Hòn Trâu hay Hòn Trâu Nằm gồm 4 đảo nhỏ; Đảo Hòn Khô còn gọi là Hòn Rùa. Ven biển xã Mỹ Thọ có 3 đảo nhỏ gồm: Đảo Hòn Đụn còn gọi là Hòn Nước hay Đảo Đồn; Đảo Hòn Tranh còn gọi là Đảo Quy vì có hình dáng giống như con rùa, đảo này nằm rất gần bờ có thể đi bộ ra đảo khi thủy triều xuống; Đảo Hòn Nhàn nằm cạnh Hòn Đụn.

Trong các đảo nói trên thì chỉ đảo Cù Lao Xanh là có dân cư sinh sống, các đảo còn lại là những đảo nhỏ một số đảo còn không có thực vật sinh sống chỉ toàn đá và cát. Dọc bờ biển của tỉnh, ngoài các đèn hiệu hướng dẫn tàu thuyền ra vào cảng Quy Nhơn, thì Bình Định còn có 2 ngọn hải đăng: một ngọn được xây dựng trên mạng bắc của núi Gò Dưa thuộc thôn Tân Phụng xã Mỹ Thọ huyện Phù Mỹ, ngọn này có tên gọi là Hải Đăng Vũng Mới hay Hải Đăng Hòn Nước; ngọn thứ hai được xây dựng trên đảo Cù Lao Xanh thuộc xã Nhơn Châu thành phố Quy Nhơn.

Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía đông dãy Trường Sơn. Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước 5,2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw. Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất lớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn. Ở đoạn đồng bằng lòng sông rộng và nông có nhiều luồng lạch, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ lưu gây ngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình che chắn nên thoát lũ kém. Trong tỉnh có bốn con sông lớn là Côn, Lại Giang, La TinhHà Thanh cùng các sông nhỏ như Châu Trúc hay Tam Quan. Ngoài các sông đáng kể nói trên còn lại là hệ thống các suối nhỏ chằng chịt thường chỉ có nước chảy về mùa lũ và mạng lưới các sông suối ở miền núi tạo điều kiện cho phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện. Độ che phủ của rừng đến nay chỉ còn khoảng trên 40% nên hàng năm các sông này gây lũ lụt, sa bồi, thuỷ phá nghiêm trọng. Ngược lại, mùa khô nước các sông cạn kiệt, thiếu nước tưới.

Hồ đầm[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn tỉnh Bình Định có nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ mục đích tưới tiêu trong mùa khô. Trong đó có thể kể tên một số hồ lớn tại các huyện trong tỉnh như: hồ Hưng Long (An Lão); hồ Vạn Hội, Mỹ Đức và Thạch Khê (Hoài Ân); hồ Mỹ Bình (Hoài Nhơn); hồ Hội Sơn và Mỹ Thuận (Phù Cát); hồ Diêm Tiêu, Hóc Nhạn và Phú Hà (Phù Mỹ); hồ Định Bình, Thuận Ninh (Tây Sơn); hồ Núi Một (Vân Canh - An Nhơn); hồ Vĩnh Sơn, hồ Định Bình (Vĩnh Thạnh). Ngoài ra Bình Định còn có một đầm nước ngọt khá rộng là đầm Trà Ổ (Phù Mỹ) và hai đầm nước lợ là Đề Gi (Phù Mỹ - Phù Cát) và Thị Nại (Tuy Phước - Quy Nhơn). Hệ thống hồ đầm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cở quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội, đầm còn được biết đến với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều.

  • Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 - 26,1°C, cao nhất là 31,7°C và thấp nhất là 16,5°C. Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,0°C, cao nhất 39,9°C và thấp nhất 15,8°C.
  • Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 - 27,9% và độ ẩm tương đối 79-92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình là 79%.
  • Chế độ mưa: mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12. Riêng đối với khu vực miền núi có thêm một mùa mưa phụ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng của mùa mưa Tây Nguyên. Mùa khô kéo dài tháng 1 - 8. Đối với các huyện miền núi tổng lượng mưa trung bình năm 2.000 - 2.400 mm. Đối với vùng duyên hải tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751 mm. Tổng lượng mưa trung bình có xu thế giảm dần từ miền núi xuống duyên hải và có xu thế giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
  • Về bão: Bình Định nằm ở miền Trung Trung bộ Việt Nam, đây là miền thường có bão đổ bộ vào đất liền. Hàng năm trong đoạn bờ biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa trung bình có 1,04 cơn bão đổ bộ vào. Tần suất xuất hiện bão lớn nhất tháng 9 - 11.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Định bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 1 thị xã và 9 huyện:

  • Thành phố Quy Nhơn 16 phường và 5 xã
  • Thị xã An Nhơn 5 phường và 10 xã
  • Huyện Hoài Nhơn 1 thị trấn và 15 xã
  • Huyện An Lão 1 thị trấn và 9 xã
  • Huyện Hoài Ân 1 thị trấn và 14 xã
  • Huyện Phù Cát 1 thị trấn và 17 xã
  • Huyện Phù Mỹ 2 thị trấn và 17 xã
  • Huyện Tuy Phước 2 thị trấn và 11 xã
  • Huyện Tây Sơn 1 thị trấn và 14 xã
  • Huyện Vân Canh 1 thị trấn và 6 xã
  • Huyện Vĩnh Thạnh 1 thị trấn và 8 xã

Toàn tỉnh Bình Định có 161 xã, phường và thị trấn.[3]

Thống kê đến ngày 30/06/2004 Tỉnh Bình Định có tổng số xã, phường, thị trấn: 155; xã: 127, phường: 21, thị trấn: 12.

  1. Thành phố Quy Nhơn 16 phường, 5 xã: Phường Bùi Thị Xuân, Phường Đống Đa, Phường Ghềnh Ráng, Phường Hải Cảng, Phường Lê Hồng Phong, Phường Lê Lợi, Phường Lý Thường Kiệt, Phường Ngô Mây, Phường Nguyễn Văn Cừ, Phường Nhơn Bình, Phường Nhơn Phú, Phường Quang Trung, Phường Thị Nại, Phường Trần Hưng Đạo, Phường Trần Phú, Phường Trần Quang Diệu, Xã Nhơn Châu, Xã Nhơn Hải, Xã Nhơn Hội, Xã Nhơn Lý, và Xã Phước Mỹ.
  2. Thị xã An Nhơn 5 phường và 10 xã: Phường Bình Định, Phường Đập Đá, Phường Nhơn Hòa, Phường Nhơn Hưng, Phường Nhơn Thành, Xã Nhơn An, Xã Nhơn Hạnh, Xã Nhơn Hậu, Xã Nhơn Khánh, Xã Nhơn Lộc, Xã Nhơn Mỹ, Xã Nhơn Phong, Xã Nhơn Phúc, Xã Nhơn Tân, Xã Nhơn Thọ.
  3. Huyện An Lão 1 thị trấn, 9 xã: Thị trấn An Lão, Xã An Dũng, Xã An Hòa, Xã An Hưng, Xã An Nghĩa, Xã An Quang, Xã An Tân, Xã An Toàn, Xã An Trung, Xã An Vinh.
  4. Huyện Hoài Nhơn 1 thi trấn, 15 xã: tt.Tam Quan, tt.Bồng Sơn; các xã: Hoài Châu, Hoài Châu Bắc, Hoài Đức, Hoài Hải, Hoài Hảo, Hoài Hương,Hoài Mỹ, Xã Hoài Phú, Xã Hoài Sơn, Xã Hoài Tân, Xã Hoài Thanh, Xã Hoài Thanh Tây, Xã Hoài Xuân, Xã Tam Quan Bắc, Xã Tam Quan Nam.
  5. Huyện Hoài Ân 1 thị trấn, 14 xã: Thị trấn Tăng Bạt Hổ, Xã Ân Đức, Xã Ân Hảo Đông, Ân Hảo Tây, Xã Ân Hữu, Xã Ân Mỹ, Xã Ân Nghĩa, Xã Ân Phong, Xã Ân Sơn, Xã Ân Thạnh, Xã Ân Tín, Xã Ân Tường Đông, Xã Ân Tường Tây, Xã BokTơi, Xã ĐakMang.
  6. Huyện Phù Mỹ 2 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Bình Dương, Thị trấn Phù Mỹ, Xã Mỹ An, Xã Mỹ Cát, Xã Mỹ Chánh, Xã Mỹ Chánh Tây, Xã Mỹ Châu, Xã Mỹ Đức, Xã Mỹ Hiệp, Xã Mỹ Hòa, Xã Mỹ Lộc, Xã Mỹ Lợi, Xã Mỹ Phong, Xã Mỹ Quang, Xã Mỹ Tài, Xã Mỹ Thắng, Xã Mỹ Thành, Xã Mỹ Thọ, Xã Mỹ Trinh.
  7. Huyện Vĩnh Thạnh 7 xã: Xã Vĩnh Hảo, Xã Vĩnh Hiệp, Xã Vĩnh Hòa, Xã Vĩnh Kim, Xã Vĩnh Quang, Xã Vĩnh Sơn, Xã Vĩnh Thịnh.
  8. Huyện Tây Sơn 1 thị trấn, 14 xã: Thị trấn Phú Phong, Xã Bình Hòa, Xã Bình Nghi, Xã Bình Tân, Xã Bình Thành, Xã Bình Thuận, Xã Bình Tường, Xã Tây An, Xã Tây Bình, Xã Tây Giang, Xã Tây Phú, Xã Tây Thuận, Xã Tây Vinh, Xã Tây Xuân, Xã Vĩnh An.
  9. Huyện Phù Cát 1 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Ngô Mây, Xã Cát Chánh, Xã Cát Hải, Xã Cát Hanh, Xã Cát Hiệp, Xã Cát Hưng, Xã Cát Khánh, Xã Cát Lâm, Xã Cát Minh, Xã Cát Nhơn, Xã Cát Sơn, Xã Cát Tài, Xã Cát Tân, Xã Cát Thắng, Xã Cát Thành, Xã Cát Tiến, Xã Cát Trinh, Xã Cát Tường.
  10. Huyện Tuy Phước 2 thị trấn, 11 xã: Thị trấn Diêu Trì, Thị trấn Tuy Phước, Xã Phước An, Xã Phước Hiệp, Xã Phước Hòa, Xã Phước Hưng, Xã Phước Lộc, Xã Phước Nghĩa, Xã Phước Quang, Xã Phước Sơn, Xã Phước Thắng, Xã Phước Thành, Xã Phước Thuận.
  11. Huyện Vân Canh 1 thị trấn, 6 xã: Thị trấn Vân Canh, Xã Canh Hiển, Xã Canh Hiệp, Xã Canh Hòa, Xã Canh Liên, Xã Canh Thuận, Xã Canh Vinh.

Diện tích, dân số, dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Định có diện tích tự nhiên 6047,2 km², dân số 1.501.800 người, mật độ dân số 297 người/km² (số liệu năm 2012).[3]

Theo số liệu niên giám thống kê năm 2005, toàn tỉnh có 1.700.400 người, trong đó nam là (821.000 người) chiếm 48,7%, nữ là (879.400 người) chiếm: 51,3%. Dân số ở thành thị là (993.000 người) chiếm 58,2%, nông thôn là (749.400 người) chiếm 42,8%, mật độ dân số là 297 người/km2 và dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng (1.020.000 người) chiếm: 60 dân số toàn tỉnh. Ngoài dân tộc Kinh, còn có các dân tộc khác nhưng chủ yếu là Chăm, Ba NaHrê, bao gồm khoảng 2,5 vạn dân.[9]

Biển số xe[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá Sa Huỳnh, từng là cố đô của vương quốc Chămpa mà di sản còn lưu giữ là thành Đồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo. Đây cũng là nơi xuất phát phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ 18 với tên tuổi của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ; là quê hương của các danh nhân như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân,Nguyễn Đăng Lâm,Đào Tấn, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ngô Mây, Tăng Bạt Hổ, Diệp Trường Phát, Quách Tấn... Bình Định còn nổi tiếng bởi truyền thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú với các loại hình nghệ thuật như bài chòi, hát bội, nhạc võ Tây Sơn, hò bá trạo của cư dân vùng biển... cùng với các lễ hội như: lễ hội Đống Đa, lễ hội cầu ngư, lễ hội của các dân tộc miền núi...

Thành phố Quy Nhơn có trường Đại học Quy Nhơn, Đại học Quang Trung (tư thục), Cao Đẳng Bình Định (trước kia là Cao Đẳng sư phạm Bình Định), Cao Đẳng Kỹ thuật, Cao đẳng Y tế Bình Định hàng năm đào tạo hàng chục ngàn sinh viên khoa học kỹ thuật cho tỉnh và khu vực miền trung Tây Nguyên.

Tuồng Bình Định[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Định là nơi có nghệ thuật tuồng rất phát triển gắn liền với tên tuổi của Đào Duy Từ (Hiện Nay đền thờ danh nhân Đào Duy Từ ở tại xã Hoài Thanh Tây huyện Hoài Nhơn, cách quốc lộ 1A 2 km), Đào Tấn. Các đoàn hát tuồng trong tỉnh được hình thành ở khắp các huyện. Với sự giao lưu của nghệ thuật tuồng và võ Bình Định đã đưa tuồng Bình Định lên một tầm cao mới khác lạ hơn so với các đoàn tuồng của Huế hay Nguyễn Hữu Dỉnh của Quảng Nam. Tuồng còn gọi là "hát bội" hay hát bộ sở dĩ nó có tên gọi như thế là vì ngoài việc hát thì yếu tố quan trọng góp phần tạo nên một vở tuồng hay và đặc sắc là hành động điệu bộ của các đào kép. Việc kết hợp võ thuật vào các màng nhào lộn, đánh trận ở mỗi đoàn có khác nhau tùy theo trình độ của đào kép. Trước kia khi hát bội còn thịnh hành thì có nhiều đoàn hát nhưng những năm gần đây dưới sự biến động của kinh tế thị trường thì nhiều đoàn dần giải tán, bộ môn văn hóa nghệ thuật dân tộc này có nguy cơ thất truyền. Lúc còn thịnh hành các đoàn hát bội thường được các làng, những gia chủ giàu có hay các lăng, đình ven biển mời về biểu diễn. Sau những màn diễn hay người cầm chầu ném tiền thưởng lên sân khấu. Vì thế mới có câu "Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu" thường thì sau đêm hát cuối cùng các đoàn hay hát màn "tôn vương" để chúc tụng gia chủ, làng xóm gặp nhiều may mắn và cuối màn "tôn vương" thì thường hát câu: "Rày mừng hải yến Hà Thanh - nhân dân an lạc thái bình âu ca" hay "ngũ sắc tường vân khai Bắc khuyết - nhất bôi thọ tửu chúc Nam san".

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Du lịch Bình Định

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các đặc sản về lâm, thổ, thuỷ, hải sản của duyên hải miền Trung nói chung, Bình Định còn nổi tiếng có: rượu Bàu Đá (An Nhơn), cá chua nước lợ (Đề Gi - Phù Cát), bánh tráng nước dừa (Tam Quan), bún Song Thằn và bánh hỏi, nem chả Chợ Huyện, bánh ít lá gai, bánh tráng Trung Thành. Ngày nay ở huyện Hoài Nhơn còn có thêm đặc sản Cá Ngừ Đại Dương dân địa phương gọi là cá "Bò Gù".

Di tích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thành Hoàng Đế
  2. Thành Thị Nại
  3. Tháp Bình Lâm
  4. Tháp Bánh Ít
  5. Tháp Cánh Tiên
  6. Tháp Đôi
  7. Tháp Thủ Thiện
  8. Tháp Dương Long
  9. Tháp Phú Lốc
  10. Chùa Long Khánh
  11. Chùa Sơn Long
  12. Chùa Thập Tháp
  13. Chùa Nhạn Sơn
  14. Chùa Linh Phong
  15. Chùa Hang
  16. Nhà thờ Chánh tòa Quy Nhơn
  17. Đền thờ Đào Duy Từ
  18. Lăng Mai Xuân Thưởng
  19. Đền thờ Tăng Bạt Hổ - Hoài Ân
  20. Khu di tích Chi bộ Vạn Đức - Ân Tín, Hoài Ân
  21. khu di tích chiến thắng chợ cát
  22. Đền thờ Đào Duy Từ

Danh thắng[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Gành Ráng
  2. Hầm Hô
  3. Bãi biển Quy Hòa
  4. Núi Bà
  5. Bãi biển Nhơn Lý-Cát Tiến
  6. Đầm Thị Nại,bán đảo Phương Mai
  7. Suối khoáng nóng Hội Vân
  8. Hồ Núi Một
  9. Cù Lao Xanh(đảo Nhơn Châu)
  10. Mũi Vi Rồng
  11. Cầu Thị Nại

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên GS2011
  2. ^ “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  3. ^ a ă â http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=387&idmid=3&ItemID=14632
  4. ^ Sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi viết én liệng truông Mây' thay vì én liệng Truông Mây.
  5. ^ Quyết định 41-HĐBT năm 1981 về việc thành lập một số huyện thuộc tỉnh Nghĩa Bình do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
  6. ^ Quyết định 81-HĐBT năm 1986 về việc mở rộng và đổi tên thị xã Quy Nhơn thành thành phố Quy Nhơn thuộc tỉnh Nghĩa Bình do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
  7. ^ Văn phòng UBND tỉnh Bình Định. “Lịch sử” (bằng tiếng Việt, English). TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BÌNH ĐỊNH. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 
  8. ^ [http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-101-NQ-CP-thanh-lap-thi-xa-An-Nhon-vb132303t13.aspx Nghị quyết 101/NQ-CP năm 2011 thành lập thị xã An Nhơn và phường thuộc thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
  9. ^ Văn phòng UBND tỉnh Bình Định. “Kinh tế - Xã hội” (bằng tiếng Việt, English). TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH BÌNH ĐỊNH. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ gió Quảng Ngãi Biểu đồ gió
Gia Lai B Biển Đông
T    Bình Định    Đ
N
Phú Yên
Enclave: {{{enclave}}}