Thị trấn (Việt Nam)
Thị trấn là một đơn vị hành chính cấp xã tại Việt Nam. Tất cả thị trấn tại Việt Nam đều trực thuộc các huyện. Thị trấn có thể là huyện lị nếu các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện được đặt tại thị trấn đó. Tuy nhiên, không phải thị trấn nào cũng là huyện lỵ, và không phải huyện nào cũng có thị trấn. Đặc biệt, có nhiều huyện lỵ không đặt ở thị trấn cùng tên với chính mình, chủ yếu do giao thông không thuận lợi với các xã khác trong huyện, điển hình như huyện Tam Đảo. Duy nhất ở Việt Nam có 1 huyện lên đến 4 thị trấn, đó là huyện Châu Thành A, Hậu Giang, một vài huyện có tới 3 thị trấn.
Mục lục |
[sửa] Các đơn vị hành chính tương đương
Thị trấn tương đương với:
- Tại các thành phố trực thuộc trung ương (TPTTTW):
- Phường (phần nội thành hay nội thị (nếu có thị xã trực thuộc TPTTTW)).
- Xã (phần ngoại thành của TPTTTW hay ở các huyện trực thuộc TPTTTW).
- Tại các tỉnh:
- Phường (trong phần nội thành của các Thành phố trực thuộc tỉnh (nếu có) hay của các thị xã (nếu có)), cũng như xã ở phần ngoại thành (ngoại thị) của các đơn vị hành chính này.
- Xã ở các huyện.
Một thị trấn bao gồm các khu, tiểu khu, cụm hay tổ.
Sự so sánh trên đây là so sánh về cấp hành chính. Một thị trấn có thể là trung tâm hành chính của một huyện, nhưng một phường nào đó tại một thị xã nào đó thì không thể coi là trung tâm hành chính của một thị xã, trong khi một huyện và một thị xã là hai đơn vị hành chính tương đương về cấp.
[sửa] Thống kê
Tỉnh có nhiều thị trấn nhất là Thanh Hoá với 30 thị trấn, tiếp theo là Hà Nội với 22 thị trấn. Tỉnh Ninh Thuận chỉ có 3 thị trấn còn thành phố Đà Nẵng không có thị trấn nào.[1].
Tính đến ngày 11 tháng 2 năm 2012, Việt Nam có 11143 đơn vị hành chính cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn) trong đó có 629 thị trấn.
[sửa] Phân loại đô thị
Đa số thị trấn tại Việt Nam được xếp vào đô thị loại V. Một số thị trấn lớn được Bộ trưởng Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại IV như:[2]
| Tên thị trấn | Huyện | Tỉnh | Ngày được công nhận là đô thị loại IV |
Chú thích |
|---|---|---|---|---|
| Việt Quang | Bắc Quang | Hà Giang | 24/08/2010 | |
| Bồng Sơn | Hoài Nhơn | Bình Định | Năm 2010 | mở rộng đạt tiêu chuẩn loại IV |
| Diên Khánh | Diên Khánh | Khánh Hòa | 22/09/2010 | |
| Vạn Giã | Vạn Ninh | Khánh Hòa | 22/09/2010 | |
| Ea Kar | Ea Kar | Đắk Lắk | ||
| Liên Nghĩa | Đức Trọng | Lâm Đồng | 30/06/2009 | |
| Bến Lức | Bến Lức | Long An | 29/03/2010 | |
| Hậu Nghĩa | Đức Hoà | Long An | 09/04/2010 | |
| Cai Lậy | Cai Lậy | Tiền Giang | 27/08/2010 | |
| Mỹ An | Tháp Mười | Đồng Tháp | 01/10/2010 | |
| Long Mỹ | Long Mỹ | Hậu Giang | 28/12/2010 | |
| Ngã Năm | Ngã Năm | Sóc Trăng | 22/04/2010 | |
| Sông Đốc | Trần Văn Thời | Cà Mau | 29/12/2012 | |
| Năm Căn | Năm Căn | Cà Mau | 12/2012 | |
| Mạo Khê | Đông Triều | Quảng Ninh | 18/05/2011[2] | |
| Lấp Vò | Lấp Vò | Đồng Tháp | 24/11/2011[3] | Mở rộng đạt tiêu chuẩn loại IV |
| Phan Rí Cửa | Tuy Phong | Bình Thuận | 16/12/2011[4] | Mở rộng đạt tiêu chuẩn loại IV |
| Thắng | Hiệp Hòa | Bắc Giang | 18/01/2012[5] | Mở rộng đạt tiêu chuẩn loại IV |
| Tịnh Biên | Tịnh Biên | An Giang | 19/03/2012[6] | |
| Ba Đồn | Quảng Trạch | Quảng Bình | 18/04/2012[7] | Mở rộng đạt tiêu chuẩn loại IV |
| Uyên Hưng | Tân Uyên | Bình Dương | 01/11/2012 | Mở rộng đạt tiêu chuẩn loại IV |
| Mỹ Phước | Bến Cát | Bình Dương | 01/11/2012 | Mở rộng đạt tiêu chuẩn loại IV |
| Phước An | Krông Pắc | Đắc Lắc | 30/08/2012 | |
| Sapa | Sapa | Lào Cai | 16/08/2012 | Mở rộng đạt tiêu chuẩn loại IV |
| Duyên Hải | Duyên Hải | Trà Vinh | 25/02/2013 | Mở rộng đạt tiêu chuẩn loại IV |
| Kiên Lương | Kiên Lương | Kiên Giang | 22/6/2012 |
[sửa] Phân biệt với xã
Tiêu chí để xét một khu vực dân cư là thị trấn hay xã thông thường gắn với tỷ lệ ngành nghề. Tại khu vực xã, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp (lâm nghiệp, ngư nghiệp) cao hơn so với một thị trấn. Tại địa bàn một huyện, mật độ dân số tại các thị trấn thông thường cũng cao hơn so với mật độ dân số tại các xã. Các tiêu chí khác như số lượng dân số, đóng góp cho ngân sách (qua thuế chẳng hạn), diện tích đất đai không rõ nét trong trường hợp này. Một thị trấn có thể đông dân và nộp ngân sách nhiều hơn một xã, song cũng không ít trường hợp ngược lại.
[sửa] Thị tứ
Bài chính: Thị tứ
Các sách báo gần đây đề cập nhiều đến khái niệm thị tứ. Tuy nhiên, thị tứ không phải là một đơn vị hành chính nhà nước chính thức. Một thị tứ thông thường được hiểu là trung tâm của một tiểu vùng kinh tế (bao gồm phạm vi nhiều xã với lượng dân cư khoảng 4-5 nghìn người, nhưng không phải trong phạm vi toàn huyện), trong đó các ngành nghề như thương mại; dịch vụ; công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển hơn so với các vùng phụ cận. Dân cư sống trong khu vực đó cũng sống tập trung và có mật độ cao hơn. Một thị tứ được hình thành khi ở khu vực đó có sự thuận lợi về các điều kiện hạ tầng cơ sở hơn so với khu vực phụ cận. Nó có thể nằm trong khu vực thuộc nhiều xã giáp ranh. Nó là tiền đề để hình thành nên các thị trấn mới trong tương lai, khi nó phát triển đủ lớn để chính quyền có thể công nhận.
[sửa] Chú thích
- ^ Tổng cục Thống kê Việt Nam, Số đơn vị hành chính có đến 31/12/2010 phân theo địa phương.
- ^ a b Hệ thống đô thị Việt Nam năm 2010.
- ^ Quyết định số 999/QĐ-BXD ngày 24/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc công nhận thị trấn Lấp Vò mở rộng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV.
- ^ Quyết định số 1057/QĐ-BXD ngày 16/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc công nhận thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận là đô thị loại IV.
- ^ Quyết định số 63/QĐ-BXD ngày 18/01/2012 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc công nhận thị trấn Thắng mở rộng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV.
- ^ Quyết định số 256/QĐ-BXD ngày 19/03/2012 của Bộ Xây dựng về việc công nhận thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang là đô thị loại IV.
- ^ Quyết định số 367/QĐ-BXD ngày 18/04/2012 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc công nhận thị trấn Ba Đồn mở rộng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV.