Đô thị Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Các đô thị tại Việt Nam là những thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập. Các đô thị được chia thành 6 loại gồm đô thị đặc biệt và các đô thị từ loại I đến loại V. Các đô thị đặc biệt, loại I và loại II phải do Thủ tướng ra quyết định công nhận; các kiểu đô thị loại III và IV do Bộ Xây dựng ra quyết định công nhận; và loại V do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh công nhận. Hiện tại Việt Nam có hai đô thị đặc biệt là Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh, 15 đô thị loại I, 16 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 66 đô thị loại IV. Khoảng 35% dân số Việt Nam sống ở đô thị.

Phân loại đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, trước đây việc phân loại đô thị thực hiện theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ[1]. Từ ngày 2 tháng 7 năm 2009, việc phân loại đô thị thực hiện theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ[2]

Tại Việt Nam hiện có 6 loại hình đô thị: loại đặc biệt và từ loại I đến loại V. Nghị định số 42/2009/NĐ-CP sử dụng số La Mã để phân loại đô thị, nhưng nhiều tài liệu vẫn dùng số Ả Rập: loại 1 đến loại 5.

Một đơn vị hành chính để được phân loại là đô thị thì phải có các tiêu chuẩn cơ bản như sau:[3]

  1. Có chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị đạt 4 nghìn người trở lên.
  3. Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị, riêng đối với thị trấn thì căn cứ theo các khu phố xây dựng tập trung.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
  5. Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật).
  6. Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị.

Đối với các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì các tiêu chí đánh giá được nới lỏng hơn: quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương. Đối với một số đô thị có tính chất đặc thù, tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương và bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị.

Đô thị loại đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại đặc biệt là các đô thị[4]:

  1. Giữ vai trò "trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước".
  2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở lên.
  3. Mật độ dân số nội đô bình quân từ 15.000 người/km² trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 90% trở lên.
  5. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.

Hiện ở Việt Nam có hai thành phố được chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt là thủ đô Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Hải Phòng cũng đang được xem xét là đô thị loại đặc biệt vào năm 2020, muộn nhất là 2025. Để hỗ trợ chính quyền hai thành phố này hoàn thành chức năng của đô thị loại đặc biệt, Chính phủ cho Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hưởng một số cơ chế tài chính-ngân sách đặc thù[5].

Đô thị loại I[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại I, trong cách phân loại đô thị ở Việt Nam, là những đô thị giữ vai trò trung tâm quốc gia hoặc trung tâm vùng lãnh thổ liên tỉnh. Tiêu chí xác định thành phố là đô thị loại I gồm:

  1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 500 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
  3. Mật độ dân số nội đô bình quân từ 12.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 10.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu vực nội đô từ 85% trở lên.
  5. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.

Hiện ở Việt Nam có 3 thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I, gồm: Hải Phòng, Đà NẵngCần Thơ. 12 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại I, gồm: Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì, Vũng Tàu, Hạ LongThanh Hóa.

Hải Phòng là đô thị trung tâm của vùng duyên hải Bắc Bộ, Đà Nẵng là đô thị trung tâm của miền Trung, Cần Thơ là trung tâm của vùng Tây Nam Bộ. Thái Nguyên là trung tâm vùng trung du và miền núi phía Bắc. Nam Định là trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng. Thanh Hóa, VinhHuế là ba trung tâm của Bắc Trung Bộ. Đà LạtBuôn Ma Thuột là hai trung tâm của khu vực Tây Nguyên. Nha TrangQuy Nhơn là hai trung tâm của Duyên hải Nam Trung Bộ. Việt Trì là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam và là trung tâm của liên tỉnh phía Bắc. Vũng Tàu là thành phố du lịch biển ở vùng Đông Nam Bộ và là đô thị trung tâm về dầu khí, du lịch, cảng biển. Hạ Long là thành phố dịch vụ, du lịch biển quốc tế ở vùng giáp đồng bằng sông Hồng, có kỳ quan thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

Đô thị loại II[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại II phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 800 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 300 nghìn người trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
  3. Mật độ dân số nội đô bình quân từ 10.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc trung ương và từ 8.000 người/km² trở lên đối với đô thị trực thuộc tỉnh.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở nội đô từ 80% trở lên.
  5. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh.

Hiện nay có 16 thành phố trực thuộc tỉnh là đô thị loại II gồm: Biên Hòa; Mỹ Tho; Hải Dương; Pleiku; Long Xuyên; Phan Thiết; Cà Mau; Tuy Hòa; Uông Bí; Thái Bình; Rạch Giá; Bạc Liêu; Ninh Bình; Bắc Ninh; Thủ Dầu Một; Đồng Hới. Trong số 16 đô thị loại II trên, Theo dự thảo chương trình phát triển đô thị quốc gia giai đoạn 2011-2020 được Bộ Xây dựng trình Thủ tướng, có 3 đô thị sẽ được nâng lên loại I là: Biên Hòa (Đồng Nai); Hải Dương (Hải Dương); Mỹ Tho (Tiền Giang) đưa tổng đô thị loại I cả nước lên 18 đô thị.

Quyền quyết định công nhận đô thị loại đặc biệt, loại Iloại II thuộc về thủ tướng chính phủ Việt Nam.[6]

Đô thị loại III[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh;
  2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên.
  3. Mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km² trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động nội đô từ 75% trở lên;
  5. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;

Đô thị loại III có thể là một thị xã hoặc thành phố trực thuộc tỉnh. Tại thời điểm 7/8/2010, Việt Nam có 32 đô thị loại III. Đến tháng 07/2014 có 45 đô thị loại III (trong đó có 9 thị xã).

Đô thị loại IV[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại IV phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Chức năng đô thị: là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa học – kỹ thuật, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên.
  3. Mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km² trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động.
  5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị đạt các tiêu chí quy định
  6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị từng bước được thực hiện theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị.

Các đô thị loại IV có thể là thị xã hoặc thị trấn. Đến tháng 6/2014 có 66 đô thị loại IV (trong đó có 28 thị trấn).

Quyền quyết định đô thị loại III và loại IV thuộc về Bộ Xây dựng Việt Nam xem xét, thẩm định và quyết định công nhận.[7]

Đô thị loại V[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị loại V phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Chức năng đô thị: là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục – đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã.
  2. Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên.
  3. Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km² trở lên.
  4. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động.
  5. Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: từng mặt đã hoặc đang được xây dựng tiến tới đồng bộ.
  6. Kiến trúc, cảnh quan đô thị từng bước được thực hiện theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị.

Các đô thị loại V là thị trấn.

Quyền quyết định công nhận đô thị loại V thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ.
  2. ^ Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ.
  3. ^ Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP
  4. ^ Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP
  5. ^ Xem Nghị định số 123/2004/NĐ-CPNghị định số 124/2004/NĐ-CP
  6. ^ Nghị định 42/2009/NĐ-CP, chương III, điều 17, tiểu mục 1 và 2
  7. ^ Nghị định 42/2009/NĐ-CP, chương III, điều 17, tiểu mục 3
  8. ^ Nghị định 42/2009/NĐ-CP, chương III, điều 18, tiểu mục 2

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]