Buôn Ma Thuột

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Buôn Ma Thuột
Thành phố trực thuộc tỉnh
Buôn Ma Thuột city square.jpg
Ngã sáu trung tâm
Địa lý
Tọa độ: 12°41′05″B 108°03′03″Đ / 12,684696°B 108,050915°Đ / 12.684696; 108.050915Tọa độ: 12°41′05″B 108°03′03″Đ / 12,684696°B 108,050915°Đ / 12.684696; 108.050915
Diện tích 377,18 km²
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 331.744
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Tỉnh Đắk Lắk
 Chủ tịch UBND Trần Vĩnh Cảnh
 Bí thư Thành ủy Nguyễn Viết Tượng
 Trụ sở UBND 1 Lý Nam Đế, phường Thắng Lợi
Phân chia hành chính 13 phường, 8 xã
Website buonmathuot.gov.vn

Buôn Ma Thuộtthành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk, đồng thời là thành phố trung tâm vùng Tây Nguyên và là một trong số 8 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam.

Ngày 27/11/2009 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có kết luận số 60-KL/TW về việc xây dựng Buôn Ma Thuột trở thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên và trực thuộc Trung ương trước năm 2020 Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là "bản hoặc làng của Cha Thuột", nó xuất phát từ tên gọi buôn của Ama Thuột (Ama là Cha; Thuột là tên Con; người Ê Đê khi có con trai, thì họ gọi nhau bằng tên của con trai mình, ở đây A ma Thuột nghĩa là Cha của Thuột và thường gọi là Cha Thuột) - tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Buôn Ma Thuột ở giữa vùng đông dân nhất Tây Nguyên, độ cao 536 m (1.608 ft). Buôn Ma Thuột cách Hà Nội khoảng 1300 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km. Là một thành phố có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng cấp quốc gia.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thuở xưa, đây là vùng đất của người Ê Đê Kpă với khoảng 50 nhà dài Ê Đê nằm dọc theo suối Ea Tam do tù trưởng A Ma Thuột cai quản với các Buôn: Buôn Ako Tam, Buôn Kmrong Prong, Buôn Păn Lăm, Buôn Ako sier, Buôn Ale, Buôn Cư dlue...xuôi theo dòng Êa Tam đổ ra sông mẹ Krông Ana (Sêrê pôk)

Với lợi thế là trung tâm của Đắk Lắk cũng như toàn Tây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại nằm gọn trên một cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng, năm 1904, khi tỉnh Đắk Lắk được thành lập, Buôn Ma Thuột được chọn làm cơ quan hành chính của tỉnh này thay cho Bản Đôn.

Ngày 5 tháng 6 năm 1930, Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột.

Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, thị xã này có tên là Ban Mê Thuột.

Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam bất ngờ tiến đánh Buôn Ma Thuột, mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến tới việc đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Sau năm 1975, thị xã Buôn Ma Thuột có 7 phường: Tân Lập, Tân Thành, Tân Tiến, Thắng Lợi, Thành Công, Thống Nhất, Tự An và 22 xã: Cư ÊBur, Cuôr Knia, Ea Bar, Ea Bông, Ea Kao, Ea Na, Ea Nuôl, Ea Po, Ea Tam, Ea Tiêu, Ea T'ling, Ea Tu, Hòa Đông, Hòa Khánh, Hòa Phú, Hòa Thắng, Hòa Thuận, Hòa Xuân, Nam Dong, Quảng Điền, Tâm Thắng, Trúc Sơn.

Ngày 19 tháng 9 năm 1981, tách 4 xã: Ea Bông, Ea Na, Quảng Điền, Ea Tiêu để thành lập huyện Krông Ana.[1]

Ngày 19 tháng 6 năm 1990, tách 5 xã: Ea T'ling, Tâm Thắng, Trúc Sơn, Ea Po, Nam Dong để thành lập huyện Cư Jút.[2]

Ngày 21 tháng 1 năm 1995, chuyển thị xã Buôn Ma Thuột thành thành phố Buôn Ma Thuột; chuyển xã Ea Tam thành phường Ea Tam; thành lập phường Khánh Xuân; chuyển 3 xã: Cuôr Knia, Ea Nuôl, Ea Bar về huyện Buôn Đôn quản lý; chuyển 3 xã: Hòa Phú, Hòa Xuân, Hòa Khánh về huyện Cư Jút quản lý; chuyển xã Hòa Đông về huyện Krông Pắk quản lý.[3]

Ngày 18 tháng 11 năm 1996, chia phường Tân Lập thành 3 phường: Tân Lập, Tân Hòa và Tân An; chia phường Thắng Lợi thành 2 phường: Thắng Lợi và Tân Lợi; chia phường Thống Nhất thành 2 phường: Thống Nhất và Thành Nhất.[4]

Ngày 2 tháng 1 năm 2004, chuyển 3 xã: Hòa Phú, Hòa Khánh, Hòa Xuân thuộc huyện Cư Jút (sau khi chuyển huyện Cư Jút về tỉnh Đắk Nông mới thành lập) về thành phố Buôn Ma Thuột quản lý.[5]

Ngày 28 tháng 2 năm 2005, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại 2.[6]

Ngày 9 tháng 2 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Đắk Lắk.[7]

Diện tích, dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Diện tích của thành phố khoảng 377 km², trong đó diện tích đã đô thị hóa là 100km2.

Dân số toàn thành phố là 342.182 với người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 15%. Gần 80% dân số sống tại khu vực nội thành.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Buôn Ma Thuột là thành phố đô thị loại 1; có 13 phường, 8 xã. Đặc biệt có 7 buôn (làng) nội thành với gần chục nghìn người Êđê, họ vẫn giữ kiến trúc nhà ở và lối sản xuất riêng ngay trong lòng thành phố. Kết quả phân định 3 khu vực của thành phố Buôn Ma Thuột theo quyết định số 03/2009/QĐ-UBND của UBND Tỉnh Đắc Lắc ngày 13/01/2009 như sau:

  • Khu trung tâm, gồm các phường: Tân Tiến, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thành Công, Tân Lợi, Tự An, Tân Lập, Tân Thành.
  • Khu cận trung tâm, gồm các phường: Khánh Xuân, Tân Hòa, Thành Nhất, Ea Tam, Tân An;
  • Khu ven nội, gồm các phường, xã: Cư Êbur, Hòa Thắng, Hòa Khánh, Hòa Thuận, Ea Tu, Ea Kao, Hòa Phú, Hòa Xuân.
1.Cư Êbur 2.Tân Lợi 3.Tân An 4.Ea Tu 5.Hòa Thuận 6.Thành Nhất 7.Thành Công 8.Thắng Lợi 9.Thống Nhất 10.Tân Tiến 11.Tân Thành 12.Tự An 13.Tân Lập 14.Tân Hòa 15.Khánh Xuân 16.Ea Tam 17.Hòa Thắng 18.Hòa Xuân 19.Hòa Phú 20.Hòa Khánh 21.Ea Kao

Kinh tế - Xã hội (2013)[sửa | sửa mã nguồn]

Buôn Ma Thuột năm 1975 còn là một thị xã miền núi bé nhỏ, nghèo nàn với vài con đường nhựa quanh Ngã 6 trung tâm, công nghiệp hầu như không có gì. Nay, Buôn Ma Thuột đã trở thành thành phố năng động và phát triển nhanh nhất Tây Nguyên, năm 2010 trở thành đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh là một điểm mốc lịch sử quan trọng để thành phố tiếp tục phấn đấu, phát triển thành đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương vào năm 2015 theo tinh thần kết luận 60 của Bộ Chính trị. Hiện nay, Buôn Ma Thuột được chính phủ công nhận là thành phố có quy hoạch tốt nhất Việt Nam[8].

Cùng với thành phố Bắc Ninh, Đà Lạt, Hòa Bình, Huế, Thái Nguyên, Sơn La, Vinh, Việt Trì, Hà Nội, Buôn Ma Thuột đã được chọn là 10 đô thị sạch trên cả nước và được tuyên dương trong lễ kỷ niệm Ngày đô thị Việt Nam (8/11)[9].

  • Tốc độ tăng trưởng hàng năm bình quân: 15-18%
  • Tổng thu ngân sách nhà nước: gần 2.200 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách theo phân cấp: 1.086 tỷ đồng
  • Huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội: 6.086 tỷ đồng
  • Giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN: 5.668 tỷ đồng
  • Thu nhập bình quân đầu người: 2.050 USD/người/năm.
  • Tổng mức bán lẻ hàng hóa doang thu dịch vụ: 18.500 tỷ đồng
  • Tỷ trọng các ngành: 43.57% công nghiệp-xây dựng, 49.41% thương mại-dịch vụ, 7.02% nông-lâm nghiệp.
  • Giao thông: 98% đường nội thành được nhựa hóa, là đầu mối giao thông cấp vùng và quốc gia.
  • Tỷ lệ hộ nghèo: 1.35%
  • Tỷ lệ cây xanh đô thị: 18m²/người
  • Cấp điện: 100% đường phố chính và 80% đường hẻm đã được chiếu sáng
  • Cấp-thoát nước: 80% dân số được dùng nước sạch với định mức 137 lít/người/ngày. Ngoài ra Buôn Ma Thuột có hệ thống xử lí nước thải do Đan Mạch tài trợ được đánh giá tiên tiến nhất Việt Nam hiện nay mà chưa có thành phố nào ở Việt Nam đạt được.
  • Văn hóa-giáo dục: đã có 21/21 xã, phường hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Bình quân cứ 2,5 người thì có 1 người đi học.Năm 2013 ngành giáo dục của thành phố tiếp tục được đầu tư một cách toàn diện cả về cơ sở vật chất và nguồn lực con người. 100% các trường học trên địa bàn được xây dựng kiên cố khang trang, gần 100 % số giáo viên có trình độ đạt chuẩn trong đó có 56% giáo viên có trình độ trên chuẩn. Chất lượng giáo dục toàn diện không ngừng được nâng lên. Toàn thành phố có 59 trường được công nhận chuẩn Quốc gia.
  • Y tế: 21/21 xã, phường đã có y, bác sĩ túc trực.Hệ thống mạng lưới y tế từ thành phố xuống cơ sở tiếp tục được tăng cường, 10/21 Trạm y tế xã phường đạt chuẩn Quốc gia Tuổi thọ bình quân: 70 tuổi.
  • Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,3%
  • Thông tin liên lạc: 124 máy điện thoại/100 dân (vượt chuẩn đô thị loại 1 là 40 máy/100 dân).

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Kho tàng văn hóa phi vật thể Tây Nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Nói đến văn hóa Tây Nguyên và các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên là phải nói đến không gian văn hóa cồng chiêng. Cồng chiêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Con người từ khi sinh ra đã nghe tiếng chiêng trong lễ đặt tên, lễ thổi tai; đến khi lìa đời về với thế giới của các vị thần linh, tiếng chiêng ngân dài tiễn biệt trong lễ bỏ mả. Thông qua tiếng chiêng, các tộc người Tây Nguyên như gửi gắm tâm hồn mình, ước nguyện của mình với các đấng thần linh, tiếng chiêng thực sự đã gắn với đời sống của dân tộc, gắn với tâm linh của mỗi người. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được thể hiện qua ngôn ngữ, phong cách diễn tấu, tài bản... riêng biệt và độc đáo, chính vì thế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Loại hình văn học dân gian truyền miệng cũng là di sản văn hóa phi vật thể phong phú của các dân tộc Tây Nguyên, trong đó sử thi, trường ca là đại diện tiêu biểu nhất. Sử thi có mặt hầu hết ở các tộc người nơi đây, dân tộc Êđê gọi là khan, M’nông là ot ndrong, Bana là h’mon... Sử thi Tây Nguyên được tập trung nghiên cứu, sưu tầm nhờ sự hỗ trợ của Chính phủ với Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên mà Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận như Bình Phước, Khành Hòa, Phú Yên thực hiện trong nhiều năm qua. Nhờ đó, chúng ta đã sưu tầm được hàng trăm sử thi, xuất bản nhiều sử thi có giá trị, trong đó sử thi của dân tộc M’nông chiếm số lượng nhiều nhất. Các loại hình văn học dân gian khác của đồng bào Tây Nguyên như lời nói vần, thần thoại, truyện cổ... cũng được sưu tầm, biên soạn và xuất bản.

Tượng gỗ dân gian Tây Nguyên, chủ yếu là tượng nhà mồ một yếu tố không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân bản địa. Dù mang nhiều dáng vẻ nhưng chúng gặp nhau ở một điểm là đều lấy cảm hứng từ đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất và đời sống tâm linh gắn với phong tục tập quán của mỗi tộc người. Các dân tộc sinh sống ở tỉnh Gia Lai như Bana, Giarai là những tộc người có năng khiếu đặc biệt về điêu khắc gỗ, trình độ nghệ thuật tạo hình, trang trí rất phát triển. Những rừng tượng nhà mồ đã từng tồn tại làm nên dấu ấn đặc biệt trong nghệ thuật điêu khắc, thể hiện sự tài hoa, truyền thống nhân văn của các tộc người Tây Nguyên.

Ngoài những giá trị tiêu biểu nêu trên, Tây Nguyên còn có kho tàng di sản văn hóa phi vật thể khác, đó là kiến trúc nhà làng truyền thống như nhà rông, nhà ưng... của các dân tộc Bắc Tây Nguyên, kiến trúc nhà dài của dân tộc Êđê; nghề dệt và trang phục, tri thức dân gian, ẩm thực, nghệ thuật diễn xướng, lễ hội. Đồng bào Tây Nguyên có nhiều hình thức lễ hội liên quan đến chu kỳ canh tác nương rẫy; lễ nghi vòng đời người; lễ hội cộng đồng...

Trong lễ nghi nông nghiệp, đáng chú ý nhất là lễ ăn mừng lúa mới, lễ cúng hồn lúa, mẹ lúa. Lễ hội cộng đồng phải kể đến lễ kết nghĩa, lễ mừng nhà rông mới...

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các trường Đại học - Cao đẳng tại Buôn Ma Thuột[sửa | sửa mã nguồn]

1.Đại học Tây Nguyên

2.Phân hiệu Đại học Đông Á(Tp HCM)

3. Cao đẳng sư phạm Đắk Lăk

4. Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Đắk Lăk

5. Cao đẳng nghề Đắk Lăk

6. Cao đẳng nghề thanh niên dân tộc Đắk Lăk

7. FPT Polytechnic Tây Nguyên

Giai đoạn 2015- 2020 tỉnh Đắk Lắk có 5 trường Cao đẳng 

+ Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk,

+ Cao đẳng Y tế

+ Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Đắk Lắk (trên cơ sở nâng cấp trường Trung cấp Kinh tế- Kỹ thuật ĐắkLắk),

+ Cao đẳng Bách khoa Tây Nguyên,

+ Cao đẳng Tây Nguyên (trên cơ sở nâng cấp trường Trung cấp Tây Nguyên).).

Về Đại học (có 6 ĐH):

+ Đại học Tây Nguyên,

+ Đại học Buôn Ma Thuột (khởi công XD 2014-2015)

+ Đại học Y Dược (tách Khoa Y khỏi Đại học Tây Nguyên);

+ Nâng cấp Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật thành Đại học Văn hóa Nghệ thuật Tây Nguyên

+ Phân hiệu Đại học Đông Á.

+ Phân hiệu đại học Bình Dương.

Ngã 6 Ban Mê[sửa | sửa mã nguồn]

Ngã 6 Ban Mê.

Ngã 6 Ban Mê là trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột. Ở đây có Tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột được coi như biểu tượng của thành phố.

Trước đây, khi mới giải phóng nơi đây chỉ là một bùng binh đầy cỏ dại với một cột đèn ba ngọn và vài tấm áp phích. Sau này một tượng đài được dựng lên với điểm nhấn chính chiếc xe tăng bằng sắt thép đã mở đầu trận đánh vào Buôn Ma Thuột. Đến những năm cuối thế kỷ trước thì tượng đài chiến thắng đã được xây dựng hòang tráng như hiện nay. Nơi đây từng có một chiếc xe tăng T-34 của Nga nhưng nó được đưa vào bảo tàng năm 1997 và thay thế vào đó là một chiếc xe mô hình.

Ngã sáu Ban mê đã đi vào thơ ca qua nhiều bài hát đi cùng năm tháng và giờ đây nó chính là một trong những địa chỉ mà du khách rất yêu thích, thường tìm đến để chụp ảnh kỷ niệm cho chuyến đi Đắk Lắk của mình.

Cây Kơnia cổ thụ[sửa | sửa mã nguồn]

Cây Kơ nia ở trung tâm Buôn Ma Thuật.

Cây Kơnia, hay còn gọi là Cốc, Cầy, là một loài cây thân gỗ lớn, cao 15–30 m, đường kính 40–60 cm, tên khoa học là Irvingia malayana, thuộc họ Irvingiaceae. Loài cây này mang ý nghĩa tâm linh rất lớn đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, họ coi chúng là nơi trú ngụ của thần thánh, của vong linh những người đã khuất, rất ít khi họ đụng chạm đến chúng, chặt phá chúng; vì vậy trên nương rẫy của đồng bào thường có các cây Kơ nia cổ thụ được sử dụng như cây che mát mỗi lúc nghỉ giải lao, nghỉ trưa. Do bài hát Bóng cây Kơ-nia nổi tiếng vì vậy du khách khi đến Buôn Ma Thuột luôn muốn tìm xem tận mắt cây Kơ Nia. Ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột có một cây Kơ nia cổ thụ nằm trong khuôn viên sân sau nhà văn hóa trung tâm tỉnh, cách ngã 6 Ban Mê vài trăm mét.

Thủ phủ cà phê[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy cây cà phê đã được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (1870) nhưng được trồng đại trà ở Đắk Lắk chỉ từ những năm sau 1930 trong những đồn điền của những nhà tư bản Pháp như CADA,... nhưng do vùng đất đất đỏ bazal này đặc biệt phù hợp với việc canh tác cà phê nên việc phát triển diện tích trồng ở đây đã tăng lên; hiện tại, theo số liệu thống kê, Đắk Lắk có đến hơn 175.000 ha cà phê (thực tế có đến trên 200.000 ha vì một số diện tích không được tính do không trong quy hoạch). Đắk Lắk cũng chính là nơi được xem là nơi có năng suất cà phê thu hoạch cao nhất thế giới và góp phần chính trong việc đưa sản lượng cà phê Việt Nam lên vị trí số 2 (riêng cà phê robusta chiếm vị trí số 1) của những quốc gia xuất khẩu cà phê. Ở Đắk Lắk gần như huyện nào cũng có trồng cà phê, nhưng cà phê Buôn Ma Thuột vẫn luôn được đánh giá là có chất lượng cao nhất và có hương vị đặc trưng nhất, chính vì vậy thương hiệu Cà phê Buôn Ma Thuột được thế giới biết đến và địa danh Buôn Ma Thuột được nhiều người ví như "thủ phủ cà phê".

Ở Đắk Lắk hiện tại, một số vấn đề liên quan đến cà phê đã trở bản sắc văn hóa như việc mời đi uống cà phê đã là một nét văn hóa đặc trưng của vùng này. Mời đi uống cà phê là một nét văn hóa rất đặc trưng của thành phố Buôn Ma Thuột.

Mời đi uống cà phê[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Đắk Lắk, việc đi uống cà phê đã trở thành một trào lưu, một phong cách sống. Việc đi uống cà phê đối với nhiều người ở đây cũng quan trọng giống như ăn cơm, uống nước hàng ngày. Vì vậy, ở đây câu nói đi uống cà phê đã trở thành câu nói cửa miệng, thay vì mời đi uống nước, giải khát người ta lại nói là đi uống cà phê. Chỉ riêng ở Buôn Ma Thuột, hiện tại quán cà phê nhiều đến nỗi nếu mỗi ngày chỉ cần vào một quán thôi cũng mất cả chục năm mới đi giáp một vòng. Các quán cà phê ở đây hầu hết được xây dựng rất đẹp, cầu kỳ và có phong cách riêng để thu hút khách. Đặc biệt,nơi đây có một loại cà phê mà đã trở thành huyền thoại,dó là “Cà phê phân chồn”,nói đến ai cũng nghĩ đến… nhưng thực chất không phải như vậy, cà phê phân chồn là loại cà phế được chế biên từ những hạt cà phê chín mọng sau khi con chồn ăn chúng,chỉ riêng công đoạn chế biên thôi cũng đủ cho ta thấy nó đặc biệt như thế nào.Mùi vị của chúng đã làm ngất ngây bao nhiêu khách du lịch khi đến đây.

Lễ hội Cà phê[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột, hay Buôn Ma Thuột cà phê Festival, là một lễ hội được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk Lắk, đây là một lễ hội lớn ở Tây Nguyên. Nhằm tôn vinh cây cà phê, loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở đây và chiếm đến 60& sản lượng cà phê của Việt Nam, loài cây đã đem lại sự ấm no, trù phú cho mảnh đất vùng cao này. Lễ hội mới chỉ bắt đầu được tổ chức từ năm 2005 trong chương trình quảng bá hình ảnh Thủ phủ cà phê Buôn Ma Thuột. Bên cạnh các hoạt động trao đổi về, quy trình, các thức, sản xuất, chế biến cà phê. Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi. Hình thức giao dịch trực tuyến với thị trường thế giới.

Buôn AKô Đhông[sửa | sửa mã nguồn]

Buôn AKô Đhông hay Buôn Cô Thôn, làng Ma Rin là một buôn làng người Ê Đê ở thành phố Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk. AKô Đhông theo tiếng Ê Đê có nghĩa là buôn đầu nguồn vì nó ở đầu nguồn một con suối lớn ở Buôn Ma Thuột là suối Ea Nuôl. Ở đây nguồn suối bắt đầu cũng chính là bến nước cũ của buôn, một bến nước rất đẹp nhưng hiện tại không còn được sử dụng do bị ô nhiễm vì ở ngay trung tâm thành phố.

Buôn nằm ở cuối đường Trần Nhật Duật- thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là một buôn lớn có lịch sử lâu đời được quy hoạch rất đẹp và giữ được nhiều giá trị truyền thống, dấu ấn đậm nét Malayo (Nam Đảo) thể hiện qua các kiến trúc nhà dài xếp dọc hai bên trục lộ, nhìn từ xa dáng dấp của những con thuyền với các mái nhà như con sóng biển, hiện tại là một điểm du lịch hấp dẫn của thành phố. Nằm trong quy hoạch khu trưng bày lịch sử của Buôn Ma Thuột.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đường bộ toàn tỉnh hiện có 397,5 km đường quốc lộ, trong đó:
  • Quốc lộ 14 nối về phía phía bắc đi Pleiku (195 km), đi Kon Tum (244 km), nối với Đà Nẵng, về phía nam đi ĐăkNông, Bình Phước, Bình Dương, Tp Hồ Chí Minh (350 km).
  • Quốc lộ 26 đi Ninh Hòa, Nha Trang (198 km).
  • Quốc lộ 27 đi Đà Lạt (193 km).
  • Quốc lộ 14C: từ ranh giới tỉnh Gia Lai đến ranh giới tỉnh Đăk Nông(68,5 km).
  • Quốc lộ 29: Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã đề nghị Bộ GT-VT chuyển 2 tuyến đường ĐT645 (Phú Yên) và ĐT633 (Đắk Lắk) thành quốc lộ (QL) 29. Tuyến ĐT645 xuất phát từ QL1A qua các huyện: Đông Hòa, Tây Hòa và Sông Hinh (Phú Yên) lưu thông với ĐT633 (Đắk Lắk). Nếu đây trở thành QL 29 sẽ là QL thứ 2 nối các tỉnh Tây Nguyên (280 km)
  • Dự kiến quy hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột có 3 bến xe khách, 1 bến xe buýt ở trung tâm thành phố, hình thành mạng lưới các điểm đỗ xe buýt nội thị và đến các điểm ven đô, các huyện lân cận, 3 bãi đỗ xe tải các bãi đỗ xe con, xe du lịch ở những nơi tham quan, du lịch, khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, chợ. Tại ở mỗi thị xã, mỗi huyện có từ 1- 2 bến xe khách

Đường hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay Buôn Ma Thuột (mã sân bay IATA: BMV, mã sân bay ICAO: VVBM) là một sân bay hỗn hợp quân sự và dân sự tại thành phố Buôn Ma Thuột. Sân bay có đường băng dài 3000 m, rộng 45 m có thể tiếp nhận những máy bay tầm ngắn như ATR72, F70, tầm trung như A320, A321, B767 và có đèn chiếu sáng phục vụ bay đêm, trong khi đó công suất thiết kế nhà ga 1.000.000 lượt hành khách/năm. Đến năm 2010 phục vụ 300.000 hành khách/năm (năm 2020 là 800.000) và 3.000 tấn hàng hóa/năm. Các tuyến bay gồm có:

Với tổng mức đầu tư khoảng 300 tỷ đồng, nhà ga hành khách Cảng Hàng không Buôn Ma Thuật chính thức được khánh thành sáng 24/12/2012. Nhà ga mới có công suất đáp ứng đến năm 2020 là 1 triệu hành khách/năm. Cảng hàng không Buôn Ma Thuột nằm tại địa bàn xã Hòa Thắng, TP. Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắc Lắc) - là một trong 8 cảng hàng không địa phương trực thuộc Tổng công ty Cảng hàng không miền Nam. Việc mở rộng nâng cấp cảng hàng không Buôn Ma Thuột là dự án cần thiết góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng khu vực Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung. Đồng thời, đây cũng là một trong các dự án nằm trong chiến lược nâng cấp, hiện đại hóa các Cảng hàng không địa phương trực thuộc Tổng công ty Cảng hàng không miền Nam.

Nhà ga mới Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Quy hoạch Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột giai đoạn 2015, định hướng đến năm 2025 đã được Bộ GTVT phê duyệt, ngày 22/01/2010 Tổng công ty Cảng hàng không Miền Nam đã khởi công công trình xây dựng Nhà ga hành khách và mở rộng sân đậu máy bay Cảng hàng không Buôn Ma Thuột với tổng mức đầu tư khoảng 300 tỷ đồng.

Nhằm đáp ứng đến năm 2020, công suất phục vụ của nhà ga hành khách mới Buôn Ma Thuột được thiết kế là 1 triệu HK/năm, quy mô bao gồm: một tầng trệt và một tầng lửng, với tổng diện tích sàn 7.175 m2, đáp ứng 4 chuyến bay giờ cao điểm (02 chuyến đến và 02 chuyến đi) với loại máy bay A321 trở xuống; Ngoài ra còn có các công trình tiện ích phụ trợ như trạm cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc, xử lý nước thải, sân đậu ô tô…

Xuất phát từ thực tế nhu cầu sinh hoạt cộng đồng rất cao của người Việt Nam, đặc biệt là các dân tộc Tây nguyên, nhà ga hành khách Cảng hàng không Buôn Ma Thuột có không gian kiến trúc lớn, hiện đại, nhưng hài hòa với đặc thù văn hóa vùng miền. Nhà ga hành khách được thiết kế sử dụng 1,5 cao trình (một cao trình rưỡi).

Tầng trệt được bố trí cho quy trình khách đến, khách đi bao gồm: sảnh làm thủ tục lên máy bay, khu soi chiếu an ninh, khu vực xếp dỡ hành lý; sảnh nhận hành lý, khu bán hàng, khu đợi VIP, trung tâm vận hành và quản lý, không gian lưu thông, hành lang đón và khởi hành… Tầng lửng gồm: khu tập trung khởi hành, khu phòng chờ, khu M&E, khu bán hàng, không gian lưu thông…

Quy trình khai thác đảm bảo phục vụ an toàn và tiện lợi cho các chuyến bay đi/đến Cảng Hàng không Buôn Ma Thuột. Cảng hàng không Buôn Ma Thuột thuộc: hạng sân bay 4C, theo tiêu chuẩn của tổ chức HKDD thế giới ICAO.

Nhà ga hành khách: 7.175m2 với 4 cửa ra máy bay; 9 cửa check - in; 2 băng chuyền; 2 máy chiếu an ninh... Hệ thống ngăn chặn tấn công khủng bố, hệ thống chữa cháy tự động, máy soi chiếu an ninh, nguồn điện liên tục 24/24, dịch vụ y tế, cấp cứu y tế 24/7. Hệ thống đường liền kề nhà ga dành cho 3 làn xe, sân vườn, bãi đậu xe, công viên cây xanh.

Được biết, trong các năm qua lưu lượng hành khách thông qua cảng hàng không Buôn Ma Thuột tăng trưởng nhanh ở mức trung bình 40%/năm. Trong 10 tháng đầu năm 2011, sản lượng hành khách tăng 54,4% so với cùng kỳ 2010. Kế hoạch trong năm 2012 Cảng hàng không Buôn Ma Thuột ước tính phục vụ khoảng hơn 400.000 hành khách.

Năm 2013 Cảng đã phục vụ an toàn tuyệt đối hơn 5.100 lần chuyến cất hạ cánh bằng máy bay thương mại ; Vận chuyển hơn : 500.000 lượt khách ; Vận chuyển được 3.609 tấn hành lý, hàng hóa

Khi nhà ga mới được đưa vào sử dụng, công suất nhà ga mới được tính toán đáp ứng đến năm 2020 với công suất là 1 triệu hành khách/năm. Vào giờ cao điểm nhà ga sẽ phục vụ 4 chuyến bay với số hành khách lên đến khoảng 400 người.

Trong tương lai, cảng hàng không Buôn Ma Thuột sẽ phát triển các tuyến giao thông đường hàng không nối khu vực này với miền Nam, miền Bắc và các nước trong khu vực. Đây là một yêu cầu và là một động lực mới để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, cũng như khai thác hơn nữa tiềm lực của thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Dự án tuyến đường sắt Tuy Hòa - Buôn Ma Thuột đã được Xí nghiệp Tư vấn thiết kế công trình giao thông sắt bộ thuộc Công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam xây dựng hoàn chỉnh. Toàn tuyến đường sắt có chiều dài 160 km, đi qua 8 ga, xuất phát từ ga Phú Hiệp và điểm cuối là ga Buôn Ma Thuột.

Theo tính toán, Buôn Ma Thuột là trung tâm của hệ thống đường sắt Tây nguyên trong tương lai; ga đầu mối nối các tuyến đi Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông và Lâm Đồng, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế và quốc phòng khu vực Tây nguyên rộng lớn.

Tuyến đường sắt này cũng mở ra cơ hội lớn cho vùng Đông Bắc Campuchia, Nam Lào và một phần Thái Lan gần hơn với biển. “Địa lý kinh tế của Phú Yên gắn liền với các tỉnh Tây nguyên, hành lang kinh tế Đông Tây và các nước ASEAN, nối thông ra biển và có khả năng phát triển về đường biển.

Danh lam thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Biệt điện Bảo Đại ở Buôn Ma Thuật.

Do Buôn Ma Thuột là nơi đầu tiên người Kinh lưu lạc đến lập nghiệp để xây dựng Đăk Lăk hôm nay nên ở đây tập trung hầu hết các di tích có ý nghĩa lịch sử của Đăk Lăk như:

Du khách cũng có thể đến với làng văn hóa buôn AKô Đhông, ngắm cây Kơnia cổ thụ giữa lòng thành phố sát Ngã 6 Ban Mê, thưởng thức hương vị cà phê Ban Mê...

Với vị trí trung tâm và giao thông thuận tiện Buôn Ma Thuột cũng chính là trung tâm du lịch lớn nhất của Đăk Lăk nối các điểm du lịch quan trọng trong tỉnh như Bản Đôn, Hồ Lắk, cụm thác Đray Sáp...

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]