Hải Dương (thành phố)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hải Dương (thành phố)
Địa lý
Trực thuộc tỉnh Hải Dương
Trụ sở Ủy ban Nhân dân 45 Quang Trung - Thành Phố Hải Dương
Vị trí Trung tâm của tỉnh Hải Dương
Diện tích 71,39 km² (2008) [1];
71,39 km² (2009) [2]
Số xã/phường 15 phường, 6
Dân số
Dân số 187.405 người (2008) [1];
213.096 người (2009) [3];
 - Thành thị 79,97 % (2009)[3]
 - Nông thôn 20,03 % (2009)[3]
Mật độ 2.625 người/km² (2008)
Thành phần dân tộc Chủ yếu là Việt
Thông tin khác
Điện thoại trụ sở 84-0320-3852243
Website http://vpubnd.haiduong.gov.vn
Công nhận thành phố 1997 [4]
Xếp loại đô thị 2 [5]

Hải Dương là một thành phố loại 2 [5], ở miền Bắc Việt Nam, tỉnh lị tỉnh Hải Dương. Trung tâm công nghiệp - dịch vụ thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.

Mục lục

[sửa] Địa lý

Vị trí: Nằm ở vị trí trung tâm tỉnh, phía bắc giáp huyện Nam Sách, phía đông giáp các huyện Kim ThànhThanh Hà, phía tây giáp huyện Cẩm Giàng, phía nam giáp huyện Gia Lộc, phía đông nam giáp hai huyện Thanh HàTứ Kỳ. Thành phố Hải Dương nằm cách Thủ đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía tây.

Thủy văn: Các sông lớn chảy qua có: Sông Thái Bình đi qua giữa thành phố, ở phía nam có sông Sặt, chi lưu sông Thái Bình. Sông Kinh Thày ở phía đông phân định xã Ái Quốc (TP Hải Dương) và xã Lai Vu (Kim Thành).

Ngoài ra, còn có các hồ điều hòa: Bạch Đằng và Bình Minh, là những hồ lớn của thành phố.

Diện tích: 7.138,60 ha.

Dân số: 213.639 người. [6]

[sửa] Lịch sử

Quá trình hình thành: [7].

Thành phố Hải Dương được khởi lập từ năm 1804 dưới tên gọi Thành Đông. Trước năm 1804, Lỵ sở Hải Dương được đặt tại Lạc Thiên (Chí Linh), lúc ấy gọi là thành Vạn hay doanh Vạn. Sau đó rời về Mao Điền (Cẩm Giàng).

Năm 1804 (năm Gia Long thứ ba), để củng cố bộ máy cai trị, nhà Nguyễn đã phân chia lại địa giới hành chính của cả nước, do vậy Lỵ sở Hải Dương đã được rời từ Mao Điền về vùng ngã ba sông Thái Bìnhsông Sặt, thuộc địa phận ba xã Hàn Giang, Hàn ThượngBình Lao. Tỉnh lỵ mới cách Kinh đô Huế 1.097 dặm. Tổng đốc Trần Công Hiến là người khởi công xây dựng thành, gọi là Thành Đông, với mục tiêu vừa là trấn thành, vừa án ngữ phía đông Kinh thành Thăng Long. Trong thành không có dân, chỉ có quan lại và quân lính.

Năm 1866 (năm Tự Đức thứ 19), Đông Kiều phố được hình thành (Phường Trần Phú và một phần phường Trần Hưng Đạo ngày nay), nhiều phố nghề ra đời như Hàng Giày (Sơn Hòa ngày nay), Hàng Đồng (Đồng Xuân), Hàng Bạc (Xuân Đài), Hàng Lọng (Tuy An).

Năm 1889, Thành Đông bị thực dân Pháp phá bỏ để lấy mặt bằng xây dựng Nhà máy Rượu và vài tòa dinh thự của người Pháp.

Năm 1923, Toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập thành phố Hải Dương. Không gian thành phố được chia thành hai khu vực: khu hành chính - nằm ven sông Sặt và khu kinh tế - từ Nhà máy Rượu đến Nhà ga xe lửa. Các công sở và dinh thự của quan chức người Pháp được tập trung ven sông Sặt. Một số tòa dinh thự mang kiến trúc Pháp hiện nay vẫn còn được sử dụng như dinh Công sứ (nhà làm việc và nhà khách Tỉnh ủy); Sở Lục bộ (Sở Giao thông); nhà Séc-tây (Sở Thể dục- Thể thao cũ), Kho bạc (Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh), dinh Phó sứ (Sở Văn hóa - Thể thao & du lịch)... Với vị trí thuận lợi về giao thông và phát triển kinh tế, văn hóa; thành phố Hải Dương đã trở thành một trong 4 thành phố quan trọng nhất của Bắc Kỳ (cùng TP Hà Nội, Hải PhòngNam Định).

Tháng 3 năm 1947, nhà cầm quyền Pháp chia thành phố Hải Dương thành 2 quận, rồi sau đó một thời gian lại chuyển thành thị xã.

Ngày 30-10-1954, thị xã Hải Dương được giải phóng hoàn toàn. Sau khi giải phóng, thị xã được chia làm 3 khu phố: Bắc Sơn, Bạch ĐằngChi Lăng; mỗi khu phố có một số đường phố và xóm nhỏ.

Năm 1959, thị xã được tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và quy hoạch đô thị với quy mô dân số từ 40.000 đến 50.000 người.

Từ 1968 tới năm 1996 là tỉnh lị tỉnh Hải Hưng.

Năm 1969, thị xã Hải Dương được mở rộng, sáp nhập thêm các xã Ngọc Châu (Nam Sách), Thanh Bình, Tứ Minh, Việt Hòa (Cẩm Giàng), Hải Tân (Gia Lộc).

Năm 1981, các phường Trần Phú, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão được thành lập.

Từ ngày 6 tháng 11 năm 1996, trở lại là tỉnh lị tỉnh Hải Dương.

Năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định 64/CP thành lập các phường Thanh Bình, Cẩm Thượng, Hải Tân, Ngọc Châu, Bình Hàn và tách một số khu dân cư của phường Trần Phú để thành lập phường Lê Thanh Nghị.

Ngày 6 tháng 8 năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định 88/CP thành lập thành phố Hải Dương và là đô thị loại III với 11 phường, 2 xã.

Ngày 1 tháng 7 năm 2008, thành phố sáp nhập thêm các xã Nam Đồng, An Châu, Ái Quốc, Thượng Đạt (Nam Sách), 38 ha của thị trấn Lai Cách (Cẩm Giàng), các xã Tân Hưng, Thạch Khôi (Gia Lộc) và một phần thôn Ngọc Lặc, xã Ngọc Sơn (Tứ Kỳ). Như vậy, sau khi được điều chỉnh địa giới hành chính thành phố có 19 phường, xã (13 phường, 6 xã).

Ngày 17 tháng 5 năm 2009, thành phố có quyết định trở thành đô thị loại 2.

Ngày 23 tháng 9 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính phường và thành lập các phường Nhị Châu và Tân Bình thuộc TP Hải Dương [8].

Danh nhân:

Bên cạnh các tên tuổi nổi danh trong lịch sử phong kiến như Lương Như Hộc, Đinh Văn Tả, Nguyễn Trác Luân, Trần Xuân Yến, Vũ Hựu…, thành phố Hải Dương còn được biết đến với các danh nhân thời hiện đại: Hồng Quang, Nguyễn Thượng Mẫn, Đặng Quốc Chinh, Thâm Tâm, Lê Đình Vũ, Lê Tôn Hy, Phạm Xuân Huân, Phạm Ngọc Khánh

Ngày 30/10

Ngày 30/10/1954, thành phố Hải Dương được giải phóng, do đó ngày này thường gắn liền với các sự kiện lớn hàng năm của thành phố như: Kỷ niệm lịch sử khởi lập Thành Đông, Ngày giải phóng thành phố Hải Dương, và các sự kiện văn hóa, chính trị khác.

[sửa] Hành chính

Thành phố Hải Dương hiện có 15 phường:

       

Và 6 xã

     

[sửa] Kinh tế

Tổng quan

Thành phố Hải Dương là trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ của tỉnh.

Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 14,5%.[9]. Cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - Xây dựng 53,07%, Dịch vụ 45,68%, Nông nghiệp - Thuỷ sản 1,25%. Trên địa bàn thành phố, Chính phủ đã phê duyệt các khu công nghiệp, thu hút 1.247 doanh nghiệp hoạt động.

Năm 2008, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng ước đạt hơn 1.346 tỷ đồng, tăng 52% [10] so với năm 2007. Cũng năm này, thành phố có 1.700 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực, trong đó có hơn 900 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người một năm đạt 1.344 Usd/người [11].

Trong 6 tháng đầu năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn TP Hải Dương đạt hơn 676 tỷ đồng, bằng 50,8% kế hoạch năm và tăng 14% so với cùng kỳ năm ngoái [12]. Trong đó, kinh tế tập thể đạt hơn 11 tỷ đồng, bằng 50,3% kế hoạch năm; doanh nghiệp tư nhân gần 124 tỷ đồng, bằng 49,7%; công ty trách nhiệm hữu hạn hơn 238 tỷ đồng, bằng 50,8%; công ty cổ phần hơn 206 tỷ đồng, bằng 50,9%; hộ cá thể, gần 98 tỷ đồng, bằng 48,7% kế hoạch năm. Thành phố hiện có gần 2.000 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực, trong đó có gần 1.000 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.

Thành phố Hải Dương là một trong những trung tâm về công nghiệp của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.

Khu - cụm công nghiệp

Trước đây, ngành công nghiệp của thành phố Hải Dương chủ yếu được biết đến qua sự đóng góp của Nhà máy Sứ Hải Dương, Công ty Chế tạo Bơm Hải Dương, các cơ sở sản xuất bánh đậu xanh và một số nhà máy khác. Mặt khác, sau năm 2000, với lợi thế về giao thông, thương mại..., tỉnh và thành phố đã triển khai quy hoạch xây dựng các khu - cụm công nghiệp:

  • KCN Đại An (603,82ha)
  • KCN Nam Sách (60,2ha)
  • KCN Việt Hòa-Kenmark (46,40ha)
  • CCN Ngô Quyền
 
  • CCN Cẩm Thượng - Việt Hòa
  • CCN Thạch Khôi
  • CCN Ba Hàng.
 

Thương mại

Ngành thương mại phát triển tương đối đồng đều tại các phường, xã. Trong đó, hàng hóa chủ yếu được lưu thông qua hệ thống bán lẻ.

Ngoài các chợ chính tại các khu dân cư, một hình thức bán lẻ khác là qua các siêu thị và trung tâm thương mại đã được xây dựng như: Siêu thị Intimex, Siêu thị Hải Dương, Max Seven, Minh Hải Plaza, marts (G7, Lucky Love), Trung tâm thương mại TP. Hải Dương. Hai trung tâm thương mại khác đang được triển khai là: Great Wall Plaza và Minh Anh Plaza.

Các tuyến phố thương mại chính: Đồng Xuân, Đại lộ Hồ Chí Minh, Ngân Sơn, Phạm Hồng Thái, Phạm Ngũ Lão, Quang Trung, Thống Nhất, Trần Bình Trọng, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Tuy An, Tuy Hòa, Xuân Đài...

Phố chợ: Bắc Kinh, Chi Lăng, Chợ Con, Mạc Thị Bưởi, Trần Phú.

[sửa] Giao thông

Cầu Phú Lương

Các tuyến xe buýt

Hiện tại, có tất cả 16 tuyến xe buýt xuất phát từ thành phố Hải Dương đi đến trung tâm các huyện trong tỉnh Hải Dương và các tỉnh, thành lân cận.

  • Các tuyến xuất phát từ Bến xe Hải Dương:

202 Hải Dương - Hà Nội

206 Hải Dương - Hưng Yên

216 Hải Dương - Sặt - Hưng Yên

  • Các tuyến xuất phát từ Bến xe Hải Tân:

02 Tp. Hải Dương - Thanh Hà

19 TP. Hải Dương - Nam Sách

207 Hải Dương - Uông Bí

215 Hải Dương - Lương Tài

217 Hải Dương - Bắc Ninh.

  • Các tuyến xuất phát từ Bến xe phía Tây Hải Dương:

208 Hải Dương - Bắc Giang

209 Hải Dương - Thái Bình

01 TP Hải Dương - Thanh Hà

18 TP Hải Dương - Phú Thái - Mạo Khê

08 TP Hải Dương - Kim Thành

07 TP Hải Dương - Bóng - Cầu Dầm

05 TP Hải Dương - Bình Giang - Hà Chợ

  • Các tuyến xuất phát từ Điểm đỗ Bắc đường Thanh Niên (Siêu thị Marko cũ):

06 TP Hải Dương - Bến Trại

09 TP Hải Dương - TT. Tứ Kỳ - Quí Cao - Ninh Giang

27 TP Hải Dương - Gia Lộc - Ninh Giang.

Đường phố

  • Quốc lộ: QL5; QL 191; QL 37; QL 17
  • Đường phố chính:

- Đại lộ: Hồ Chí Minh; Trần Hưng Đạo; Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị; 30/10.

- Phố: Phạm Ngũ Lão, Trường Chinh, Thanh Niên, Thống Nhất, Ngô Quyền, Hồng Quang, Yết Kiêu, Điện Biên Phủ, Bạch Đằng...

Đường thủy

Giao thông đường thủy thuận lợi. Từ thành phố Hải Dương, theo hệ thống sông Thái Bình, tàu thuyền có thể xuôi ra Cảng Hải Phòng, hoặc ngược lên các tỉnh miền núi trung du phía Bắc.

Cảng Cống Câu là cảng đường thủy nội địa có chức năng là nơi bốc giỡ hàng hóa - chủ yếu là nguyên vật liệu - đến và đi các tỉnh thành khác, cảng có công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi.

Đường sắt

Hệ thống đướng sắt Hà Hải đi qua địa phận thành phố Hải Dương khoảng 13km, bắt đầu từ phường Việt Hòa và kết thúc tại xã Ái Quốc. Kết nối với các tỉnh thành khác tại Nhà ga Hải Dương - đầu mối giao thông đường sắt của toàn tỉnh, và Tiền Trung là nhà ga trung chuyển của khu vực Đông bắc tỉnh.

Thực trạng

Các tuyến phố chính (khoảng 40) trong khu trung tâm thành phố nằm trên nền địa chất yếu nên mỗi khi có mưa lớn kéo dài, các tuyến phố này thường bị ngập lụt. Hơn nữa, hầu hết đây là các tuyến phố nhỏ hẹp được thiết kế, qui hoạch từ những năm 1950, không còn phù hợp với lưu lượng xe thực tế hiện nay. Do vậy, dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông vào những giờ cao điểm.

[sửa] Giáo dục - Y tế

  • Hệ Đại học - Cao đẳng.

1. Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương

2. Cao đẳng Y tế Hải Dương

3. Cao đẳng Nghề Hải Dương

4. Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương

5. Cao đẳng Hải Dương

 

6. Cao đẳng nghề Giao thông vận tải đường thủy 1

7. Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương

8. Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Cơ sở 3 Hải Dương

9. Đại học Thành Đông.

9. Đại học Kinh tế Quốc dân - Cơ sở Hải Dương.

 
  • Hệ Trung học phổ thông.

1. THPT Nguyễn Trãi (chuyên cấp tỉnh)

2. THPT Hồng Quang (chuyên cấp thành phố)

3. THPT Hoàng Văn Thụ

4. THPT Nguyễn Du

5. THPT Bán công Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

6. THPT Dân lập Thành Đông

7. THPT Ái Quốc

8. THPT Lương Thế Vinh

9. THCS - THPT Marie Curie.

10.THPT Quang Trung

 
  • Hệ Trung học cơ sở - Tiểu học

Xem Danh sách các trường:

- THCS: http://pgdhd.haiduong.gov.vn/News/Detail,903.aspx

- Tiểu học: http://pgdhd.haiduong.gov.vn/News/Detail,1241.aspx

  • Bệnh viện

1. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.

2. Bệnh viện Đa khoa TP. Hải Dương.

3. Viện Quân y 7.

4. Bệnh viện Lao & Phổi Hải Dương.

 

5. Bệnh viện Đa khoa Hòa Bình.

6. Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương.

7. Trung tâm Y tế dự phòng Hải Dương.

8. Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Hải Dương.

9. Bệnh viện Nhi Hải Dương.

 

[sửa] Ẩm thực - Đặc sản

Đặc sản: Hải Dương là nơi nổi tiếng với nhiều đặc sản mang đậm hương vị của đồng bằng Bắc bộ như: Bánh đậu xanh, Bánh khảo, Cốm (An Châu). Thêm vào đó là những Bánh gai Ninh Giang, Vải thiều Thanh Hà… mang từ các huyện lên.

Ẩm thực:

  • Các món ăn ngon được biết đến nhiều của thành phố Hải Dương: Bún cá, Bánh đa cua, Bánh cuốn, Bánh đúc.
  • Phố ẩm thực đêm [13].

Có nhiều quán ăn đêm nằm rải rác ở nhiều tuyến phố. Món ăn đêm của thành phố rất phong phú và đa dạng. Phố Mạc Thị Bưởi nổi tiếng về ăn uống từ xưa đến nay, từ chiều tối đến tận khuya lúc nào cũng sáng đèn. Ở đây thứ gì cũng có, có thể ăn tại chỗ hoặc gói mang về. Đầu phố là những hàng xôi hộp, bánh bao, bánh mỳ pa-tê, bánh cuốn hấp, giữa phố là phở, miến, cháo... Ngoài ra, phố này còn nổi tiếng với các món ăn bổ dưỡng như gà tần, tim tần thuốc bắc. Một phố khác được nhiều người lui tới nhất để ăn cháo là phố Phạm Hồng Thái. Đây cũng chính là phố ẩm thực của Thành Đông với nhiều món ăn ngon và đa dạng.

Ngoài ra, phở gà, miến ngan, vịt cũng là những món ăn đêm được ưa chuộng. Tại các phố Hoàng Văn Thụ, Bạch Đằng... đều thấy những quán này bán từ khoảng 5 giờ chiều đến gần 12 giờ đêm. Thực khách chủ yếu là những thanh niên sau khi tan cuộc vui ghé vào ăn trước khi về nhà.

Dọc hai bên đường Nguyễn Lương Bằng, nơi tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, là những quán chè, ốc, ngô, khoai nướng mở hàng từ chiều tối đến tận khuya, giá cả cũng rất “sinh viên”. Những quán này còn là địa chỉ được ưa thích khi sinh viên tổ chức sinh nhật, liên hoan.

Còn một món ăn mà cả khi mùa đông hay mùa hè đều thu hút rất đông khách, đó là ốc luộc, ốc xào. Nói đến ốc thì không thể không nhắc đến phố Quang Trung, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thượng Mẫn, Hoàng Văn Thụ. Quán ốc nổi tiếng Hương Béo nằm sau khu nhà trung tâm thương mại.

Còn nói về những hàng ăn sáng về như Bún cá, phở bò, thì phải nói đến dọc đường Lê Thanh Nghị đặc biệt là quán Bún cá Phúc Hiền tính từ Cầu Cất đi xuống là bên phía tay trái có rất nhiều hàng ăn để lựa chọn

[sửa] Du lịch

Một buổi diễn của nhà hát Chèo Hải Dương
  • Địa điểm tham quan, giải trí

- Công viên Bạch Đằng

- Quảng trường Độc Lập (Ngã 5 Bách hóa Tổng Hợp)

- Quảng trường 30 tháng 10 (ĐTM Tây Hải Dương)

- Khu sinh thái Hà Hải.

- Nước khoáng nóng Thạch Khôi.

- Các tuyến phố thương mại

  • Di tích lịch sử

Thành Hải Dương:[14] Thành Đông. A. Thành nội:

  • Thành nội có hình lục giác đều, trung tâm ở vào khoảng ngã tư máy xay hiện nay ( Ngã tư Kho Đỏ). Từ trung tâm đến các góc thành dài chừng 500m. Ngoài thành có hào sâu bao quanh. Hào thành nối với sông Kẻ Sặt và qua cống Ba Cửa( Bến Canô ngày nay) nối thẳng với sông Thái Bình.
  • Thành nội có chu vi 551 trượng( 2204 m2), cao 1 trượng 1 thước 2 tấc ( 4 m 48cm). Thành thông với bên ngoài qua 4 cửa: đông, tây, nam, bắc.
  • Cửa Đông ở vào khoảng giữa đoạn từ Hồ Văn Hóa đến Bưu Điện, trông ra phố Đông Môn ( nay là phồ Phạm Hồng Thái). Đông môn là cửa phía Đông. Ngoài có bốn cửa có haò rộng 11 trượng( 44m), sâu 6 thước( 2m4). Từ thành nội ra các cổng thành phải qua một cầu gạch xây vòm cuốn; bắc qua hào. Cầu dài chừng 5m, rộng 3 m. Cầu phía đông và cầu phía Nam đã bị phá từ cuối thế kỉ 19. Cầu phía bắc còn di tích trên đường Chi Lăng ( Gần xí nghiệp liên hiệp Dược). Cầu phía tây còn di tích trên đường từ viện 7 đến khu tập thể phố Tuệ Tĩnh.
  • Phía trong thành nội chia làm 2.

1. Nửa thứ nhất: từ cửa bắc đi vào có một lối đi chính( trùng với đường Chi Lăng ngày nay). Hai bên lối đi chính là nhiều dãy nàh binh, nơi ở của binh lính giữ thành và nhà công sở quản vệ. Hai bên tả, hữu, sát thành có hai hồ rộng để lấy nước cho binh lính tắm giặt, sinh hoạt hoặc lấy nước phòng cháy, chữa cháy khi cần thiết.

  • Đi sâu vào phía trong là 10 dãy nhà kho dài, mỗi bên năm dãy xếp đối xứng nhau qua một lối đi rộng, giữa lối đi có nhà đợi ( thác gia). Bên trái lối đi có ba kho lương thực và hai kho chứa nước. Bên phải là một kho gỗ, hai kho lương thực, một kho tiền, kho nước liền nhau..
  • Bên hữu phía giáp thành có nhà tằm phụ trách việc nuôi tằm dệt lụa trong cả tỉnh.
  • Bên tả giáp thành có kho củi, khám đường và ngục thất để giam giữ phạm nhân.Ngoài hào thành phía bắc có sở Lương Án xét xử người có tội.

1. Nửa thứ 2. Đi lối cửa nam vào, có 3 khu.

  • Chính giữa là hai kì đàu có cột cờ cao còn gọi là khu cột cờ. Tới đầu thế kỉ 20 hãy còn xóm cột cờ ( nay là khu tập thể nhà máy Bơm).
  • Bên phải là dinh Tổng Đốc, cạnh dinh Tổng đốc giáp với tường thành có một kho vũ khí.
  • Bên trái là sở Bố Chánh, giáp thành là nông xưởng và ao
  • Qua kì đài vào sâu phía trong là hành cung. Bên phải hành cung là sở lãnh binh. Bên trái là sở Án sát. Lãnh binh trông coi việc quân sự. Án sát ohụ trách việc hình sự.

Qua đây mọi người có thể hình dung buổi đầu Hải Dương tỉnh thành chỉ là một trung tâm quân sự và không có dân cư sinh sống. Sau thời gian xây dựng, ổn định, quan quân trong thành chỉ có chừng ba cơ binh, khoảng trên 1000 người. + Năm Tự Đức thứ 19 ( 1866), Thành Đông được mở rộng, xây thêm ra phía ngoài thành nội. Phía ngoài 4 cổng thành đắp thêm 4 thành phụ gọi là thành Dương Mã hay thành ngoại.

  1. Thành phụ cửa Nam dài 57 trượng, rộng 37 trương, 5 thước
  2. Cửa Bắc dài 66 trượng 5 thượng, rộng 33 trượng 5 thước
  3. Cửa Đông dài 58 trượng 7 thước, rộng 38 trượng 5 thước
  4. Cửa Tây dài 55 trượng 5 thước, rộng 35 trượng 3 thước
  5. Phía ngoài thành Dương Mã có 1 lớp thành đất bao bọc, 4 xung quanh gọi là La thành ( tương tự La thành của thành Long Biên).
  6. Chu vi La thành dài 1539 trượng. Thành cao 3 thước, bờ thành rộng hơn 2 thước. Ngoài La Thành còn có 1 hào rộng 5 thước sâu 4 thước.


Như vậy nếu lấy thành Đông làm trung tâm thì , trong phạm vi 15 km ta sẽ có tổng thể Hải Dương như sau:

  • Ở chính tâm là thành Đông gồm : thành nội, thành ngoai ( thành Dương Mã), và La Thành. Ba mặt bắc, đông, nam có sông lớn bao bọc. Ở hai mặt đông và nam có 6 đồn nhỏ bảo vệ từ xa. Phía đông có hai đồn là đồn Ngọc Uyên và đôn Đông Lân.
  • Phía nam có 3 đồn là Ngọc Lặc, Ba Soi, Thủy Đồn đều nằm ven sông
  • Phia đông nam có đồn Phạm Xá

Phía đông và nam có các đồn thì phía Tây có :

  • Tây Bắc : thành Hoàng Miếu, xã Tắc Miếu thờ thần linh, Hội đồng Miêu, Đông Thượng điếm canh giữ đường
  • Phía Tây cách 15 km có Văn Miếu , Khải Thánh Tử, Thí Trường
  • Nguyễn Bình Khiêm , người trấn Hải Dương đã đậu giải nguyên( đỗ đầu), khoa thi Nhâm Thân 1532 tại đây.
  • Phía Tây Nam có: Sơn Xuyên là miếu thờ thần.

Thành đã bị phá hủy trong chiến sự 1946-54, ngày nay vẫn còn sót lại một số ít đoạn tường thành và dinh Tổng Đốc ở trụ sở của Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hải Dương.

[sửa] Thành phố kết nghĩa

[sửa] Hình ảnh

[sửa] Liên kết ngoài


Biểu đồ gió Nam Sách Biểu đồ gió
Cẩm Giàng B Kim Thành, Thanh Hà
T    Thành phố Hải Dương    Đ
N
Gia Lộc ,Tứ Kỳ
Enclave: {{{enclave}}}

[sửa] Ghi chú

  1. ^ a b Nghị định số 30/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện: Nam Sách, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Cẩm Giàng để mở rộng thành phố Hải Dương; thành lập phường Tứ Minh, phường Việt Hòa và mở rộng địa giới hành chính phường Hải Tân thành phố Hải Dương.
  2. ^ Nghị quyết số 47/NQ-CP ngày 23 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính phường, thành lập các phường thuộc thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
  3. ^ a b c Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 2, tr.14.
  4. ^ Nghị định số 88-CP ngày 06 tháng 8 năm 1997 của Chính phủ về việc thành lập thành phố Hải Dương thuộc tỉnh Hải Dương.
  5. ^ a b Quyết định số 616/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc công nhận thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Hải Dương.
  6. ^ [1]
  7. ^ Lịch sử TPHD. Nguồn: Theo Báo Hải Dương
  8. ^ Thành lập phường Nhị Châu và Tân Bình. Nguồn: Theo Báo Hải Dương
  9. ^ Kinh tế thành phố Hải Dương '07
  10. ^ Kinh tế thành phố Hải Dương '08
  11. ^ Thu nhập USD/người (Theo báo Hải Dương hằng tháng Tháng 5/2009)
  12. ^ Kinh tế TPHD 6 tháng đầu 2009
  13. ^ Phố ẩm thực đêm
  14. ^ Thành Hải Dương


Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh Hải Dương - Việt Nam
Thành phố (1): Thành phố Hải Dương
Thị xã (1): Chí Linh
Huyện (10): Bình Giang | Cẩm Giàng | Gia Lộc | Kim Thành | Kinh Môn | Nam Sách | Ninh Giang | Thanh Hà | Thanh Miện | Tứ Kỳ


Công cụ cá nhân
Không gian tên
Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác