Quảng Ninh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quảng Ninh
Tỉnh
Ha Long bay The Kissing Rocks.jpg
Hòn Gà Chọi tại vịnh Hạ Long
Biệt danh Đất Mỏ
Địa lý
Tọa độ: 21°15′04″B 107°11′37″Đ / 21,250982°B 107,193604°Đ / 21.250982; 107.193604Tọa độ: 21°15′04″B 107°11′37″Đ / 21,250982°B 107,193604°Đ / 21.250982; 107.193604
Diện tích 6.102,3 km²[1]
Dân số (2012)  
 Tổng cộng 1.177.200 người[1]
 Mật độ 193 người/km²
Dân tộc Việt, Tày, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Đông bắc
Tỉnh lỵ Thành phố Hạ Long
Thành lập 1963
 Chủ tịch UBND Nguyễn Văn Đọc
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Đức Long
 Bí thư Tỉnh ủy Phạm Minh Chính
 Trụ sở UBND Số 219 đường Nguyễn Văn Cừ, phường Hồng Hà, Tp.Hạ Long[2][3].
Phân chia hành chính 4 thành phố, 1 thị xã, 9 huyện
Mã hành chính VN-13
Mã bưu chính 20xxxx
Mã điện thoại 33
Biển số xe 14
Website Tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi, biên giới. Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là tỉnh khai thác than đá chính của Việt Nam.

Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới, tuy nhiên lại là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài trên 191 km. Mặc khác, Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành có biển, với đường bờ biển dài 250 km, trong đó có 40.000 hecta bãi triều và trên 20.000 hecta eo vịnh, có 2/12 huyện đảo của cả nước[4]. Tỉnh có 2.077 hòn đảo, và diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất tự nhiên[5].

Vị trí địa lí[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam. Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc bộ, Phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp. Toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km. Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km[6]. Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, có chiều dài bờ biển 250 km, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dươngthành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc GiangHải Dương[7].


Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vịnh Hạ Long - với gần 2000 hòn đảo

Quảng Ninh là tỉnh miền núi, trung du nằm ở vùng duyên hải, với hơn 80% đất đai là đồi núi. Trong đó, có hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các núi. Địa hình của tỉnh có thể chia thành 3 vùng[9] gồm có Vùng núi, Vùng trung du và đồng bằng ven biển, và Vùng biển và hải đảo[10]. Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m. Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng[10].

Quảng Ninh nằm vùng Khí hậu cận nhiệt đới ẩm đặc trưng cho các tỉnh miền bắc vừa có nét riêng của một tỉnh vùng núi ven biển có một mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, một mùa đông lạnh khô và ít mưa. Các quần đảo ở Cô Tô, Vân Đồn ... có đặc trưng của khí hậu đại dương[11]. Do ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa gồm có mùa hạ thì nóng ẩm với mùa mưa, còn mùa đông thì lạnh với mùa khô. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 21 – 23oC, lượng mưa trung bình hàng năm 1.995 m, độ ẩm trung bình 82 – 85%[9]. Mùa lạnh thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, trong khi đó mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng. Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10. Ngoài ra, do tác động của biển, nên khí hậu của Quảng Ninh nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi đối với phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nhiều hoạt động kinh tế khác[11].

Quảng Ninh có tất cả khoảng 30 sông, suối với chiều dài trên 10 km. Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yênsông Ba Chẽ. Tuy nhiên, hầu hết các sông suối đều ngắn, nhỏ và độ dốc lớn. Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa. Vào mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh. Lưu lượng mùa khô 1,45 m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần[12].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mũi Bạch Long (Paklung) trên bản đồ 1888

Thời Tiền sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh là vùng đất lịch sử lâu đời. Ở khu vực Vịnh Hạ Long đã khảo cổ được di chỉ của người tiền sử từ 3000 - 1500 năm TCN. Đặc trưng trong giai đoạn này là Văn hóa Hạ Long. Với nhiều di chỉ khảo cổ vỏ sò dùng làm trang sức và tiền trao đổi. Xương thú và xương người Cổ đại. Khi hình thành Nhà nước đầu tiên của người Việt. Thời Hùng Vương vùng đất Quảng Ninh nay là bộ Lục Hải. Một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang.

Thời Phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực tỉnh Quảng Ninh hiện nay thời phong kiến có tên là:

  • Thời Tự chủ và nhà Ngô là Lục Châu.
  • Thời nhà Lý là Lộ Đông Hải.
  • Thời nhà Trần là Lộ Hải Đông.
  • Thời nhà Lê là Trấn An Bang.
  • Thời nhà Nguyễn là Tỉnh Quảng Yên.

Tỉnh Quảng Ninh với bề dày lịch sử của mình là những di tích nổi tiếng như:

  1. Bãi cọc Bạch Đằng. Nay thuộc thị xã Quảng Yên, khu vực tiếp giáp với thành phố Hải Phòng.
  2. Thương cảng Vân Đồn. Với trận hải chiến chống quân Nguyên Mông của tướng Trần Khánh Dư. Nay thuộc khu vực đảo Quan Lạng và Minh Châu, huyện Vân Đồn.
  3. Khu quần thể lăng các vua Trần. Vốn đây là nơi ở của tổ tiên Vương triều Trần trước khi di cư xuống vùng Thái Bình, Thiên Trường. Nay thuộc xã An Sinh, huyện Đông Triều.
  4. Núi Yên Tử. Nơi phát tích Thiền phái Trúc Lâm. Nay có Quần thể di tích danh thắng Yên Tử thuộc 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh.

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ địa giới Bắc Kì năm 1879 bao gồm Đông Hưng và mũi Bạch Long, đến năm 1887 bị Pháp cắt cho nhà Thanh

Biên giới giáp với Trung Quốc trước năm 1887 là sông Dương Hà (còn gọi là An Nam Giang) bao gồm cả mũi Bạch Long nhưng Công ước Pháp-Thanh 1887 nhận kinh tuyến đông 105 độ 43 phút Paris làm đường phân định thì phần đất này Pháp nhường cho nhà Thanh. Phần đất bị cắt gồm hơn bảy xã thuộc tổng Bát Tràng và hai xã của tổng Kiến Duyên.[13]

Hiện nay có một số ý kiến cho rằng vùng đất Trường Bình - Bạch Long của huyện Phòng Thành Cảng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc là thuộc Việt Nam, nhất là sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập và tuyên bố hủy bỏ mọi hiệp ước về Việt Nam của thực dân Pháp với các nước khác. Như vậy vùng Bạch Long - Trường Bình đúng ra phải được trả lại về Quảng Ninh nhưng việc này đã không được thực hiện. Rất nhiều người Kinh sống ở khu vực này tuyệt nhiên trở thành người mất quê hương và trở thành 1 trong 56 dân tộc của Trung Quốc, gọi là dân tộc Việt.

Sau khi xâm chiếm Bắc Kỳ, năm 1899 thực dân Pháp lại tách một phần bắc tỉnh Quảng Yên mà lập tỉnh Hải Ninh. Thấy được tài nguyên khoáng sản than đá. Thực dân Pháp tăng cường khai thác tại các khu Hồng Quảng, Mạo Khê, Vàng Danh, Cẩm Phả, Hà Tu. Họ thành lập Công ty than Bắc Kỳ thuộc Pháp (S.F.C.T) độc quyền khai thác và tiêu thụ than đá, ra sức vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân công thuộc địa. Cùng với công nghiệp than, Quảng Ninh là một trong những nơi giai cấp công nhân Việt Nam hình thành sớm nhất.

Cuộc Tổng bãi công của hơn 30,000 Thợ Mỏ Ngày 12 tháng 11 năm 1936 đòi tăng lương giảm giờ làm giành thắng lợi vẻ vang đã trở thành một trong những sự kiện lịch sử tiêu biểu nhất của phong trào cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ và độc lập dân tộc. Sau này ngày này trở thành ngày truyền thống của Công nhân vùng mỏ, gọi là Ngày vùng mỏ bất khuất.

Sau năm 1945[sửa | sửa mã nguồn]

Cửa Ông sau giải phóng

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Việt Nam giành độc lập, bước sang giai đoạn dân chủ hiện đại. Năm 1963 với nền tảng là khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành lập tỉnh Quảng Ninh. Theo cách đặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên tỉnh là ghép tên của hai tỉnh Quảng YênHải Ninh cũ; thị xã Móng Cái chuyển thành huyện Hải Ninh. Diện tích của toàn tỉnh Quảng Ninh là 8.239,243 km².

Ngày 4 tháng 6 năm 1969, hợp nhất 2 huyện Đầm HàHải Hà thành huyện Quảng Hà.

Sau năm 1975, Cẩm Phả trở thành huyện của tỉnh Quảng Ninh[14].

Ngày 27 tháng 12 năm 1993, Chính phủ bàn hành Nghị định số 102/CP, thành phố Hạ Long được chính thức thành lập trên cơ sở của thị xã Hòn Gai[15].

Ngày 23 tháng 3 năm 1994, đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn; tách quần đảo Cô Tô để thành lập huyện Cô Tô.

Ngày 20 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 52/1998/NĐ-CP, thành lập lại thị xã Móng Cái trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Hải Ninh[16].

Ngày 29 tháng 8 năm 2001, huyện Quảng Hà được tách thành 2 huyện: Đầm HàHải Hà.[17]

Ngày 24 tháng 09 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 03/NĐ-CP thành lập thành phố Móng Cái trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Móng Cái[18].

Ngày 25 tháng 2 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12/NQ - CP, Thành lập thành phố Uông Bí trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Uông Bí[19][20].

Ngày 25 tháng 11 năm 2011, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 100/NQ-CP thành lập lại thị xã Quảng Yên trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Yên Hưng [21].

Ngày 21 tháng 2 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 04/NQ-CP thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Cẩm Phả.[22]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh có 4 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện trực thuộc, Trong đó, có 186 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 61 phường, 10 thị trấn và 115 xã,. Quảng Ninh là tỉnh có nhiều thành phố trực thuộc nhất của Việt Nam[23].

Ðơn vị hành chính cấp Huyện Thành phố
Hạ Long
Thành phố
Móng Cái
Thành phố
Uông Bí
Thành phố
Cẩm Phả
Thị xã
Quảng Yên
Huyện
Đông Triều
Huyện
Vân Đồn
Huyện
Hoành Bồ
Huyện
Đầm Hà
Huyện
Cô Tô
Huyện
Tiên Yên
Huyện
Hải Hà
Huyện
Bình Liêu
Huyện
Ba Chẽ
Diện tích (km²) 271,95 516,6 256,3 486,45 314,2 397,11 551,3 843,7 412,37 39,75 437,59 526,01 471,39 576,66
Dân số(người) 221.580[24] 80.000[24] 157.779[19] 195.800[25] 139.596[26] 156.627 40.204 46.288 33.219 4.985 44.352 52.279 27.629 18.877
Mật độ dân số (người/km²) 815 155 616 403 444 395 73 55 81 126 102 100 57 33
Số đơn vị hành chính 20 phường 8 phường và 9 xã 9 phường và 2 xã 13 phường và 3 xã 11 phường và 8 xã 2 thị trấn và 19 xã 1 thị trấn và 11 xã 1 thị trấn và 14 xã 1 thị trấn và 9 xã 1 thị trấn và 2 xã 1 thị trấn và 11 xã 1 thị trấn và 15 xã 1 thị trấn và 7 xã 1 thị trấn và 7 xã
Năm được công nhận 1993 2008 2011 2012 2011 2014 --- --- --- --- --- --- --- ---
Xếp loại đô thị 1 3 2 3 4 4 --- --- --- --- --- --- --- ---
Nguồn: Website tỉnh Quảng Ninh[27][28]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà máy xi măng Cẩm Phả

Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh có nhiều Khu kinh tế, Trung tâm thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực. Năm 2013, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 4[29] ở Việt Nam

Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là một tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản,(Về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%.) nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 2 lần được Tổ chức UNESCO tôn vinh. Với di tích văn hóa Yên Tử, bãi cọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan Lạn, Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ... thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa tâm linh. Quảng Ninh được xác định là 1 điểm của vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh. Có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc xếp cho tàu hàng vạn tấn,... tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữa nước ta với các nước trên thế giới. Quảng Ninh có hệ thống cửa khẩu phân bố trên dọc tuyến biên giới, đặc biệt cửa khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu hút các nhà đầu tư; Là cửa ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các nước trong khu vực.

Quảng Ninh xếp thứ 5 cả nước về thu ngân sách nhà nước (2012) sau thành phố Hồ Chí Minh, thủ đô Hà Nội, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Hải Phòng.[30] Tính đến hết năm 2012 GDP đầu người đạt hơn 2700 USD/năm. (Hạ Long 3821 USD/năm[31], Móng Cái 3864 USD/năm, Cẩm Phả 3814 USD/năm, Uông Bí 3352 USD/năm, Đông Triều 1959 USD/năm). Lương bình quân của lao động trong tỉnh ở các ngành chủ lực như than, điện, cảng và du lịch đều ở mức cao.(2011 Điện 8,6 Triệu đồng Than 7.7 Triệu đồng Du Lịch - Dịch vụ 9.2 Triệu Đồng)[32]

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 941.700
1996 958.000
1997 974.400
1998 991.400
1999 1.007.200
2000 1.024.200
2001 1.039.300
2002 1.054.400
2003 1.068.400
2004 1.081.800
2005 1.096.100
2006 1.109.300
2007 1.122.500
2008 1.135.100
2009 1.146.100
2010 1.154.900
2011 1.163.700
2012 1.177.200
Nguồn:[33]


Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Quảng Ninh đạt gần 1.177.200 người, mật độ dân số đạt 193 người/km²[34] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 620.200 người[35], dân số sống tại nông thôn đạt 557.000 người[36]. Dân số nam đạt 607.350 người[37], trong khi đó nữ đạt 569.850 người[38]. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 11,5 ‰[39]

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ninh có 34 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống. Trong đó, người Kinh đông nhất với 1.011.794 người, tiếp sau đó là người Dao đông thứ nhì với 59.156 người, người Tày 35.010 người, Sán Dìu có 17.946 người, người Sán Chay có 13.786 người, người Hoa có 4.375 người. Ngoài ra còn có các dân tộc ít người như người Nùng, người Mường, người Thái[40].

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ninh có 6 Tôn giáo khác nhau chiếm 23.540 người, trong đó, nhiều nhất là Công Giáo có 19.872 người, Phật giáo có 3.302 người, Đạo Tin Lành có 271 người, Đạo Cao Đài có 87 người, Hồi Giáo có 7 người, ít nhất là Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1 người[40].


Văn hóa, Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng nổi tiếng là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giớidi sản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo. Vịnh Hạ Long là địa điêm du lịch lý tưởng của Quảng Ninh cũng như miền bắc Việt Nam. Tiềm năng du lịch Quảng Ninh nổi bật với:

Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Của khẩu Móng Cái
  • Vịnh Hạ Long một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới (N7W), di sản thiên nhiên thế giới, có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo. Trong đó khu di sản thế giới được UNESCO công nhận có diện tích trên 434 km2 với 788 đảo, có giá trị đặc biệt về văn hoá, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế. Trên vịnh có nhiều đảo đất, hang động, bãi tắm, cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều điểm, nhiều hình thức du lịch hấp dẫn. Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bàkhu du lịch trọng điểm quốc gia, động lực phát triển vùng du lịch Bắc Bộ.
  • Vịnh Bái Tử Long nằm liền với vịnh Hạ Long ở phía bắc với nhiều đảo đá trải dài ven biển. Một vẻ đẹp hoang sơ cùng với các bãi tắm tại các đảo như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng...(Vân Đồn). Phục vụ các du khách thích khám phá tận hưởng vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên.
  • Hàng chục bãi tắm bãi tắm đẹp hiện đại như Trà Cổ (Móng Cái), Bãi Cháy, đảo Tuần Châu được cải tạo, nâng cấp với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đa dạng các nhu cầu của du khách.
  • Đảo Cô Tô (phía đông bắc Quảng Ninh). Các bãi tắm đẹp như Hồng Vàn, Bắc Vàn, Vàn Chảy, đảo Cô Tô Con. Được đánh giá là những bãi biển đẹp nhất tại phía bắc.

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ nước nhân tạo (hồ Yên Lập) - nơi có di tích chùa Lôi Âm

Ấm thực[sửa | sửa mã nguồn]

nhỏ|phải|200px|Chả mực giã tay Quảng Ninh nổi bật với các món chế biến từ hải sản như tôm, cua, ghẹ, tu hài, hầu, sò. Nhưng đặc biệt không thể không kể đến Chả mực giã tay của Hạ Long, cá thu một nắng. Ngoài ra còn có miến rong Bình Liêu, rượu Ba Kích, gà Tiên Yên, chè Ba Chẽ, bánh gật gù, bánh bạc đầu....

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục & Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh có 421 trường học ở cấp phổ thông trong đó Trung học phổ thông có 46 trường, Trung học cơ sở có 146 trường, Tiểu học có 177 trường, có 45 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 205 trường mẫu giáo[41]. Với hệ thống trường học như vậy, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Quảng Ninh góp phần đạt phổ cập giáo dục các cấp bậc học trong những năm tới.[41].

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Ninh có hệ thống cơ sở vật chất của ngành y tế được đầu tư đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và các du khách trong và ngoài nước[42]. Tính đến năm 2010, toàn tỉnh Quảng Ninh có 15 bệnh viện, 09 phòng khám đa khoa khu vực, 10 trung tâm y tế tuyến tỉnh, 14 trung tâm y tế tuyến huyện, 186 trạm y tế xã, phường. Trong đó, Đội ngũ bác sỹ, y sỹ rất chuyên nghiệp với 02 tiến sỹ y học, 53 thạc sỹ y học, 24 bác sỹ chuyên khoa II, 218 bác sỹ chuyên khoa I, 437 bác sỹ, 478 y sỹ, 109 kỹ thuật viên, 960 điều dưỡng viên, 225 nữ hộ sinh, 43 dược sỹ đại học, 99 dược sỹ trung học và 982 cán bộ chuyên môn khác đạt tỷ lệ 30 giường bệnh trên 10.000 dân, đạt tỷ lệ 8 bác sỹ trên 10.000 dân[42].

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống giao thông của Tỉnh Quảng Ninh rất phong phú bao gồm giao thông đường bộ, đường thuỷ nội địa, đường sắt, đường biển, và các cảng hàng không. Trong đó, hệ thông đường bộ có 5 tuyến Quốc lộ với 381 km, đường tỉnh có 12 tuyến với 301 km, 764 km đường huyện và 2.233 km đường xã, toàn tỉnh có 16 bến xe trong đó 6 bến xe liên tỉnh hỗn hợp[43]. Đối với hệ thống Đường thuỷ nội địa toàn tỉnh có 96 bến thuỷ nội địa, 5 cảng biển (9 khu bến) thuộc Danh mục cảng biển trong Quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Các cảng biển như Cảng Cái Lân, Cảng Vạn Gia, Cảng Cửa Ông, Cảng Hòn Nét và Cảng Mũi Chùa. Ngoài ra tỉnh còn có 65 km đường sắt quốc gia thuộc tuyến Kép-Hạ Long, và hệ thống đường sắt chuyên dùng ngành than[43]. Trong tương lai tại huyện đảo Vân Đồn sẽ xây dựng cảng hàng không Quảng Ninh(sân bay Vân Đồn) đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và thăm quan du lịch cho người dân và khánh du lịch tới đây.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2012 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 29 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ “Tỉnh Quảng Ninh - Cải cách hành chính”. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. 
  3. ^ “People's Committee of Quảng Ninh”. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. 
  4. ^ Nhiệm vụ QHXD vùng Tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài 2050, UBND tỉnh Quảng Ninh.
  5. ^ Biến tiềm năng thành lợi thế phát triển, Theo Báo Quảng Ninh.
  6. ^ a ă Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một hình chữ nhật lệch nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam.,Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.
  7. ^ Điều kiện địa lý tự nhiên của Quảng Ninh, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  8. ^ Các cực của Quảng Ninh, Theo trang Violet.
  9. ^ a ă Địa hình Quảng Ninh mang tính chất là một vùng miền núi, trung du và ven biển, hình thành 3 vùng tự nhiên rõ rệt, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
  10. ^ a ă Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải. Hơn 80% đất đai là đồi núi., Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.
  11. ^ a ă [http://www.quangninh.gov.vn/vi-VN/Trang/tong%20quan%20chi%20tiet.aspx?tongquanid=91 Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh.
  12. ^ Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ, Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.
  13. ^ "Tấm bản đồ chín gạch (chữ U) của Trung Quốc" Báo Người Việt Boston
  14. ^ Quyết định số 63/HĐBT ngày 10/9/1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc phân vạch địa giới một số xã, phường và thị trấn thuộc tỉnh Quảng Ninh.
  15. ^ Nghị định về việc thành lập thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, Nghị định Chính Phủ.
  16. ^ Nghị định 52/1998/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh, Chính phủ Việt Nam.
  17. ^ Nghị định 59/2001/NĐ-CP về việc chia huyện Quảng Hà, tỉnh Quảng Ninh thành hai huyện Hải Hà và huyện Đầm Hà
  18. ^ Nghị định 03/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh
  19. ^ a ă Thành lập thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
  20. ^ Nghị quyết số 89/2011/NQ-CP ngày 24/8/2011 về việc thành lập các phường: Phương Đông, Phương Nam thuộc thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
  21. ^ Nghị quyết số 100/NQ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thị xã Quảng Yên và thành lập các phường thuộc thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
  22. ^ Nghị quyết số 04/NQ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh
  23. ^ Đơn vị hành chính, Đất đai và Khí hậu, Niên giám thống kê 2011, Tổng cục thống kê
  24. ^ a ă Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 05 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ về việc thành lập các phường thuộc thành phố Hạ Long và thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
  25. ^ Nghị quyết số 04/NQ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thành phố Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  26. ^ Nghị quyết số 100/NQ-CP của Chính phủ: Về việc thành lập thị xã Quảng Yên và thành lập các phường thuộc thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  27. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  28. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng Cục Thống kê Việt Nam
  29. ^ bảng xếp hạng., chỉ số cạnh tranh năng lực cấp tỉnh.
  30. ^ [1]
  31. ^ Công nhận thành phố Hạ Long đô thị loại I Báo Hà Nội Mới
  32. ^ [2]
  33. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  34. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  35. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  36. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  37. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  38. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  39. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  40. ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
  41. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  42. ^ a ă Quảng Ninh có hệ thống cơ sở vật chất của ngành y tế được đầu tư đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân và các du khách trong và ngoài nước., Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.
  43. ^ a ă Hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]



Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp huyện thị trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam
Thành phố (4): Hạ Long | Móng Cái | Uông Bí | Cẩm Phả
Thị xã (1): Quảng Yên
Huyện (9): Ba Chẽ | Bình Liêu | Cô Tô | Đầm Hà | Đông Triều | Hải Hà | Hoành Bồ | Tiên Yên | Vân Đồn