An Giang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cờ của Việt Nam Tỉnh An Giang
Hành chính, chính trị
Bí thư tỉnh ủy Phan Văn Sáu
Chủ tịch HĐND Phan Văn Sáu
Chủ tịch UBND Vương Bình Thạnh
Địa lý
Tỉnh lỵ Thành phố Long Xuyên
Miền Đồng bằng sông Cửu Long
Diện tích 3.406,2 km²
Các thị xã / huyện 1 thành phố,2 thị xã và 8 huyện
Nhân khẩu
Số dân
 • Mật độ
 • Nông thôn
 • Thành thị
2.144.772[1] người
630 người/km²
72%
28%
Dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm
Thông tin khác
Mã bưu chính 94
ISO 3166-2 VN-44

An Giang là tỉnh có dân số đông nhất đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam. Một phần của An Giang nằm trong tứ giác Long Xuyên.


Mục lục

[sửa] Địa lý

[sửa] Vị trí

Tỉnh có phía tây bắc giáp Campuchia (104 km), phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang (69,789 km), phía nam giáp thành phố Cần Thơ (44,734 km), phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107,628 km), cách thành phố Hồ Chí Minh 231 km .

[sửa] Diện tích

Tỉnh An Giang có tổng diện tích tự nhiên 3536.6685 km2, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 280.658 ha, đất lâm nghiệp 14.724 ha.[2]

[sửa] Dân cư

Tỉnh An Giang có tổng dân số 2.150.282 người, 455.901 hộ (theo số liệu điều tra cuối năm 2007).[2] Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh [2]

  • Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; trong đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn. Hầu hết đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia. Nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào Khmer từ trồng trọt, chăn nuôi gia đình và làm thuê mướn theo thời vụ.
  • Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung khá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Phú Tân, Châu Phú và Châu Thành. Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi, có mối quan hệ với tín đồ Hồi giáo các nước Ả Rập, Malaysia, Indonesia, Campuchia. Nguồn thu nhập chính bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống.
  • Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh. Đại bộ phận sống ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới. Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian. Một bộ phận lớn kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác.


[sửa] Lịch sử

[sửa] An Giang thời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn

Tỉnh An Giang nhà Nguyễn (giai đoạn 1844-1867) so với tỉnh An Giang năm 2011.
Tỉnh An Giang, ở Nam Kỳ, giai đoạn (1844-1867).
Bài chi tiết: Biên niên sử An Giang

Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì, đất An Giang xưa là đất Tầm Phong Long nước Chân Lạp (vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu). Đến năm 1757 (Đinh Sửu), quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn dâng đất này cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn đặt tên thành đạo Châu Đốc. Từ thời thuộc Chân Lạp cho đến tận đầu nhà Nguyễn, đât An Giang còn hoang hóa, rất ít dân cư. Những năm đầu thời vua Gia Long, nhà Nguyễn mới tổ chức mộ dân đến khai hoang định cư, và gọi là Châu Đốc Tân Cương. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Minh Mạng cho lấy đất Châu Đốc Tân Cương hợp thêm với huyện Vĩnh An tỉnh Vĩnh Long để thành tỉnh An Giang, đồng thời chia thành 2 phủ (với 4 huyện): phủ Tuy Biên (gồm 2 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú), phủ Tân Thành (gồm 2 huyện: Đông Xuyên và Vĩnh An). Cùng lúc, đặt ra chức An-Hà tổng đốc thống lĩnh cả hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, lỵ sở đặt tại tỉnh thành Châu Đốc của tỉnh An Giang.

Tháng 4 âm năm 1824, Nặc Ông Chân (Ang Chan II), hiến tặng nhà Nguyễn thông qua Nguyễn Văn Thoại (để trả ơn Thoại), 3 vùng Chân Sum (còn gọi là Chân Thành hay Chân Chiêm, nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Mật Luật (Ngọc Luật, cũng nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Lợi Kha Bát (Prey Kabbas tỉnh Takeo). Nhà Nguyễn chỉ lấy 2 đất Chân Sum và Mật Luật (Mật Luật sau thành đất huyện Tây Xuyên). Chân Sum sau được phân vào hai huyện Hà Âm và Hà Dương từng thuộc phủ Tĩnh Biên tỉnh Hà Tiên, trước khi chia về cho tỉnh An Giang.

Năm 1833, tỉnh An Giang bị quân Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm đóng, nhà Nguyễn phải điều binh đánh dẹp, cuối cùng án sát An Giang là Bùi Văn Lý lấy lại được tỉnh thành (Châu Đốc) từ tay quân của Khôi. Năm 1833-1834, quân đội nước Xiêm La, theo cầu viện của Khôi, tiến vào An Giang theo đường sông Cửu Long đánh nhà Nguyễn, bị quân nhà Nguyễn do Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân đánh bại trên sông Vàm Nao.

Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà Nguyễn lấy thêm đất Ba Thắc (Bassac, thuộc Cao Miên) sáp nhập vào An Giang và lập thành phủ Ba Xuyên. Đất Ba Thắc cũ chia thành 2 huyện Phong Nhiêu và Phong Thịnh. Đồng thời nhập thêm huyện Vĩnh Định của tỉnh Vĩnh Long vào phủ Ba Xuyên, khiến phủ Ba Xuyên có 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thịnh và Vĩnh Định.

Năm Minh Mạng 20 (1839), nhà Nguyễn đặt thêm huyện An Xuyên (tách từ phần đất huyện Vĩnh An ra) lệ thuộc vào phủ Tân Thành. Cùng năm này, nhà Nguyễn còn cắt đất huyện Chân Thành phủ Chân Chiêm thuộc Trấn Tây Thành (xứ Cao Miên do nhà Nguyễn bảo hộ) hợp với phần đất cắt từ huyện Tây Xuyên để lập hai huyện Hà Dương và Hà Âm của tỉnh Hà Tiên (sau chuyển sang tỉnh An Giang), nhập thêm thổ huyện Ô Môn (tên gọi cũ của vùng đất thuộc Cao Miên (Trấn Tây Thành) có nhiều người Khmer sinh sống) vào thành huyện Phong Phú, thổ huyện Mật Luật (Ngọc Luật) của Trấn Tây Thành vào huyện Tây Xuyên.

Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), Thiệu Trị trích phủ Tĩnh Biên cùng huyện Hà Dương của tỉnh Hà Tiên, sáp nhập vào An Giang. Năm 1844, trích thêm huyện Hà Âm của tỉnh Hà Tiên nhập vào phủ Tĩnh Biên, lúc này phủ Tĩnh Biên gồm các huyện Hà Âm, Hà Dương. Năm Tự Đức thứ 3 (1850), nhà Nguyễn bỏ phủ Tĩnh Biên, cho nhập 2 huyện Hà Âm và Hà Dương vào phủ Tuy Biên. Vào thời vua Tự Đức tỉnh An Giang gồm có 3 phủ với 10 huyện: Hà Âm, Hà Dương, Phong Phú, Tây Xuyên, Đông Xuyên, Vĩnh An, An Xuyên, Phong Nhiêu, Phong Thịnh, Vĩnh Định.[3]

Phủ Tuy Biên:

  • Huyện Hà Âm, trước là đất huyện Châu Thành nước Cao Miên, gồm 2 tổng với 40 làng xã, phía Tây giáp huyện Hà Châu tỉnh Hà Tiên, phía Nam giáp huyện Hà Dương, phía Đông giáp huyện Tây Xuyên, phía Bắc giáp nước Cao Miên. Đất huyện Hà Âm vào thời này thuộc các huyện Tịnh Biên và (phần phía Bắc) Tri Tôn của tỉnh An Giang. Ngoài ra, có thể có thêm phần đất thuộc các huyện giáp biên giới của tỉnh Takeo Campuchia như: Kiri Vong, Kaoh Andaet, Bourei Cholsar.
  • Huyện Hà Dương, nguyên là đất huyện Chân Thành nước Cao Miên, gồm 4 tổng với 40 làng xã, phía Tây giáp huyện Hà Châu tỉnh Hà Tiên, phía Nam giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía Đông giáp huyện Tây Xuyên, phía Bắc giáp huyện Hà Âm. Đất huyện Hà Dương vào thời này thuộc các huyện Châu Thành, Thoại Sơn và (phần phía Nam) Tri Tôn của tỉnh An Giang.
  • Huyện Phong Phú từng là đất huyện Vĩnh Định và đất thổ huyện Ô Môn (của Cao Miên), gồm 3 tổng với 31 làng xã, phía Tây giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía Nam giáp huyện Vĩnh Định (phủ Ba Xuyên), phía Bắc giáp 2 huyên Tây Xuyên và An Xuyên (phủ Tân Thành). Đất huyện Phong Phú nay có thể là đất thuộc các quận huyện Thốt Nốt, Ô Môn,... của thành phố Cần Thơ. Đại Nam nhất thống chí chép: "Sông Cần Thơ ở bờ Tây sông Hậu Giang, cách huyện Phong Phú 3 dặm về phía Đông,..., bờ phía Tây là thủ sở đạo Trấn Giang cũ,..."[4]
  • Huyện Tây Xuyên nguyên là đất đạo Châu Đốc cùng huyện Vĩnh Định và thổ huyện Mật Luật (của Cao Miên), nằm ở bờ Tây sông Hậu Giang, gồm 3 tổng với 38 làng xã, phía Tây giáp huyện Hà Dương, phía Nam giáp huyện Long Xuyên tỉnh Hà Tiên, phía Đông và phía Bắc giáp huyện Đông Xuyên (phủ Tân Thành). Đất huyện Tây Xuyên nay có thể là đất thuộc các huyện thị Châu Đốc, Châu Phú, Châu Thành, thành phố Long Xuyên,... của tỉnh An Giang.

Phủ Tân Thành:

  • Huyện Đông Xuyên nguyên là đất huyện Vĩnh Định (gồm đạo Tân Châu) nằm ở phía Đông sông Hậu Giang (giữa sông Tiền và sông Hậu), gồm 4 tổng với 33 làng xã, phía Tây và phía Nam giáp huyện Tây Xuyên, phía Đông giáp các huyện Kiến Đăng, (Kiến Phong) tỉnh Định Tường, phía Bắc giáp nước Cao Miên. Đất huyện Đông Xuyên nay có thể là thuôc đất các huyện thị Tân Châu, An Phú, Phú Tân,... của tỉnh An Giang.
  • Huyện Vĩnh An gồm 4 tổng với 36 làng xã, phía Tây giáp huyện Phong Phú, phía Nam và phía Đông giáp huyện An Xuyên, phía Bắc giáp huyện Kiến Phong tỉnh Định Tường. Đất huyện Vĩnh An có thể nay là đất thuộc huyện Chợ Mới và một số huyện phía Nam tỉnh Đồng Tháp (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) là: Lấp Vò, Lai Vung, thị xã Sa Đéc (đạo Đông Khẩu). Theo Đại Nam nhất thống chí thì đạo Đông Khẩu ở bờ Nam sông Sa Đéc thuộc địa phận huyện Vĩnh An.[5]
  • Huyện An Xuyên gồm 3 tổng với 25 làng xã, phía Tây giáp huyện Phong Phú, phía Nam giáp huyện Vĩnh Định, phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Bắc giáp tỉnh Định Tường. Đất huyện An Xuyên có thể nay thuộc các huyện thị phía Nam tỉnh Đồng Tháp (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) là: Lấp Vò, Lai Vung,Châu Thành,... và có thể là cả đất huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long ngày nay.

Phủ Ba Xuyên:

  • Huyện Vĩnh Định nguyên trước là huyện Vĩnh Định tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn sau cắt sang An Giang, gồm 4 tổng với 19 làng xã, phía Tây giáp huyện Phong Nhiêu, phía Nam giáp huyện Phong Thịnh, phía Đông và phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn. Đất huyện Vĩnh Định nay có thể là vùng đất giáp bờ sông Hậu Giang thuộc các tỉnh Hậu Giang (chủ yếu), Sóc Trăng (một phần).
  • Huyện Phong Nhiêu, gồm 3 tổng với 17 làng xã, phía Tây giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía Nam giáp biển Đông, phía Đông và phía Bắc giáp huyện Vĩnh Định. Nay đất huyện Phong Nhiêu có thể thuộc phần phía Tây 2 tỉnh Hậu GiangSóc Trăng, cùng phần phía Đông hay toàn bộ tỉnh Bạc Liêu.
  • Huyện Phong Thịnh, đến năm Tự Đức thứ 3 (1850) bị nhập vào cùng huyện Vĩnh Định với sự kiêm quản của phủ lỵ nên bị xóa tên. Toàn bộ đất huyện Phong Thịnh có thể là nằm trọn vẹn trong địa bàn tỉnh Sóc Trăng ngày nay.

Các tổng đốc An Giang-Hà Tiên của nhà Nguyễn:

Các Tuần phủ (tỉnh trưởng) An Giang nhà Nguyễn

  • Lê Đại Cương nhiệm kỳ 1832-1836
  • Dương Văn Phong nhiệm kỳ 1838-1840
  • Nguyễn Tri Phương 1841
  • Nguyễn Công Trứ nhiệm kỳ 1842-1844
  • Doãn Uẩn nhiệm kỳ 1844-1847
  • Cao Hữu Dực 1847-1850
  • Phan Khắc Thận 1859-1861
  • Lê Đức

[sửa] Đất An Giang thời Pháp thuộc

Thời Pháp thuộc (1867-1945) tỉnh An Giang của nhà Nguyễn được chia thành các tỉnh là: tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên (gồm đất phủ Tịnh Biên và phủ Tuy Biên cũ), tỉnh Cần Thơ, Sa Đéc (gồm đất phủ Tân Thành cũ), tỉnh Sóc Trăng (gồm đất phủ Ba Xuyên cũ). Cuối thế kỷ 19, thời Pháp thuộc, đất tỉnh An Giang ngày nay (thuộc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là phần đất thuộc 2 tỉnh Châu Đốctỉnh Long Xuyên.

[sửa] Tỉnh An Giang - Việt Nam

[sửa] An Giang sau năm 1975

[sửa] Các đơn vị hành chính

Biểu trưng tỉnh An Giang

Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 01 thành phố tỉnh lị (Long Xuyên), 02 thị xã (Châu Đốc, Tân Châu) và 08 huyện:

Tỉnh An Giang có 156 xã, phường và thị trấn

[sửa] Biển số xe

  • Thành phố Long Xuyên 67-B1 XXX.XX
  • Huyện Châu Phú 67-C1 XXX.XX
  • Huyện Châu Thành 67-D1 XXX.XX
  • Thị xã Châu Đốc 67-E1 XXX.XX
  • Huyện Tịnh Biên 67-F1 XXX.XX
  • Huyện An Phú 67-G1 XXX.XX
  • Thị xã Tân Châu 67-H1 XXX.XX
  • Huyện Phú Tân 67-K1 XXX.XX
  • Huyện Chợ Mới 67-L1 XXX.XX
  • Huyện Thoại Sơn 67-M1 XXX.XX
  • Huyện Tri Tôn 67-N1 XXX.XX

[sửa] Giáo dục

An Giang có Trường Cao đẳng nghề An GiangTrường Đại học An Giang. Hệ thống các trường phổ thông, trung học, tiểu học, mầm non tương đối hoàn chỉnh.


[sửa] Danh nhân

[sửa] Chính trị

[sửa] Văn học - Nghệ thuật

[sửa] Giáo dục

[sửa] Tôn giáo

[sửa] Quân sự

[sửa] Danh lam thắng cảnh - Du lịch

Từ trên đỉnh núi Cấm nhìn xuống khu vực hồ Thủy Liêm
Rừng tràm Trà Sư, Tịnh Biên

An Giang có một số thắng cảnh tiêu biểu như:

[sửa] Hình ảnh An Giang

[sửa] Xem thêm

[sửa] Chú giải

  1. ^ Điều tra dân số ngày 01/04/2009
  2. ^ a b c “Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh An Giang đến năm 2010 ban hành Quyết định số 1987/QĐ-UBND ngày 03 tháng 9 năm 2009 của UBND tỉnh An Giang”. www.chinhphu.vn.
  3. ^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, tỉnh An Giang, trang 151-191.
  4. ^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, trang 173.
  5. ^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, trang 178.
  6. ^ Đại Nam thực lục, tập 5, trang 299.
  7. ^ Đại Nam thực lục, tập 5, trang 785.
  8. ^ Đại Nam thực lục, chính biên, đệ tam kỷ, quyển 50, trang 765.
  9. ^ Đại Nam thực lục, chính biên, đệ tam kỷ, quyển 66, trang 992.
  10. ^ Đại Nam thực lục, Chính biên, đệ tứ kỷ, quyển 21, tập 7, trang 625.
  11. ^ Đại Nam thực lục, Chính biên, đệ tứ kỷ, quyển 24, tập 7, trang 708-720.
  12. ^ Kỷ lục Việt nam

[sửa] Liên kết ngoài


Biểu đồ gió Campuchia Đồng Tháp Đồng Tháp Biểu đồ gió
B
T    An Giang    Đ
N
Kiên Giang Kiên Giang Cần Thơ
Enclave: {{{enclave}}}
Công cụ cá nhân
Không gian tên
Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác