An Giang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
An Giang
Tỉnh
Logo An Giang.png
Biểu trưng
Đền thờ CT Tôn Đức Thắng.jpg
Đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở xã Mỹ Hòa Hưng
Địa lý
Tọa độ: 10°22′52″B 105°25′12″Đ / 10,381116°B 105,419884°Đ / 10.381116; 105.419884Tọa độ: 10°22′52″B 105°25′12″Đ / 10,381116°B 105,419884°Đ / 10.381116; 105.419884
Diện tích 3.536,7 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 2.151.000 người[1]
 Mật độ 608 người/km²[1]
Dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh lỵ Thành phố Long Xuyên
 Chủ tịch UBND Vương Bình Thạnh
 Chủ tịch HĐND Phan Văn Sáu
 Bí thư Tỉnh ủy Phan Văn Sáu
Phân chia hành chính 2 thành phố
1 thị xã, 8 huyện
Mã hành chính VN-44
Mã bưu chính 88xxxx
Mã điện thoại 76
Biển số xe 67
Website http://www.angiang.gov.vn/
Tượng đài Bông lúa ở trước trụ sở UBND tỉnh An Giang

An Giang là tỉnh có dân số đông nhất và diện tích đứng thứ 4 (sau tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mautỉnh Long An) ở đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam. Một phần của An Giang nằm trong tứ giác Long Xuyên. Tháng 7/2013, An Giang là tỉnh đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Long Xuyên và Châu Đốc).

Thành phố Long Xuyên nằm bên bờ sông Hậu, có truyền thống văn hóa đặc trưng của một thành phố miền Tây với chợ nổi trên sông và nhiều di tích thắng cảnh khác. Thành phố Châu Đốc là thành phố biên giới, nổi tiếng với cụm di tích và thắng cảnh ở núi Sam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

An Giang thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 3536.7 km², phía đôngphía bắc giáp tỉnh Đồng Tháp gần 107,628 km² đứng thứ 4 trong khu vực đồng bằng sông cửu long về diện tích sau tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mautỉnh Long An, phía tây Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 100 km², phía namTây Nam giáp tỉnh Kiên Giang đường biên giới khoảng 69,789 phía đông nam giáp thành phố Cần Thơ chiều dài đường biên giới gần 44,734 km²[2].

Với vị trí đó An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt gồm mùa mưamùa khô. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27oC, lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm. Độ ẩm trung bình 75 – 80%, khí hậu cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp[2].

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh là 2.151.000 người, mật độ dân số 608 người/km².[3] Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh [3]

  • Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; trong đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn. Hầu hết đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia. Nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào Khmer từ trồng trọt, chăn nuôi gia đình và làm thuê mướn theo thời vụ.
  • Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung khá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Phú Tân, Châu Phú và Châu Thành. Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi, có mối quan hệ với tín đồ Hồi giáo các nước Ả Rập, Malaysia, Indonesia, Campuchia. Nguồn thu nhập chính bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống.
  • Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh. Đại bộ phận sống ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới. Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian. Một bộ phận lớn kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh An Giang thời phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

So sánh địa danh An Giang thời nhà Nguyễn độc lập trên vùng đất tỉnh An Giang ngày nay.
Phủ Tuy Biên (Tĩnh Biên) tỉnh An Giang nhà Nguyễn vào năm 1861.
An Giang trong bản đồ Nam Kỳ Lục tỉnh (Basse Cochinchine).
Tỉnh An Giang nhà Nguyễn (giai đoạn 1844-1867) so với tỉnh An Giang năm 2011.
Tỉnh An Giang, ở Nam Kỳ, giai đoạn (1844-1867).
Bài chi tiết: Biên niên sử An Giang

Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì, đất An Giang xưa là đất Tầm Phong Long nước Chân Lạp (vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu). Đến năm 1757 (Đinh Sửu), quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn dâng đất này cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn đặt tên thành đạo Châu Đốc. Từ thời thuộc Chân Lạp cho đến tận đầu nhà Nguyễn, đât An Giang còn hoang hóa, rất ít dân cư. Những năm đầu thời vua Gia Long, nhà Nguyễn mới tổ chức mộ dân đến khai hoang định cư, và gọi là Châu Đốc Tân Cương thuộc trấn Vĩnh Thanh (1 trong 5 trấn của thành Gia Định). Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Minh Mạng cho lấy đất Châu Đốc Tân Cương hợp thêm với huyện Vĩnh An tỉnh Vĩnh Long (tức Vĩnh Trấn) để thành tỉnh An Giang (chữ Hán: 安江), đồng thời chia thành 2 phủ (với 4 huyện): phủ Tuy Biên (gồm 2 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú), phủ Tân Thành (gồm 2 huyện: Đông Xuyên và Vĩnh An). Cùng lúc, đặt ra chức An-Hà tổng đốc thống lĩnh cả hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, lỵ sở đặt tại tỉnh thành Châu Đốc của tỉnh An Giang.

Tháng 4 âm năm 1824, Nặc Ông Chân (Ang Chan II), hiến tặng nhà Nguyễn thông qua Nguyễn Văn Thoại (để trả ơn Thoại), 3 vùng Chân Sum (còn gọi là Chân Thành hay Chân Chiêm, nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Mật Luật (Ngọc Luật, cũng nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Lợi Kha Bát (Prey Kabbas tỉnh Takeo). Nhà Nguyễn chỉ lấy 2 đất Chân Sum và Mật Luật (Mật Luật sau thành đất huyện Tây Xuyên). Chân Sum sau được phân vào hai huyện Hà Âm và Hà Dương từng thuộc phủ Tĩnh Biên tỉnh Hà Tiên, trước khi chia về cho tỉnh An Giang.

Năm 1833, tỉnh An Giang bị quân Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm đóng, nhà Nguyễn phải điều binh đánh dẹp, cuối cùng án sát An Giang là Bùi Văn Lý lấy lại được tỉnh thành (Châu Đốc) từ tay quân của Khôi. Năm 1833-1834, quân đội nước Xiêm La, theo cầu viện của Khôi, tiến vào An Giang theo đường sông Cửu Long đánh nhà Nguyễn, bị quân nhà Nguyễn do Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân đánh bại trên sông Vàm Nao.

Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà Nguyễn lấy thêm đất Ba Thắc (Bassac, thuộc Cao Miên) sáp nhập vào An Giang và lập thành phủ Ba Xuyên. Đất Ba Thắc cũ chia thành 2 huyện Phong Nhiêu và Phong Thịnh. Đồng thời nhập thêm huyện Vĩnh Định của tỉnh Vĩnh Long vào phủ Ba Xuyên, khiến phủ Ba Xuyên có 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thịnh và Vĩnh Định.

Năm Minh Mạng 20 (1839), nhà Nguyễn đặt thêm huyện An Xuyên (tách từ phần đất huyện Vĩnh An ra) lệ thuộc vào phủ Tân Thành. Cùng năm này, nhà Nguyễn còn cắt đất huyện Chân Thành phủ Chân Chiêm thuộc Trấn Tây Thành (xứ Cao Miên do nhà Nguyễn bảo hộ) hợp với phần đất cắt từ huyện Tây Xuyên để lập hai huyện Hà Dương (ở bờ Nam sông Vĩnh Tế) và Hà Âm (ở bờ Bắc sông Vĩnh Tế) của tỉnh Hà Tiên (sau chuyển sang tỉnh An Giang), nhập thêm thổ huyện Ô Môn (tên gọi cũ của vùng đất thuộc Cao Miên (Trấn Tây Thành) có nhiều người Khmer sinh sống) vào thành huyện Phong Phú, thổ huyện Mật Luật (Ngọc Luật) của Trấn Tây Thành vào huyện Tây Xuyên.

Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), Thiệu Trị trích phủ Tĩnh Biên cùng huyện Hà Dương của tỉnh Hà Tiên, sáp nhập vào An Giang. Năm 1844, trích thêm huyện Hà Âm của tỉnh Hà Tiên nhập vào phủ Tĩnh Biên, lúc này phủ Tĩnh Biên gồm các huyện Hà Âm, Hà Dương. Năm Tự Đức thứ 3 (1850), nhà Nguyễn bỏ phủ Tĩnh Biên, cho nhập 2 huyện Hà Âm và Hà Dương vào phủ Tuy Biên. Vào thời vua Tự Đức tỉnh An Giang gồm có 3 phủ với 10 huyện: Hà Âm, Hà Dương, Phong Phú, Tây Xuyên, Đông Xuyên, Vĩnh An, An Xuyên, Phong Nhiêu, Phong Thịnh, Vĩnh Định.[4]

Phủ Tuy Biên (绥边):

  • Huyện Hà Âm, trước là đất huyện Châu Thành nước Cao Miên, gồm 2 tổng với 40 làng xã, phía tây giáp huyện Hà Châu tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp huyện Hà Dương, phía đông giáp huyện Tây Xuyên, phía bắc giáp nước Cao Miên. Theo Đại Nam nhất thống chí: huyện Hà Âm nằm bên trái (tả, tức bờ phía tây bắc) sông Vĩnh Tế[5][6]. Như vậy, vào thời này, vùng đất huyện Hà Âm thuộc phần đất giáp biên giới của Campuchia với Việt Nam, tức là phần đất huyện Kiri Vong, và có thể cả phần đất các huyện Kaoh Andaet, Bourei Cholsar thuộc tỉnh Takeo Campuchia.
  • Huyện Hà Dương (河陽), nguyên là đất huyện Chân Thành nước Cao Miên, gồm 4 tổng với 40 làng xã, phía tây giáp huyện Hà Châu tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía đông giáp huyện Tây Xuyên, phía bắc giáp huyện Hà Âm. Đất huyện Hà Dương vào thời nay thuộc các huyện Châu Thành, Thoại SơnTri Tôn của tỉnh An Giang.
  • Huyện Phong Phú (豐富) từng là đất huyện Vĩnh Định và đất thổ huyện Ô Môn (của Cao Miên), gồm 3 tổng với 31 làng xã, phía tây giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp huyện Vĩnh Định (phủ Ba Xuyên), phía bắc giáp 2 huyên Tây Xuyên và An Xuyên (phủ Tân Thành). Đất huyện Phong Phú nay có thể là đất thuộc các quận huyện Thốt Nốt, Ô Môn,... của thành phố Cần Thơ. Đại Nam nhất thống chí chép: "Sông Cần Thơ ở bờ Tây sông Hậu Giang, cách huyện Phong Phú 3 dặm về phía đông,..., bờ phía tây là thủ sở đạo Trấn Giang cũ,..."[7]
  • Huyện Tây Xuyên (西川) nguyên là đất đạo Châu Đốc cùng huyện Vĩnh Định và thổ huyện Mật Luật (của Cao Miên), nằm ở bờ Tây sông Hậu Giang, gồm 3 tổng (Châu Phú, Định Thành, Định Phước[8]) với 38 làng xã, phía tây giáp huyện Hà Dương, phía nam giáp huyện Long Xuyên tỉnh Hà Tiên, phía đông và phía bắc giáp huyện Đông Xuyên (phủ Tân Thành). Đất huyện Tây Xuyên nay có thể là đất thuộc các huyện thị Châu Đốc, Châu Phú, Châu Thành, thành phố Long Xuyên,... của tỉnh An Giang.
Bản đồ 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên của nhà Nguyễn thời kỳ độc lập.

Phủ Tân Thành (新成):

  • Huyện Đông Xuyên nguyên là đất huyện Vĩnh Định (gồm đạo Tân Châu) nằm ở phía đông sông Hậu Giang (giữa sông Tiền và sông Hậu), gồm 4 tổng với 33 làng xã, phía tây và phía nam giáp huyện Tây Xuyên, phía đông giáp các huyện Kiến Đăng, (Kiến Phong) tỉnh Định Tường, phía bắc giáp nước Cao Miên. Đất huyện Đông Xuyên nay có thể là thuôc đất các huyện thị Tân Châu, An Phú, Phú Tân,... của tỉnh An Giang.
  • Huyện Vĩnh An (永安) gồm 4 tổng với 36 làng xã, phía tây giáp huyện Phong Phú, phía nam và phía đông giáp huyện An Xuyên, phía bắc giáp huyện Kiến Phong tỉnh Định Tường. Đất huyện Vĩnh An có thể nay là đất thuộc huyện Chợ Mới và một số huyện phía nam tỉnh Đồng Tháp (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) là: Lấp Vò, Lai Vung, thị xã Sa Đéc (đạo Đông Khẩu). Theo Đại Nam nhất thống chí thì đạo Đông Khẩu ở bờ Nam sông Sa Đéc thuộc địa phận huyện Vĩnh An.[9]
  • Huyện An Xuyên (安川) gồm 3 tổng với 25 làng xã, phía tây giáp huyện Phong Phú, phía nam giáp huyện Vĩnh Định, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Long, phía bắc giáp tỉnh Định Tường. Đất huyện An Xuyên có thể nay thuộc các huyện thị phía nam tỉnh Đồng Tháp (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) là: Lấp Vò, Lai Vung,Châu Thành,... và có thể là cả đất huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long ngày nay.

Phủ Ba Xuyên (巴川):

  • Huyện Vĩnh Định (永定) nguyên trước là huyện Vĩnh Định tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn sau cắt sang An Giang, gồm 4 tổng (Định Thới, Định An, Định Khánh[8], và Trấn Giang (tức Cần Thơ)) với 19 làng xã, phía tây giáp huyện Phong Nhiêu, phía nam giáp huyện Phong Thịnh, phía đông và phía bắc giáp tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn. Đất huyện Vĩnh Định nay có thể là vùng đất giáp bờ sông Hậu Giang thuộc các tỉnh Hậu Giang (chủ yếu), Sóc Trăng (một phần).
  • Huyện Phong Nhiêu (豐饒), gồm 3 tổng với 17 làng xã, phía tây giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp biển Đông, phía đông và phía bắc giáp huyện Vĩnh Định. Nay đất huyện Phong Nhiêu có thể thuộc phần phía tây 2 tỉnh Hậu GiangSóc Trăng, cùng phần phía đông hay toàn bộ tỉnh Bạc Liêu.
  • Huyện Phong Thịnh (豐盛), đến năm Tự Đức thứ 3 (1850) bị nhập vào cùng huyện Vĩnh Định với sự kiêm quản của phủ lỵ nên bị xóa tên. Toàn bộ đất huyện Phong Thịnh có thể là nằm trọn vẹn trong địa bàn tỉnh Sóc Trăng ngày nay.

Các tổng đốc An Giang-Hà Tiên của nhà Nguyễn:

Các Tuần phủ (tỉnh trưởng) An Giang nhà Nguyễn

  • Doãn Uẩn nhiệm kỳ 1844-1847
  • Cao Hữu Dực 1847-1850
  • Phan Khắc Thận 1859-1861
  • Lê Đức

Tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

An Giang thời Pháp thuộc bị chia nhỏ (vào nhiều tỉnh với phần lớn vào 5 tỉnh: Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Cần Thơ và Sóc Trăng, một phần cắt cho Campuchia) và biến mất trên bản đồ hành chính Nam Kỳ thuộc Pháp năm 1878.
Nam Kỳ thuộc Pháp (Basse Cochinchine Francaise) khoảng năm 1881, nhưng vẽ theo hành chính của Nam Kỳ Lục tỉnh nhà Nguyễn (Basse CochinChine) trước năm 1861. Vùng bờ bắc kênh Vĩnh Tế (thuộc các tỉnh An Giang và Hà Tiên cũ) và vùng lồi Svay Rieng (trước là vùng rừng Quang Hóa phủ Tây Ninh tỉnh Gia Định, mà Pháp chưa chiếm được vào thời điểm năm 1861-1863) đều được cắt trả về cho lãnh thổ vương quốc Campuchia thuộc Pháp.
Bản đồ tỉnh Châu Đốc của Nam Kỳ thuộc Pháp năm 1890.
Bản đồ tỉnh Long Xuyên của Nam Kỳ thuộc Pháp năm 1901.

Thời Pháp thuộc (1867-1945) tỉnh An Giang của nhà Nguyễn được chia thành các tỉnh là: tỉnh Châu Đốc, tỉnh Long Xuyên (gồm đất phủ Tịnh Biên và phủ Tuy Biên cũ), tỉnh Cần Thơ, tỉnh Sa Đéc (gồm đất phủ Tân Thành cũ), tỉnh Sóc Trăng (gồm đất phủ Ba Xuyên cũ). Cuối thế kỷ 19, thời Pháp thuộc, đất tỉnh An Giang ngày nay (thuộc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là phần đất thuộc tỉnh Châu Đốctỉnh Long Xuyên.

Tỉnh Châu Đốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Châu Đốc ban đầu gồm 5 quận: Châu Thành, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự. Tỉnh lỵ Châu Đốc đặt tại làng Châu Phú, tổng Châu Phú, quận Châu Thành. Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Hà Tiên bị giải thể, trở thành một quận thuộc tỉnh Châu Đốc. Sau đó, lại tách ra trở thành tỉnh Hà Tiên độc lập như trước. Quận Châu Thành thuộc tỉnh Châu Đốc được thành lập năm 1917, đến năm 1919 thì đổi tên là quận Châu Phú. Tuy nhiên năm 1939 lại đổi về tên quận Châu Thành như cũ.

Tỉnh Long Xuyên[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Long Xuyên ban đầu gồm 3 quận: Châu Thành, Chợ Mới, Thốt Nốt. Tỉnh lỵ Long Xuyên đặt tại làng Mỹ Phước, tổng Định Phước, quận Châu Thành. Sau năm 1945, tách đất quận Thốt Nốt để lập thêm quận Lấp Vò và giao quận này về cho tỉnh Sa Đéc quản lý. Đến năm 1953, lại lập thêm quận Núi Sập, trên cơ sở tách đất từ quận Châu Thành.

Giai đoạn 1945-1954[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tỉnh Châu Đốctỉnh Long Xuyên nằm trong danh sách 21 tỉnh ở Nam Bộ. Lúc này, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975.

Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), lúc bấy giờ có sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốctỉnh Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu TiềnLong Châu Hậu như sau:

Năm 1949, chính quyền Cách mạng giao huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Cần Thơ, đến năm 1954 lại trả huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Long Xuyên quản lý trở lại như trước.

Đến tháng 10 năm 1950 tỉnh Long Châu Hậu hợp nhất với tỉnh Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà. Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa.

Tên các tỉnh Long Châu Tiền, Long Châu Hậu, Long Châu SaLong Châu Hà không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa công nhận.

Năm 1954, chính quyền Cách mạng của Việt Minh giải thể các tỉnh Long Châu Sa, Long Châu Hà, đồng thời khôi phục lại tỉnh Châu Đốc, tỉnh Long Xuyên, tỉnh Sa Đéctỉnh Hà Tiên như trước đó.

Tỉnh An Giang giai đoạn 1956-1964[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Long Xuyêntỉnh Châu Đốc như thời Pháp thuộc.

Năm 1955, tỉnh Châu Đốc có 5 quận gồm: Châu Thành, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự trong đó tất cả 70 xã. Tỉnh Long Xuyên có 4 quận gồm Châu Thành, Chợ Mới, Núi Sập, Thốt Nốt với tổng cộng 47 xã.

Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách quận Hồng Ngự ra khỏi tỉnh Châu Đốc và tổng Phong Thạnh Thượng ra khỏi quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên để cùng nhập vào tỉnh Phong Thạnh mới thành lập (sau đó lại đổi tên thành tỉnh Kiến Phong, ngày nay là tỉnh Đồng Tháp).

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN để ” thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam”. Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này tỉnh Châu Đốctỉnh Long Xuyên được sáp nhập để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh An Giang. Tỉnh lỵ tỉnh An Giang đặt tại Long Xuyên và vẫn giữ nguyên tên là "Long Xuyên", về mặt hành chánh thuộc xã Mỹ Phước, quận Châu Thành.

Lúc này ở vùng đất cả hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc trước đó đều có quận Châu Thành cả. Tuy nhiên, do tỉnh lỵ tỉnh An Giang có tên là "Long Xuyên" và được đặt ở quận Châu Thành thuộc tỉnh Long Xuyên cũ, cho nên quận Châu Thành thuộc tỉnh Châu Đốc cũ được đổi tên là quận Châu Phú như ở giai đoạn 1919-1939.

Tỉnh An Giang lúc này gồm 8 quận là Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn, Núi Sập. Ngày 06 tháng 08 năm 1957, tách 13 xã của quận Châu Phú để thành lập quận mới có tên là quận An Phú. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên quận Núi Sập thành quận Huệ Đức.

  • Quận An Phú: có duy nhất 1 tổng là An Phú (gồm 13 xã); quận lỵ đặt tại xã Phước Hưng
  • Quận Châu Phú: có 2 tổng là Châu Phú (gồm 5 xã) và An Lương (gồm 9 xã); quận lỵ đặt tại xã Châu Phú
  • Quận Châu Thành: có 2 tổng là Định Phước (gồm 5 xã) và Định Thành (gồm 7 xã); quận lỵ đặt tại xã Mỹ Phước.
  • Quận Chợ Mới: có 2 tổng là Định Hòa (gồm 7 xã) và An Bình (gồm 5 xã); quận lỵ đặt tại xã Long Điền
  • Quận Tân Châu: có 2 tổng là An Thành (gồm 5 xã) và An Lạc (gồm 3 xã); quận lỵ đặt tại xã Long Phú
  • Quận Thốt Nốt: có duy nhất 1 tổng là Định Mỹ (gồm 9 xã); quận lỵ đặt tại xã Thạnh Hòa Trung Nhứt
  • Quận Tịnh Biên: có 2 tổng là Quy Đức (gồm 5 xã) và Thành Tín (gồm 3 xã); quận lỵ đặt tại xã An Phú
  • Quận Tri Tôn: có 3 tổng là Thành Lễ (gồm 5 xã), Thành Ngãi (gồm 3 xã), Thành Ý (gồm 7 xã); quận lỵ đặt tại xã Tri Tôn
  • Quận Huệ Đức: có duy nhất 1 tổng là Định Phú (gồm 6 xã); quận lỵ đặt tại xã Thoại Sơn

Chính quyền Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1957, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng giải thể và sáp nhập hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc với nhau để thành lập một tỉnh mới, vẫn lấy tên là tỉnh An Giang như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện vào năm 1956.

Tỉnh An Giang khi đó gồm 9 huyện: Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn và 2 thị xã: Long Xuyên, Châu Đốc. Chính quyền Cách mạng cũng trả huyện Hồng Ngự về tỉnh Kiến Phong và huyện Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc. Năm 1963, lại giao huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Cần Thơ quản lý.

Tỉnh An Giang và tỉnh Châu Đốc giai đoạn 1964-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 08 tháng 09 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt Nam Cộng Hoà ký Sắc lệnh 246/NV, quy định kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Châu Đốc trên cơ sở tách đất từ tỉnh An Giang. Phần đất còn lại tương ứng với tỉnh Long Xuyên trước năm 1956, tuy nhiên chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn giữ tên tỉnh An Giang cho vùng đất này đến năm 1975.

Tỉnh Châu Đốc khi đó gồm 5 quận: Châu Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú. Tỉnh lỵ tỉnh Châu Đốc khi đó lại có tên là "Châu Phú", do nằm trong khu vực xã Châu Phú, quận Châu Phú.

  • Quận Châu Phú: gồm 14 xã, quận lỵ đặt tại xã Châu Phú
  • Quận Tân Châu: gồm 8 xã, quận lỵ đặt tại xã Long Phú
  • Quận Tri Tôn: gồm 15 xã, quận lỵ đặt tại xã Tri Tôn
  • Quận Tịnh Biên: gồm 8 xã, quận lỵ đặt tại xã An Phú
  • Quận An Phú (được thành lập vào năm 1957): gồm 13 xã, quận lỵ đặt tại xã Phước Hưng.

Tỉnh An Giang mới sau năm 1964 tức phần đất của tỉnh Long Xuyên trước đó. Cho đến năm 1975, tỉnh An Giang tỉnh lỵ có tên là "Long Xuyên", bao gồm 4 quận:

  • Quận Châu Thành: gồm 12 xã, quận lỵ đặt tại xã Mỹ Phước
  • Quận Huệ Đức: gồm 5 xã, quận lỵ đặt tại xã Thoại Sơn
  • Quận Chợ Mới: gồm 12 xã, quận lỵ đặt tại xã Long Điền
  • Quận Thốt Nốt: gồm 9 xã, quận lỵ đặt tại xã Thạnh Hòa Trung Nhứt (năm 1972 đổi lại thành xã Trung Nhứt)

Chính quyền Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn 1964-1971, địa bàn tỉnh Châu Đốc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh An Giang của chính quyền Cách mạng quản lý. Năm 1965, chính quyền Cách mạng giao huyện Hà Tiên và huyện Phú Quốc (cùng thuộc tỉnh Rạch Giá) cho tỉnh An Giang quản lý. Đến năm 1967 lại trả hai huyện Hà Tiên và Phú Quốc về cho tỉnh Rạch Giá như trước. Tháng 12 năm 1965, huyện Chợ Mới cũng được giao về cho tỉnh Kiến Phong quản lý. Đến tháng 5 năm 1974, chính quyền Cách mạng đặt huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Sa Đéc.

Năm 1971, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập tỉnh Châu Hà, tách ra từ tỉnh An Giang và tỉnh Rạch Giá, trên phần đất tỉnh Châu Đốctỉnh Hà Tiên trước năm 1956. Lúc này tỉnh Châu Hà còn có thêm các huyện Châu Thành A, Hà TiênPhú Quốc vốn cùng thuộc tỉnh Rạch Giá trước đó. Tỉnh Châu Hà gồm các huyện: Huệ Đức, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Thành A, Hà Tiên và Phú Quốc.

Tháng 5 năm 1974, chính quyền Cách mạng lại quyết định giải thể các tỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong để tái lập các tỉnh Long Châu Hà, Long Châu TiềnSa Đéc:

Tuy nhiên, tên các tỉnh Châu Hà, Long Châu HàLong Châu Tiền cũng không được chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận, mà thay vào đó vẫn sử dụng tên gọi tỉnh Châu Đốc và tỉnh An Giang cho đến năm 1975.

Sau sự kiện ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì các tỉnh Long Châu HàLong Châu Tiền như trước đó. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng “quận” có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).

Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc “nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước”. Theo Nghị quyết này, địa bàn tỉnh Rạch Giá sẽ được chia ra vào sáp nhập vào các tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên. Cụ thể như sau:

Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó thành lập tỉnh An Giang trên cơ sở hợp nhất tỉnh An Giang và tỉnh Châu Đốc thời Việt Nam Cộng hòa, trừ huyện Thốt Nốt giao cho tỉnh Hậu Giang quản lý.

Tỉnh An Giang trong bản đồ địa hình Việt Nam Cộng hòa.

Tỉnh An Giang từ năm 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1976, tỉnh An Giang chính thức có 8 huyện là Châu Thành, Huệ Đức, Chợ Mới, Phú Tân, Châu Phú, Phú Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên cùng với hai thị xã là Long XuyênChâu Đốc. Tỉnh lỵ đặt tại thị xã Long Xuyên.

Ngày 11 tháng 3 năm 1977, huyện Huệ ĐứcChâu Thành hợp nhất thành huyện Châu Thành, huyện Tri TônTịnh Biên cũng hợp nhất thành huyện Bảy Núi.[16] Ngày 23 tháng 8 năm 1979, huyện Bảy Núi tách thành huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên, đồng thời tách một phần của huyện Châu Thành để thành lập huyện Thoại Sơn.[17] Tỉnh An Giang lúc này có 8 huyện và 2 thị xã. Ngày 13 tháng 11 năm 1991, huyện Phú Châu tách thành hai huyện Tân ChâuAn Phú.

Ngày 12 tháng 11 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 669/TTg về việc xác định ranh giới giữa hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Năm 1996, hoàn tất việc xác định ranh giới giữa tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận.

Ngày 1 tháng 3 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/1999/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Long Xuyên trước đó.[18]

Ngày 24 tháng 8 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 40/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân, thành lập thị xã Tân Châu, thành lập các phường thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.[19]

Ngày 19 tháng 7 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 86/NQ-CP về việc thành lập thành phố Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ 10.529,05 ha diện tích tự nhiên, 157.298 nhân khẩu và 7 đơn vị hành chính cấp xã của thị xã Châu Đốc trước đó.[20]

Tỉnh An Giang có 353.667 ha diện tích tự nhiên, 2.150.999 nhân khẩu và 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu và các huyện: An Phú, Phú Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 02 thành phố[21], 01 thị xã và 08 huyện trong đó bao gồm 156 đơn vị hành chính cấp xã:

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh An Giang
Tên Diện tích (km²) Dân số (người)
Thành phố (2)
Thành phố Long Xuyên 106,87 253.048 người[22]
Thành phố Châu Đốc 105,29 157.298[23]
Thị xã (1)
Thị xã Tân Châu 176,64[24] 172.088[24]
Các huyện (8)
Huyện An Phú 226,37 191.328[25]
Tên Diện tích (km²) Dân số (người)
Huyện Châu Phú 425,9 250.567[26]
Huyện Châu Thành 346,82[27] 171.480[27]
Huyện Chợ Mới 369,62[28] 369.443[28]
Huyện Phú Tân 313,5[29] 210.772[29]
Huyện Thoại Sơn 598,1[30] 112.000[30]
Huyện Tịnh Biên 92,55[31] 47.128[31]
Huyện Tri Tôn 598,1 127.426[32]


Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

An Giang có 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa trên 151.600 ha, chiếm 44,5%. phần lớn đất đai điều màu mỡ vì 72% diện tích là đất phù sa hoặc có phù sa, địa hình bằng phẳng, thích nghi đối với nhiều loại cây trồng.

Tượng đài cá ba sa

Trên địa bàng toàn tỉnh có trên 583 ha rừng tự nhiên thuộc loại rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng, với 154 loài cây quý hiếm thuộc 54 họ, ngoài ra còn có 3.800 ha rừng tràm. Sau một thời gian diện tích rừng bị thu hẹp, những năm gần đây tỉnh đã chú ý nhiều tới việc gây lại vốn rừng. Động vật rừng An Giang cũng khá phong phú và có nhiều loại quí hiếm.

Ngoài ra, An Giang còn có tài nguyên khoáng sản khá phong phú, với trữ lượng khá đá granít trên 7 tỷ m3, đá cát kết 400 triệu m3, cao lanh 2,5 triệu tấn, than bùn 16,4 triệu tấn, vỏ sò 30 – 40 triệu m3, và còn có các loại puzolan, fenspat, bentonite, cát sỏi,…

Từ trên đỉnh núi Cấm nhìn xuống khu vực hồ Thủy Liêm

Với những thế mạnh về đất đaikhí hậu An Giang được xem là tỉnh có tiềm năng du lịch. Du lịch của tỉnh tập trung vào các lĩnh vực văn hoá, du lịch sinh thái, du lịch vui chơi giải trí và du lịch nghỉ dưỡng. Tài nguyên khoáng sản cũng là lợi thế của tỉnh An Giang so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khác, nguồn đá, cát, đất sét là nguyên liệu quý của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, đáp ứng nhu cầu rất lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long về vật liệu xây dựng[2].

Danh nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Liệt kê một số người nổi bật:

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Văn học - Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ca Sĩ: Ưng Hoàng Phúc

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại Học An Giang (khu mới)

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Danh lam thắng cảnh - Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

An Giang có một số thắng cảnh tiêu biểu như:

Biển số xe cơ giới trong tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Biểm kiểm soát xe môtô
  • Thành phố Long Xuyên 67-B1 XXX.XX
  • Huyện Châu Thành 67-C1 XXX.XX
  • Huyện Châu Phú 67-D1 XXX.XX
  • Thành phố Châu Đốc 67-E1 XXX.XX
  • Huyện Tịnh Biên 67-F1 XXX.XX
  • Huyện An Phú 67-G1 XXX.XX
  • Thị xã Tân Châu 67-H1 XXX.XX
  • Huyện Phú Tân 67-K1 XXX.XX
  • Huyện Chợ Mới 67-L1 XXX.XX
  • Huyện Thoại Sơn 67-M1 XXX.XX
  • Huyện Tri Tôn 67-N1 XXX.XX

Một số hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ a ă â Giới thiệu khái quát về Tỉnh An Giang, Theo trang Chí Phủ.
  3. ^ a ă “Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh An Giang đến năm 2010 ban hành Quyết định số 1987/QĐ-UBND ngày 03 tháng 9 năm 2009 của UBND tỉnh An Giang”. www.chinhphu.vn. 
  4. ^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, tỉnh An Giang, trang 151-191.
  5. ^ Đại Nam nhất thống chí, quyển hạ, bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo lưu tại nhà sách Sông Hương, trang 40.
  6. ^ Đại Nam thực lục, chính biên, đệ nhị kỷ, quyển CCVII, Thực lục về Thánh tổ Nhân hoàng đế, tập 5, trang 617.
  7. ^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, trang 173.
  8. ^ a ă Lịch sử khẩn hoang Miền Nam, Sơn Nam, trang 22 bản pdf.
  9. ^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 30, trang 178.
  10. ^ Đại Nam thực lục, tập 5, trang 299.
  11. ^ Đại Nam thực lục, tập 5, trang 785.
  12. ^ Đại Nam thực lục, chính biên, đệ tam kỷ, quyển 50, trang 765.
  13. ^ Đại Nam thực lục, chính biên, đệ tam kỷ, quyển 66, trang 992.
  14. ^ Đại Nam thực lục, Chính biên, đệ tứ kỷ, quyển 21, tập 7, trang 625.
  15. ^ Đại Nam thực lục, Chính biên, đệ tứ kỷ, quyển 24, tập 7, trang 708-720.
  16. ^ Quyết định 56-CP năm 1977 về việc hợp nhất một số huyện thuộc tỉnh An Giang do Hội đồng Chính phủ ban hành
  17. ^ Quyết định 300-CP năm 1979 về việc điều chỉnh địa giới một số huyện và thị xã thuộc tỉnh An Giang do Hội đồng Chính phủ ban hành
  18. ^ Nghị định 09/1999/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Long Xuyên, thuộc tỉnh An Giang
  19. ^ Nghị quyết số 40/NQ-CP về điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân, thành lập thị xã Tân Châu, thành lập các phường thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang
  20. ^ Nghị quyết 86/NQ-CP năm 2013 thành lập phường Vĩnh Nguơn thuộc thị xã Châu Đốc và thành lập thành phố Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang
  21. ^ http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=509&_page=1&mode=detail&document_id=168745.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  22. ^ Theo số liệu do Cục Thống kê tỉnh An Giang cung cấp ngày 5 tháng 7 năm 2001.
  23. ^ “Nghị quyết 86/NQ-CP năm 2013”. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013. 
  24. ^ a ă Dân số trung bình trên địa bàn thị xã Tân Châu, Cổng thông tin điện tử Thị Xã Tân Châu.
  25. ^ Theo thông tin thống kê dân số Huyện An Phú năm 2008
  26. ^ Theo thông tin thống kê dân số huyện Châu Phú năm 2006
  27. ^ a ă Tổng quan về Huyện Châu Thành, Cổng thông tin điện tử Huyện Châu Thành.
  28. ^ a ă Dân số Huyện Chợ Mới năm 2007, Cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang.
  29. ^ a ă Điều kiện tự nhiên huyện Phú Tân, Cổng thông tin điện tử huyện Phú Tân.
  30. ^ a ă Diện tích và dân số Huyện Thoại Sơn tính đến năm 2004
  31. ^ a ă Diện tích và dân số huyện Tịnh Biên tính đến 2007, Theo Cổng thông tin điện tử Huyện Tịnh Biên.
  32. ^ Dân số huyện Tri Tôn tính đến năm 2008, Cổng thông tin điện tử huyện Tri Tôn.