Hải Dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hải Dương
Tỉnh
255 px
Biểu trưng du lịch tỉnh Hải Dương
Địa lý
Tọa độ: 20°56′15″B 106°18′52″Đ / 20,937393°B 106,314526°Đ / 20.937393; 106.314526Tọa độ: 20°56′15″B 106°18′52″Đ / 20,937393°B 106,314526°Đ / 20.937393; 106.314526
Diện tích 1656,0 km²[1]
Dân số (2012)  
 Tổng cộng 1.735.100 người[1]
 Mật độ 1048 người/km²
Dân tộc Việt
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Hồng
Tỉnh lỵ Thành phố Hải Dương
 Chủ tịch UBND Nguyễn Mạnh Hiển
 Chủ tịch HĐND Bùi Thanh Quyến
 Bí thư Tỉnh ủy Bùi Thanh Quyến
 Trụ sở UBND 45 Quang Trung
Đại biểu quốc hội 9
Phân chia hành chính
Mã hành chính VN-61
Mã bưu chính 17xxxx
Mã điện thoại 320
Biển số xe 34
Website http://www.haiduong.gov.vn/

Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía tây. phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp thành phố Hải Phòng, phía nam giáp tỉnh Thái Bìnhphía tây giáp tỉnh Hưng Yên.Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương hiện là đô thị loại 2.

Theo quy hoạch năm 2007, Hải Dương nằm trong Vùng thủ đô với vai trò là một trung tâm công nghiệp của toàn vùng[2].

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng trường 30 tháng 10 (quảng trường phía Tây) Thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương

Hải Dương bao gồm 01 thành phố trực thuộc, 01 thị xã và 10 huyện:

  • Huyện Kinh Môn 3 thị trấn, 22 xã: Kinh Môn (thị trấn) (An Lưu cũ), thị trấn Phú Thứ, thị trấn Minh Tân, Xã Bạch Đằng, Xã Thất Hùng, Xã Lê Ninh, Xã Hoành Sơn, Xã Phúc Thành B, Xã Thái Sơn, Xã Duy Tân, Xã Tân Dân, Xã Quang Trung, Xã Hiệp Hòa, Xã Phạm Mệnh, Xã Thăng Long, Xã Lạc Long, Xã An Sinh, Xã Hiệp Sơn, Xã Thượng Quận, Xã An Phụ, Xã Hiệp An, Xã Long Xuyên, Xã Thái Thịnh, Xã Hiến Thành, Xã Minh Hòa.
  • Huyện Kim Thành 1 thị trấn, 20 xã: Phú Thái, Kim Thành, Xã Lai Vu, Xã Cộng Hòa, Xã Thượng Vũ, Xã Cổ Dũng, Xã Việt Hưng, Xã Tuấn Hưng, Xã Kim Xuyên, Xã Phúc Thành A, Xã Ngũ Phúc, Xã Kim Anh, Xã Kim Lương, Xã Kim Tân, Xã Kim Khê, Xã Kim Đính, Xã Cẩm La, Xã Bình Dân, Xã Tam Kỳ, Xã Đồng Gia, Xã Liên Hòa, Xã Đại Đức.
  • Huyện Thanh Hà 1 thị trấn, 24 xã: Thị trấn Thanh Hà, Xã Hồng Lạc, Xã Việt Hồng, Xã Quyết Thắng, Xã Tân Việt, Xã Cẩm Chế, Xã Thanh An, Xã Thanh Lang, Xã Tiền Tiến, Xã Tân An, Xã Liên Mạc, Xã Thanh Hải, Xã Thanh Khê, Xã Thanh Xá, Xã Thanh Xuân, Xã An Lương, Xã Thanh Thủy, Xã Phượng Hoàng, Xã Thanh Sơn, Xã Hợp Đức, Xã Trường Thành, Xã Thanh Bính, Xã Thanh Hồng, Xã Thanh Cường, Xã Vĩnh Lập.
  • Huyện Cẩm Giàng 2 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Cẩm Giàng, Thị trấn Lai Cách, Xã Cẩm Hưng, Xã Cẩm Hoàng, Xã Cẩm Văn, Xã Ngọc Liên, Xã Thạch Lỗi, Xã Cẩm Vũ, Xã Đức Chính, Xã Cẩm Sơn, Xã Cẩm Định, Xã Kim Giang, Xã Lương Điền, Xã Cao An, Xã Tân Trường, Xã Cẩm Phúc, Xã Cẩm Điền, Xã Cẩm Đông, Xã Cẩm Đoài.
  • Huyện Bình Giang 1 thị trấn, 17 xã: Thị trấn Kẻ Sặt, Xã Hưng Thịnh, Xã Vĩnh Tuy, Xã Hùng Thắng, Xã Tráng Liệt, Xã Vĩnh Hồng, Xã Long Xuyên, Xã Tân Việt, Xã Thúc Kháng, Xã Tân Hồng, Xã Bình Minh, Xã Hồng Khê, Xã Thái Học, Xã Cổ Bi, Xã Nhân Quyền, Xã Thái Dương, Xã Thái Hòa, Xã Bình Xuyên.
  • Huyện Gia Lộc 1 thị trấn, 22 xã: Thị trấn Gia Lộc, Xã Liên Hồng, Xã Thống Nhất, Xã Trùng Khánh, Xã Gia Xuyên, Xã Yết Kiêu, Xã Gia Hòa, Xã Phương Hưng, Xã Gia Tân, Xã Tân Tiến, Xã Gia Khánh, Xã Gia Lương, Xã Lê Lợi, Xã Toàn Thắng, Xã Hoàng Diệu, Xã Hồng Hưng, Xã Phạm Trấn, Xã Đoàn Thượng, Xã Thống Kênh, Xã Quang Minh, Xã Đồng Quang, Xã Nhật Tân, Xã Đức Xương.
  • Huyện Tứ Kỳ 1 thị trấn, 26 xã: Thị trấn Tứ Kỳ, Xã Ngọc Sơn, Xã Kỳ Sơn, Xã Đại Đồng, Xã Hưng Đạo, Xã Ngọc Kỳ, Xã Bình Lăng, Xã Tứ Xuyên, Xã Tái Sơn, Xã Quang Phục, Xã Đông Kỳ, Xã Tây Kỳ, Xã Dân Chủ, Xã Tân Kỳ, Xã Quang Khải, Xã Đại Hợp, Xã Quảng Nghiệp, Xã An Thanh, Xã Minh Đức, Xã Văn Tố, Xã Quang Trung, Xã Phượng Kỳ, Xã Cộng Lạc, Xã Tiên Động, Xã Nguyên Giáp, Xã Hà Kỳ, Xã Hà Thanh.
  • Huyện Ninh Giang 1 thị trấn, 27 xã: Thị trấn Ninh Giang, Xã Quyết Thắng, Xã ứng Hoè, Xã Nghĩa An, Xã Hồng Đức, Xã Ninh Hòa, Xã An Đức, Xã Vạn Phúc, Xã Tân Hương, Xã Ninh Thành, Xã Vĩnh Hòa, Xã Đông Xuyên, Xã Hoàng Hanh, Xã Quang Hưng, Xã Tân Phong, Xã Ninh Hải, Xã Đồng Tâm, Xã Tân Quang, Xã Kiến Quốc, Xã Hồng Thái, Xã Hồng Dụ, Xã Văn Hội, Xã Hưng Thái, Xã Hồng Phong (cổng thông tin điện tử xã Hồng Phong: http://hongphong.gov.vn), Xã Hiệp Lực, Xã Hồng Phúc, Xã Hưng Long, Xã Văn Giang.
  • Huyện Thanh Miện 1 thị trấn, 18 xã: Thị trấn Thanh Miện, Xã Thanh Tùng, Xã Phạm Kha, Xã Ngô Quyền, Xã Đoàn Tùng, Xã Hồng Quang, Xã Tân Trào, Xã Lam Sơn, Xã Đoàn Kết, Xã Lê Hồng, Xã Tứ Cường, Xã Hùng Sơn, Xã Ngũ Hùng, Xã Cao Thắng, Xã Chi Lăng Bắc, Xã Chi Lăng Nam, Xã Thanh Giang, Xã Diên Hồng, Xã Tiền Phong.

Theo quy hoạch Xây dựng vùng tỉnh Hải Dương đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, Hải Dương sẽ hình thành 3 cụm đô thị động lực mạnh: thành phố Hải Dương - hành lang quốc lộ 5; Chí Linh - Kinh Môn; cụm Thanh Miện và khu vực phía nam tỉnh. Quy hoạch cũng thể hiện sự phát triển theo các trục hành lang tạo thành mạng lưới, khung phát triển của quy hoạch lãnh thổ tỉnh. Định hướng phát triển công nghiệp gồm có khu công nghiệp và các cụm công nghiệp với tổng số 25 khu công nghiệp với tổng diện tích 5.400 ha.

Hệ thống đô thị được định hướng gồm Thành phố Hải Dương đạt đô thị loại I trước năm 2020 là hạt nhân; TX Chí Linh là đô thị trung tâm phía bắc; chuỗi thị trấn Kinh Môn, Minh Tân, Phú Thứ phát triển thành Thị xã Kinh Môn vào năm 2015; thị trấn Kẻ Sặt (Bình Giang) mở rộng và nâng cấp lên đô thị loại IV và thành Thị xã vào năm 2020; các thị trấn Phú Thái (Kim Thành), Ninh Giang và Thanh Miện nâng cấp thành đô thị loại IV khoảng năm 2025... Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của tỉnh sẽ nâng cấp và quy hoạch mới các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy và các cảng cạn, bến bãi… Bản quy hoạch cũng thể hiện quan điểm lựa chọn các dự án ưu tiên đầu tư tới năm 2015 - 2020 gồm các công trình xã hội, công trình hạ tầng kỹ thuật…

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Hải Dương - Thành Đông năm 1885, 1 trong 4 thành trong Thăng Long tứ trấn
Hải Dương trong một bưu thiếp của Pháp đầu thế kỷ 20

Xuất xứ tên gọi Hải Dương: Hải là miền duyên hải, vùng đất giáp biển. Dương là ánh sáng, ánh mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là "ánh mặt trời biển Đông" hay "ánh sáng từ miền duyên hải (phía đông) chiếu về". Tên gọi Hải Dương chính thức có từ năm 1469 [3]. Thời phong kiến, Hải Dương là một miền đất rất rộng lớn. phía tây đến Bần Yên Nhân (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), phía đông đến vùng biển (nay thuộc thành phố Hải Phòng), phía nam từ Lực Điền đến cầu Tràng (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), phía bắc từ Trạm Điền xuống núi Tam Ban, Yên Tử (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh). Miền đất Hải Dương luôn ở vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong "Dư địa chí", Nguyễn Trãi đã đánh giá Hải Dương là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn và là phên giậu phía đông của kinh thành Thăng Long.

  • Nhà Lý đổi thành lộ Hồng, sau đổi thành lộ Hải Đông.
  • Nhà Trần đổi lại thành lộ Hồng, rồi lại đổi thành lộ Hải Đông. Sau đó đổi làm 4 lộ: Hồng Châu thượng, Hồng Châu hạ và Nam Sách thượng, Nam Sách hạ, còn gọi là Nam Sách Giang.
  • Năm Quang Thái thứ 10 (1397) vua Trần Thuận Tông đổi làm trấn Hải Đông
  • Thời kỳ thuộc Minh (1407-1427), thuộc hai phủ Lạng Giang và Tân An.
  • Khoảng niên hiệu Diên Ninh (1454-1459) vua Lê Nhân Tông chia làm 2 lộ: Nam Sách thượng và Nam Sách hạ
  • Năm 1469, đổi làm thừa tuyên Hải Dương.
  • Năm Hồng Đức thứ 21 (1479) đổi làm xứ.
  • Khoảng giữa năm Hồng Thuận (1510-1516) vua Lê Tương Dực đổi làm trấn; Nhà Mạc lấy Nghi Dương làm Dương Kinh, trích phủ Thuận An ở Kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình ở Sơn Nam cho lệ thuộc vào Dương Kinh.
  • Nhà Hậu Lê, khoảng niên hiệu Quang Hưng (1578-1599), vua Lê Thế Tông đổi làm trấn theo nguyên như cũ.
Giao chiến ác liệt tại thành Hải Dương giữa thực dân Pháp và quan binh Hải Dương. Khi Adrien-Paul Balny d'Avricourt chỉ huy quân Pháp đi trên chiến hạm Espignole đổ bộ đánh chiếm Hải Dương trong Chiến tranh Pháp-Đại Nam diễn ra từ năm 1858 đến năm 1884
  • Năm Cảnh Hưng thứ 2 - 1741, vua Lê Hiển Tông chia làm 4 đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Đông Triều và An Lão; Nhà Tây Sơn đem phủ Kinh Môn đổi thuộc vào Yên Quảng.
  • Năm 1802, vua Gia Long đem Kinh Môn thuộc về trấn cũ và lệ thuộc vào Bắc Thành.
  • Năm 1804, đời Vua Gia Long, lị sở Hải Dương được chuyển từ Mao Điền về tổng Hàn Giang, đặt trên vùng đất cao thuộc ngã ba sông Thái Bình và sông Sặt với mục tiêu trấn thành án ngữ vùng biên hải phía đông Kinh đô Thăng Long, chính vì vậy có tên gọi là Thành Đông - có nghĩa: đô thành ở phía đông.
  • Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi Thượng Hồng làm phủ Bình Giang, Hạ Hồng làm phủ Ninh Giang, còn hai đạo Đông Triều và An Lão thì đặt làm hai huyện.
  • Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) chia thành một hạt độc lập và đổi làm tỉnh Hải Dương gồm 5 phủ 19 huyện.
  • Ngày 27 tháng 1 năm 1996, chia 2 huyện Tứ Lộc và Ninh Thành thành các huyện như cũ.[6]
  • Ngày 17 tháng 2 năm 1997, chia các huyện Cẩm Bình, Kim Môn, Nam Thanh thành các huyện như cũ.[8]
Thị trấn Ninh Giang tỉnh Hải Dương thời Pháp thuộc Phu Ninh Giang Rue principale

Mảnh đất Hải Dương hiện đang lưu giữ khối lượng lớn văn hoá vật thể và phi vật thể đa dạng, độc đáo với 1.098 di tích lịch sử, văn hoá, danh thắng. Từ những dấu ấn thời kỳ đồ đá cũ có niên đại trên 3 vạn năm ở hang Thánh Hoá, núi Nhẫm Dương, đến những di chỉ, di vật có giá trị của thời đại đồ Ðồng tại Ðồi Thông (Kinh Môn), Hữu Chung (Tứ Kỳ), làng Gọp (Thanh Hà),... Văn hoá Lý, Trần, Lê, Nguyễn là dòng chảy liên tục và rực sáng trên vùng đất này, đã tạo nên một không gian văn hoá đặc biệt - nơi kết hợp hài hòa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với chiều sâu lịch sử và tâm linh với 127 di tích được xếp hạng quốc gia mà tiêu biểu là Côn Sơn - Kiếp Bạc, Phượng Hoàng (Chí Linh). Chỉ trong một không gian chừng 5 km2 đã có hàng chục di tích lưu giữ những kỷ niệm về 3 danh nhân vĩ đại của đất nước và thế giới. Ðó là Trần Hưng Ðạo - danh nhân quân sự, Nguyễn Trãi - danh nhân văn hoá, Chu Văn An - "người thầy của muôn đời"; cùng An Phụ, Kính Chủ (Kinh Môn) đã trở thành những huyền thoại của non sông đất Việt.

Địa lý tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Một góc Thành phố Hải Dương ngày nay, trung tâm hành chính của tỉnh Hải Dương

Diện tích: 1.662 km²

Tọa độ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vĩ độ: 20°43' đến 21°14' độ vĩ Bắc
  • Kinh độ: 106°03' đến 106°38' độ kinh Đông
Một góc phường Sao Đỏ, thị xã Chí Linh trung tâm hành chính của huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Hải Dương nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông).

Vào giai đoạn từ tiết lập xuân đến tiết thanh minh (khoảng đầu tháng hai - đầu tháng tư dương lịch) có hiện tượng mưa phùnnồm là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa. Mùa mưa kéo dài từ tháng tư đến tháng mười hàng năm.

Sân golf Ngôi Sao Chí Linh Sân golf thách thức nhất Việt Nam [11].

Khí hậu thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây ăn quả, đặc biệt là sản xuất cây rau màu vụ đông.

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Các khoáng sản chính:

  • Đá vôi xi măngKinh Môn, trữ lượng 200 triệu tấn, hàm lượng CaCO3 từ 90 - 97%. Đủ để sản xuất 4 đến 5 triệu tấn xi măng/năm trong thời gian 50 - 70 năm.
  • Cao lanh ở Kinh Môn, Chí Linh trữ lượng 400.000 tấn, hàm lượng Fe2O3: 0,8 - 1,7%; Al2O3: 17 - 19% cung cấp nguyên liệu cho sản xuất đồ sứ.
  • Đất sét chịu lửa ở Chí Linh, trữ lượng 8 triệu tấn, chất lượng tốt; hàm lượng Al2O3: 23,5 - 28%, Fe2O3: 1,2 - 1,9% cung cấp nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa.
  • Bô xít ở Kinh Môn, trữ lượng 200.000 tấn; hàm lượng Al2O3: từ 46,9 - 52,4%, Fe2O3: từ 21 - 26,6%; SiO2 từ 6,4 - 8,9%.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2011 Hải Dương có 1.718.895 người với mật độ dân số 1.039 người/km² Thành phần dân số:

  • Nông thôn: 78,1%
  • Thành thị: 21,9%.
Đơn vị hành chính Diện tích (km²)
Dân số (người)
(Năm 2011)
Mật độ (người/km²)
Toàn tỉnh ' 1.654,8 1.718.895 1.039
1- Thành phố Hải Dương 71,4 215.566 3.019
2- Thị xã Chí Linh 282,0 160.349 569
3- Huyện Nam Sách 109,1 112.558 1.032
4- Huyện Kinh Môn 163,5 159.534 976
5- Huyện Kim Thành 115,2 122.782 1.066
6- Huyện Thanh Hà 159,1 154.414 971
8- Huyện Cẩm Giàng 109,0 128.839 1.182
9- Huyện Bình Giang 104,8 105.535 1.007
10- Huyện Gia Lộc 112,4 135.387 1.205
11- Huyện Tứ Kỳ 170,4 158.769 932
12- Huyện Ninh Giang 135,5 141.677 1.046
13- Huyện Thanh Miện 122,4 123.485 1.009

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Một khu đô thị tại Thành phố Hải Dương. Ảnh chụp tại Khu đô thị Đỉnh Long đường Trường Chinh phường Tân Bình Thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương

Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2003 ước đạt gần 8.350 tỷ đồng (chỉ số giá năm 1994). Cơ cấu nông, lâm thuỷ sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ: 30% - 41% - 29%. Hải Dương có số thu ngân sách cao thứ 12 cả nước với 2,550 tỉ (2006). Năm 2008, Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 10,5%; Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,9%; Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng tăng 13%. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 13,5%.

Giá trị hàng hoá xuất khẩu ước đạt 420 triệu USD, tăng 73,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, chủ yếu tăng do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tăng 85,7%). Tổng giá trị nhập khẩu ước đạt 440 triệu USD, tăng 47,9% so với cùng kỳ năm trước.

Công ty Xi măng Vicem Hoàng Thạch Thị trấn Minh Tân, huyện Kinh môn, tỉnh Hải Dương

Đến nay Hải Dương đã quy hoạch 11 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.719 ha. Với chính sách thông thoáng, ưu đãi các nhà đầu tư trong và ngoài nước, với lợi thế vị trí thuận lợi, Hải Dương đã thu hút nhiều nhà đầu tư vào khu công nghiệp. Trên địa bàn tỉnh có 236 dự án FDI của các nhà đầu tư đến từ 24 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu tư đăng ký 5,650 tỷ USD

Hải Dương là tỉnh nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cách Hà Nội 60 km, cách thành phố Hải Phòng 45 km và cách vịnh Hạ Long 80 km. Tỉnh có hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thuỷ rất thuận lợi, có quốc lộ 5 chạy qua tỉnh, phần qua tỉnh dài 44 km, quốc lộ 18 chạy qua phía bắc tỉnh, phần qua tỉnh dài 20 km, quốc lộ 183 chạy dọc tỉnh nối quốc lộ 5 và quốc lộ 18 dài 22 km, tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với đường quốc lộ 5 có 7 ga đỗ đón trả khách nằm trên địa bàn tỉnh. Tuyến đường sắt Kép - Phả Lại cung cấp than cho nhà máy điện Phả Lại. Hệ thống giao thông thuỷ có 16 tuyến dài 400 km do trung ương và tỉnh quản lý cho tàu thuyền trọng tải 400 – 500 tấn qua lại dễ dàng. Vị trí địa lý và hệ thống giao thông trên đã tạo điều kiện cho Hải Dương giao lưu kinh tế với các tỉnh, thành phố trong nước và quốc tế rất thuận lợi, Hải Dương sẽ có cơ hội tham gia vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng Bắc Bộ, đặc biệt là trao đổi hàng hoá với các tỉnh, thành phố trong cả nước và xuất khẩu.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc lộ: Hải Dương có các đường quốc lộ sau chạy qua:
Quốc lộ 5 Hà Nội - Hưng Yên - Hải Dương - Hải Phòng

+ Quốc lộ 5 từ Hà Nội tới Hải Phòng, phần chạy ngang qua giữa tỉnh Hải Dương dài 44,8 km.

+ Quốc lộ 18 từ Hà Nội qua Bắc Ninh, Hải Dương đến vùng than và cảng Cái Lân của tỉnh Quảng Ninh. Phần đường chạy qua Chí Linh dài 20 km.

+ Quốc lộ 37 dài 65,2 km phục vụ trực tiếp cho khu du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc thuộc thị xã Chí Linh.

+ Quốc lộ 38 dài 13 km là đường cấp III đồng bằng.

+ Quốc lộ 38B dài 145,06 km là đường cấp III đồng bằng, nối Hải Dương tới Ninh Bình.

+ Quốc lộ 10, dài 9 km. Quy mô cấp III đồng bằng.

+ Đường cao tốc từ Hà Nội tới Hải Phòng (đường 5 mới) đang vào giai đoạn thi công.

  • Đường tỉnh: có 14 tuyến dài 347,36 là đường nhựa tiêu chuẩn cấp III đồng bằng
  • Đường huyện có 392,589 km và 1386,15 km đường xã đảm bảo cho xe ô tô đến tất cả các vùng trong mọi mùa.

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Giáo xứ Kẻ Sặt. Xã Tráng Liệt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương

+ Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với đường 5, vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh Hải Dương.

+ Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm, nông, thổ sản ở các tỉnh miền núi phía bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân (Quảng Ninh), cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh này.

Đường thuỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Hải Dương có 16 tuyến sông chính nối với các sông nhỏ dài 400 km; các loại tàu, thuyền trọng tải 500 tấn có thể qua lại. Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn/năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi. Hệ thống giao thông trên là điều kiện cho việc giao lưu kinh tế từ trong tỉnh đi cả nước và nước ngoài thuận lợi.Hiện tại trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 12 tuyến sông do Trung ương quản lý như Sông Thái Bình, sông Thương, sông Luộc, sông Kinh Thầy, sông Kinh Môn... Tổng chiều dài 274,5 km, trong đó có sông Thái Bình, sông Luộc là những tuyến đường thuỷ quan trọng của khu vực đồng bằng sông Hồng.

Các tuyến xe buýt[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại, có tất cả 16 tuyến xe buýt xuất phát từ thành phố Hải Dương đi đến trung tâm các huyện trong tỉnh Hải Dương và các tỉnh, thành lân cận.

  • Các tuyến xuất phát từ Bến xe Hải Dương:
    • 202 Hải Dương - Hà Nội
    • 206 Hải Dương - Hưng Yên
    • 216 Hải Dương - Sặt - Hưng Yên
  • Các tuyến xuất phát từ Bến xe Hải Tân:
    • 02 Tp. Hải Dương - Thanh Hà
    • 19 TP. Hải Dương - Nam Sách
    • 207 Hải Dương - Uông Bí
    • 215 Hải Dương - Lương Tài
    • 217 Hải Dương - Bắc Ninh.
  • Các tuyến phố nội đô: Đại lộ Trần Hưng Đạo thành phố Hải Dương
    • 208 Hải Dương - Bắc Giang
    • 209 Hải Dương - Thái Bình
    • 01 TP Hải Dương - Thanh Hà
    • 18 TP Hải Dương - Phú Thái - Mạo Khê
    • 08 TP Hải Dương - Kim Thành
    • 07 TP Hải Dương - Bóng - Cầu Dầm
    • 05 TP Hải Dương - Bình Giang - Hà Chợ
  • Các tuyến xuất phát từ Điểm đỗ Bắc đường Thanh Niên (Siêu thị Marko cũ):
    • 06 TP Hải Dương - Bến Trại
    • 09 TP Hải Dương - TT. Tứ Kỳ - Quí Cao - Ninh Giang
    • 27 TP Hải Dương - Gia Lộc - Ninh Giang.

Văn hóa lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một buổi diễn của nhà hát Chèo Hải Dương

Hải Dương là một trong những vùng đất "địa linh nhân kiệt", vùng văn hoá và văn hiến tâm linh chính của cả nước. Theo dòng lịch sử đã để lại cho Hải Dương 1.098 di tích lịch sử, trong đó có 133 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và nhiều di tích được xếp hạng đặc biệt như Côn Sơn, Kiếp Bạc.

Hải Dương cũng là miền đất sinh ra và gắn liền với tên tuổi của nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới như: danh nhân quân sự thế giới Trần Hưng Đạo, một trong mười tướng tài trên thế giới, vị anh hùng dân tộc Việt Nam với chiến công hiển hách - ba lần chiến thắng quân Nguyên; Danh sư Chu Văn An, nhà giáo tài đức vẹn toàn, lịch sử tôn ông là nhà nho có đức nghiệp lớn nhất; Danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi, người có tầm tư tưởng vượt lên nhiều thế kỷ; Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi với học vấn đứng đầu cả nước, ông đã góp phần làm dạng danh đất nước; Đại danh y Tuệ Tĩnh, vị thánh thuốc nam được cả nước ngưỡng mộ. Hải Dương cũng là quê hương của Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, cùng với Mạc Đĩnh Chi là những đại thần có tài đức, được xếp vào hàng "Người phò tá có công lao tài đức đời Trần", được người đời khen tụng. Trí tuệ, tài năng của người Hải Dương cũng đóng góp cho sử sách Việt Nam 486 tiến sỹ (tính theo đơn vị hành chính mới, 637 vị tính theo đơn vị hành chính cũ) trong tổng số 2.989 vị đỗ đại khoa qua các triều đại, chiếm 16% (22%) đứng đầu cả nước, tiêu biểu là làng Mộ Trạch (Bình Giang – Hải Dương) được gọi là "lò tiến sỹ xứ Đông" có 36 vị đỗ đại khoa, đứng đầu số người đỗ tiến sỹ tính theo đơn vị làng xã trong cả nước. Vào thời Lê sơ, ở Hải Dương đã có trường thi và miếu thờ các vị đại nho, tiêu biểu là Văn miếu Mao Điền.

Hiện nay, trong địa bàn tỉnh Hải Dương còn nhiều di tích lịch sử-văn hóa như: Đền Kiếp Bạc thờ Đức thánh Trần, đền Đoanđền Tranh thờ Quan lớn Tuần Tranh, chùa Côn Sơn gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, đền Cao, Văn miếu Mao Điền, di tích gốm sứ Chu Đậu-Mỹ Xá, di tích lịch sử chùa Bạch Hào. Khu di tích Kính Chủ - An Phụ, đảo cò Chi Lăng Nam...

Hải Dương cũng một trong những cái nôi của nghệ thuật rối nước, hiện nay tại Hải Dương còn 2 phường rối nước là Phường rối nước Thanh Hải-Thanh Hà, và Hồng Phong. Gắn liền với đời sống người nông dân, rối nước đã trở thành niền tự hào không của người dân Hải Dương mà còn là niềm tự hào của con người Việt Nam.

Mỹ Xá cũng là nơi mà Việt Nam Quốc dân đảng đã họp dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Thái Học để phát động phong trào Khởi nghĩa Yên Bái chống lại thực dân Pháp vào tháng 2 năm 1930.

Với những thuận lợi trên, Hải Dương có vị trí khá quan trọng trong vùng du lịch Bắc Bộ và cả nước.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Văn Miếu Mao Điền, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

Hải Dương nổi tiếng là đất học từ xa xưa, vùng đất Xứ Đông này là quê hương của nhiều nho sĩ, Trạng nguyên Việt Nam và Thủ khoa Đại Việt. Trong thời kì phong kiến Hải Dương có 12 Trạng nguyên (tính theo đơn vị hành chính mới, 15 vị tính theo đơn vị hành chính cũ) đứng thứ hai cả nước (sau Bắc Ninh) và có 3 Thủ khoa Đại Việt, hàng ngàn tiến sĩ, bảng nhãn, thám hoa.

Nằm bên đường quốc lộ 5, cách thành phố Hải Dương 15 km về phía bắc, thuộc xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), văn miếu Mao Điền được biết tới là một trong số ít văn miếu hàng tỉnh còn tồn tại ở Việt Nam. Lịch sử của văn miếu bắt đầu từ hơn 500 năm về trước. Từ giữa thế kỷ 15 cho đến khoa thi cuối cùng của nhà Nguyễn, nơi đây trở thành nơi thi hương của vùng trấn Hải Dương. Đặc biệt trong thời Nhà Mạc (1527-1593) đã bốn lần tổ chức thi đại khoa ở Mao Điền. Chỉ đứng sau Văn Miếu - Quốc Tử Giám, với hơn 500 năm tồn tại và thờ hơn 600 vị tiến sĩ, văn miếu Mao Điền đã trở thành niềm tự hào về truyền thống hiếu học của con người Xứ Đông.

Nền giáo dục hiện tại của Hải Dương được xem là một trong cái nôi đào tạo nhân tài của Việt Nam. Nhiều học sinh gốc từ Hải Dương đã đạt giải cao trong các kỳ thi Olympic Quốc tế. Trong kỳ thi toán Quốc tế, nổi bật như Đinh Tiến Cường [12] huy chương vàng toán Quốc tế năm 1989 với số điểm tuyệt đối 42/42, hiện tại là giáo sư toán học tại Đại học Paris 6 [13]; Nguyễn Duy Mạnh, huy chương vàng toán (2006); Phạm Thành Thái, huy chương vàng toán (2007); Trần Trọng Hùng, hai lần huy chương bạc toán (1987, 1988); Đỗ Thị Thu Thảo, huy chương bạc (2008); Nguyễn Xuân Cương, huy chương đồng (2009). Trong các kỳ thi Olympic về hóa học Quốc tế, điển hình có Ngô Xuân Hoàng, huy chương vàng hóa học (2005); Nguyễn Văn Khiêm, huy chương bạc (2001); đạt huy chương đồng có Lê Thanh Tùng (2003), Mai Thu Cúc (2010), Bùi Hữu Tài (bằng khen, 2002). Trong kỳ thi Olympic vật lý Quốc tế, điển hình có Nghiêm Viết Nam, huy chương đồng (2002); Hoàng Trung Trí, huy chương đồng (2003); Phạm Thành Long, huy chương bạc (2009).

Trường trung cấp nghề Việt Nam-Canada. Phường Cộng Hòa, Thị xã Chí Linh, Tỉnh Hải Dương.

Trong các kỳ thì Cao đẳng và Đại học, cũng như các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia. Hải Dương luôn trong nhóm dẫn đầu của Việt Nam. Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia 2012, Hải Dương đứng thứ 5 cả nước (theo đơn vị tỉnh thành) về tổng số huy chương [14], trong đó có 6 giải nhất, đứng thứ hai cả nước chỉ sau Hà Nội (10 giải nhất).

Trên địa bàn Hải Dương có các trường Đại học và cao đẳng:

  1. Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương
  2. Cao đẳng Y tế Hải Dương
  3. Cao đẳng Nghề Hải Dương
  4. Cao đẳng Hải Dương
  5. Cao đẳng Du lịch và Thương mại
  6. Cao đẳng nghề Giao thông vận tải đường thủy 1
  7. Cao đẳng nghề Thương Mại và Công nghiệp
  8. Cao đẳng nghề LICOGI
  9. Đại học Hải Dương
  10. Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương
  11. Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Cơ sở 3 Hải Dương
  12. Đại học Thành Đông.
  13. Đại học Kinh tế Quốc dân - Cơ sở Hải Dương.
  14. Trường Đại học Sao Đỏ

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Bóng bàn[sửa | sửa mã nguồn]

Hải Dương được xem như là cái nôi lớn nhất đào tạo bóng bàn của cả nước.Bóng bàn Hải Dương có được rất nhiều thành công trong quá khứ, mà đỉnh cao là những tấm huy chương vàng danh giá ở nội dung đồng đội tại giải vô địch quốc gia. Trong một thập kỉ (từ năm 1990 đến 2000), những tay vợt như: Nguyễn Đức Long,Vũ Mạnh Cường, Đỗ Tuấn Sơn, Nguyễn Quý Tài, Cao Anh Tuấn… đã làm mưa làm gió trên các đấu trường quốc gia và làm nên thương hiệu bóng bàn Hải Dương, mà đỉnh điểm của sự thành công vào năm 2000. Vận động viên tiêu biểu nhất là kiện tướng bóng bàn Vũ Mạnh Cường sinh năm 1972 tại Hải Dương, bắt đầu chơi bóng bàn lúc 9 tuổi, giải nghệ năm 30 tuổi. Vũ Mạnh Cường từng bảy lần vô địch đơn nam quốc gia, ba lần vô địch SEA Games vào các năm: 1995 (vô địch đơn nam), 1999 (vô địch đôi nam nữ), 2001 (vô địch đơn nam). Năm 2002 anh về công tác tại Sở VH-TT&DL Hải Dương với vai trò huấn luyện viên và quản lý bộ môn bóng bàn. Năm 2008, anh chuyển qua làm huấn luyện viên cho CLB bóng bàn Hà Nội T&T. Từ năm 2008 đến nay, CLB bóng bàn Hà Nội T&T luôn đứng trong tốp 3 CLB hàng đầu, chỉ sau TP.HCM và Quân Đội. Trong hai năm 2012-2013, đội bóng bàn trẻ T&T liên tục vô địch toàn đoàn tại các giải trẻ quốc gia. Hiện đây là một trong những lò đào tạo VĐV bóng bàn hàng đầu cả nước, cung cấp nhiều VĐV cho các tuyến của đội tuyển bóng bàn quốc gia.[15]

Bóng đá[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ông Lê Thế Thọ Cầu thủ vàng của bóng đá Việt Nam 50 năm qua

Ngày sinh: 22-12-1941. Quê quán: Hải Dương Vị trí đá: Tiền vệ Sự nghiệp: 1959-1970. Năm 1959 gia nhập Trường huấn luyện kỹ thuật Trung tâm Thể dục Thể thao Trung ương. Năm 1960 cùng ĐTQG tham gia giải Việt- Trung- Triều- Mông tại Hà Nội. Năm 1961-1963 tham gia ĐTQG thi đấu Giải Ganefo (Lực lượng thể thao các nước mới trỗi dậy) tại Jakarta (Indonesia), Việt Nam xếp thứ tư bằng điểm đội Uruguay nhưng xếp sau vì thua tại bốc thăm. Năm 1964-1965, tham gia ĐTQG thi đấu và tập huấn tại Liên Xô, giải Tiền Ganefo bóng đá tại Bình Nhưỡng (CHDCND Triều Tiên), đội tuyển Việt Nam đoạt HCĐ. Năm 1966 tham gia ĐTQG thi đấu tại Liên Xô thắng Đội tuyển thanh niên Liên Xô 1-0. Tại Trung Quốc hoà Tuyển TQ 1 -1 và Giải Ganefo châu Á tại Phnompenh (Campuchia), tuyển Việt Nam đoạt HCĐ. Năm 1968, ĐTQG thi đấu và tập huấn tại Hungary và Liên Xô. Từ 2001 đến nay, là chuyên viên cao cấp kiêm trợ lý Bộ trưởng Chủ nhiệm UBTDTT Nguyễn Danh Thái[16]

Mạc Hồng Quân sinh ngày 1 tháng 1 năm 1992 tại Chí Linh, Hải Dương. Chiều cao 1,80 m Vị trí Tiền vệ, Tiền đạo. Được đào tạo và chơi bóng tại CLB Tachov Cộng hoà Séc. Năm 15 tuổi, chơi bóng cho Clb Sparta Prague. Tháng 6 năm 2012 khoác áo U-22 Việt Nam. Ngày 6 tháng 6, 2013 khoác áo U-23 Việt Nam. Ngày 16 tháng 1, 2013 khoác áo đội tuyển quốc gia Việt Nam và ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển quốc gia trước câu lạc bộ Hyundai Mipo Dolphin Hàn Quốc trên sân Hàng Đẫy.

Cầu thủ Nguyễn Văn Toàn số 9 trong đội tuyển U19 Việt Nam ghi hai bàn vào lưới U19 Thái lan tại Giải Vô địch U19 Đông Nam Á 2013[17]
  • Cầu thủ Nguyễn Xuân Thành

Sinh năm: 1985 quê quán huyện Tứ Kỳ Hải Dương Năm 1999: Tập trẻ ở Thể Công Năm 2003: Chuyển về HN.ACB Năm 2013: Chuyển về Thanh Hoá đạt Top 5 ở V-League. Thành tích: Vua phá lưới hạng Nhất 2010 với 13 bàn. Vị trí: Hậu vệ. Đội tuyển quốc gia: lần 1 khoác áo đội tuyển quốc gia trong đợt chuẩn bị cho AFF Cup 2010 dưới thời HLV Calisto. Lần 2 khoác áo đội tuyển quốc gia trong đợt chuẩn bị cho Asian Cup 2015 dưới thời HLV Nguyễn Văn Sỹ.[18]

Hải Dương từng là nơi phát hiện và đóng góp khá nhiều cầu thủ tài năng cho Học viện Bóng đá Hoàng Anh Gia Lai - Arsenal JMG. Danh sách các cầu thủ: Lê Văn Sơn Sinh ngày: 20 tháng 12 năm 1996 Xã Long Xuyên Huyện Kinh Môn – tỉnh Hải Dương Nguyễn Văn Toàn Sinh ngày: 12 tháng 04 năm 1996 Thạch Khôi – Thành phố Hải Dương Vũ Văn Thanh Sinh ngày: 14 tháng 04 năm 1996 Xã Tứ Cường Huyện Ninh Giang – tỉnh Hải Dương. Cả 3 cầu thủ hiện đang là thành viên U19 Việt Nam.

  • Bóng đá thiếu nhi

Hải Dương luôn trong top đứng đầu cả nước về đào tạo bóng đá thiếu nhi. Đội tuyển bóng đá nhi đồng Hải Dương từng giành 3 chức vô địch quốc gia vào các năm 2007, 2009 và 2013. Giành ngôi á quân vào các năm 2011, 2012.[19]

Đấu kiếm[sửa | sửa mã nguồn]

Đấu kiếm Hải Dương luôn nằm trong số 3 đội mạnh nhất toàn quốc (đứng sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh). Hải Dương luôn có những kiếm thủ tài năng như: Trần Thị Len, Lê Thị Bích, Ngô Thị Lựa, Đoàn Thị Yến, Bùi Thị Mai Hương, Nguyễn Đức Tài, Phạm Thị Ngọc Luyên, Nguyễn Thị Thúy...Trần Thị Len, Lê Thị Bích là lứa VĐV đầu tiên đã nhiều lần giành huy chương vàng (HCV) tại đấu trường SEA Games Năm 2012, tại giải vô địch toàn quốc giành 1 huy chương vàng (HCV), 3 huy chương bạc (HCB), 3 huy chương đồng (HCĐ); tại giải vô địch đấu kiếm trẻ toàn quốc đoạt 3 HCV, 2 HCB, 8 HCĐ và tại giải vô địch đấu kiếm Đông Nam Á giành 2 HCV và 3 HCĐ. Năm 2013, tại giải vô địch toàn quốc đấu kiếm Hải Dương tiếp tục đứng thứ 2 sau Hà Nội [20]

Bơi thuyền Rowing[sửa | sửa mã nguồn]

Hải Dương và Hà Nội hiện nay là hai trung tâm đua thuyền hàng đầu cả nước. Tại giải vô địch Rowing toàn quốc 2012 quy tụ 92 tay chèo nam, nữ xuất sắc đến từ 12 đoàn thuộc các tỉnh, thành phố: Đắk Lắk, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Quảng Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc và Hà Nội. Đoàn Hải Dương tiếp tục đứng thứ 2 sau Hà Nội [21]

Bắn súng[sửa | sửa mã nguồn]

Bắn súng là môn thể thao mũi nhọn của tỉnh Hải Dương. Hải Dương từng đào tạo và đóng góp rất nhiều vận động viên cho đội tuyển Bắn súng quốc gia. Tiêu biểu là VĐV Trần Quốc Cường. Tại Sea Games 26 (2011), VĐV Trần Quốc Cường đã giành 1 Huy chương Vàng môn súng ngắn tự chọn, 1 Huy chương Đồng súng ngắn hơi, qua đó đóng góp một phần thành tích đáng kể vào bảng tổng sắp bộ môn bắn súng của đoàn thể thao Việt Nam với 7 huy chương vàng, khẳng định vị trí số một của Việt Nam trên đấu trường Sea Games 26. Trước đó vào năm 2010, tại giải bắn súng thế giới (Bắc Kinh Trung Quốc), VĐV này tranh tài ở nội dung súng ngắn bắn chậm, cự li 50 mét và giành được 559 điểm, xếp thứ 4/58 VĐV tham gia, đây là lần đầu tiên một VĐV Việt Nam làm được điều này tại giải bắn súng thế giới.[22]

Cử tạ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Cử tạ Hải Dương luôn nằm trong top đầu cả nước. Hải Dương từng là nơi phát hiện và đào tạo nhiều lực sỹ cử tạ tiêu biểu. Trong đó nổi bật là Cô gái "vàng" của cử tạ Việt Nam Nguyễn Thị Thiết, sinh năm 1984, ở xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Thị Thiết đã gây bất ngờ trong làng cử tạ Việt Nam khi giành được 3 huy chương vàng tại Giải cử tạ toàn quốc năm 2001. Ngay lập tức, cô lọt vào đội tuyển cử tạ quốc gia và thành công lên tiếp đến với Thiết: 3 huy chương vàng tại Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ IV (năm 2002); 3 huy chương bạc SEA Games 22 (năm 2002) tại Việt Nam; huy chương đồng giải Vô địch châu Á (năm 2004); giành quyền tham dự Thế vận hội Athens Hy Lạp. Tại Giải cử tạ trẻ châu Á ở Chiang Mai (Thái Lan), Thiết xuất sắc giành liên tiếp 3 huy chương vàng và đoạt Cúp vận động viên thi đấu xuất sắc nhất giải. Tiếp đó, Thiết lại đoạt 3 huy chương vàng ở giải Vô địch cử tạ toàn quốc năm 2004, rồi 3 huy chương vàng giải Vô địch cử tạ toàn quốc năm 2005; 3 huy chương vàng giải Vô địch cử tạ Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ V năm 2006. Năm 2007, Thiết tiếp tục khẳng định bản lĩnh của mình khi đoạt 7 huy chương vàng tại các giải đấu trong và ngoài nước; đặc biệt là chiếc huy chương vàng tại SEA Games 24 tại Thái Lan. Năm 2008, cô lại giành 3 huy chương vàng tại giải Vô địch quốc gia; 3 huy chương bạc tại giải Vô địch châu Á và Hạng 5 tại Olympic Bắc Kinh (Trung Quốc)... Đặc biệt, tại Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VI vừa qua, Nguyễn Thị Thiết đã giành 3 huy chương vàng cá nhân và phá kỷ lục quốc gia. Với thành tích này, Thiết đã trở thành 1 trong 10 vận động viên tiêu biểu nhất của tỉnh Hải Dương năm 2010.[23]

Văn hoá, nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Hát Thành phố Hải Dương đường Hồng Quang Thành phố Hải Dương
  • Nhạc sỹ Phạm Tuyên cựu Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội. Ông sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, quê ở thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, Hải Hưng (nay là Hải Dương). Ông là con thứ 9 của nhà báo Phạm Quỳnh (1892-1945).[24]
  • Nhạc sỹ Đỗ Nhuận Tổng thư ký đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam khóa I và II từ 1958 đến 1983, một trong những nhạc sĩ tiên phong của âm nhạc cách mạng. Đỗ Nhuận còn là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết opera với vở Cô Sao, cũng là tác giả của bản Du kích Sông Thao nổi tiếng. Đỗ Nhuận quê ở thôn Hoạch Trạch xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, Hải Dương. Sinh ngày 10 tháng 12 năm 1922.[25]
  • Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm (tên khác là Nguyễn Hải Dương; sinh 15 tháng 4 năm 1943) là một nhà thơ, nhà chính trị Việt Nam. Ông là ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX; Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, cựu Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam.[26]
  • Nhà văn Thạch Lam (1910[1]-1942) là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông cũng là em ruột của 2 nhà văn khác nổi tiếng trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo. Ngoài bút danh Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ.Các tác phẩm: Gió đầu mùa (tập truyện ngắn, Nxb Đời nay, 1937) Nắng trong vườn (tập truyện ngắn, Nxb Đời nay, 1938) Ngày mới (truyện dài, Nxb Đời nay, 1939) Theo giòng (bình luận văn học, Nxb Đời nay, 1941) Sợi tóc (tập truyện ngắn, Nxb Đời nay, 1942) Hà Nội băm sáu phố phường (bút ký, Nxb Đời nay, 1943) Và hai quyển truyện viết cho thiếu nhi:Quyển sách, Hạt ngọc. Cả hai đều do Nxb Đời Nay ấn hành năm 1940.[27]
Phố ga Cẩm Giàng, bối cảnh trong nhiều truyện ngắn của Thạch Lam như: Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầu mùa...
  • Nghệ sĩ Nhân dân Trọng Khôi quê xã Kim Đồng, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tốt nghiệp khóa đầu tiên ĐH Sân khấu năm 1964, ông đầu quân cho Đoàn kịch Trung Ương, tiền thân Nhà hát kịch Việt Nam. Năm 1970, ông là Đội trưởng Đội Kịch nói Nhà hát kịch Việt Nam. Từ năm 1985-1989 ông đảm nhiệm vị trí Phó Giám đốc Nhà hát kịch Việt Nam, sau đó giữ chức Giám đốc nhà hát đến năm 2000. Từ năm 1999 đến 2009, ông là Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.[28]
  • Nhà thơ Trần Đăng Khoa (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958), quê làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông nguyên là Trưởng Ban Văn học Nghệ thuật, Giám đốc Hệ Phát thanh có hình VOVTV của Đài tiếng nói Việt Nam. Hiện nay, ông giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam.[29]
  • Nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân (sinh 1956) quê ở thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, Hải Dương, là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11, thuộc đoàn đại biểu Hà Tây. Ông là một nhạc sĩ nổi tiếng, hiện giữ chức Chủ tịch hội Nhạc sĩ Việt Nam, và là con trai của nhạc sỹ lừng danh Đỗ Nhuận. Hồng Quân có vợ là diễn viên Chiều Xuân và hai cô con gái là Hồng Khanh và Hồng Mi.

[30]

  • Ca sĩ Đăng Dương (sinh năm 1974) tại Gia Lộc,Hải Dương. Ông là một ca sĩ nổi tiếng trong dòng nhạc thính phòng và nhạc đỏ cùng với Trọng Tấn và Việt Hoàn.

[31]

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh viên đa khoa tỉnh Hải Dương Km 3 Nguyễn Lương Bằng Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
  1. Bệnh viên đa khoa tỉnh Hải Dương: Km 3 Nguyễn Lương Bằng- Thành phố Hải Dương
  2. Bệnh viện Quân y 7: Đường Tuệ Tĩnh- Thành phố Hải Dương
  3. Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng: Đường Trần Hưng Đạo- TP Hải Dương
  4. Bệnh viện thành phố Hải Dương: Đường Nguyễn Chí Thanh- Thành phố Hải Dương
  5. Bệnh viện Lao Hải Dương: Số 2 Phạm Hùng- Thành phố Hải Dương
  6. Bệnh viên Y học Dân tộc: Hải Tân- TP Hải Dương
  7. Bệnh viện Hòa Bình: Đường Phạm Xuân Huân- TP Hải Dương
  8. Bệnh viên Phong Chí Linh: Trại Trống- Hoàng Tiến- TX Chí Linh
  9. Bệnh viện Nhị Chiểu- Kinh Môn: Lỗ Sơn- Phú Thứ- Kinh Môn
  10. Bệnh viện huyện Nam Sách: La Văn Cầu- Nam Sách
  11. Bệnh viện huyện Thanh Hà: Thị trấn Thanh Hà- Hải Dương
  12. Bệnh viện Gia Lộc: Thị trấn Gia Lộc- Hải Dương
  13. Bệnh viện Thần kinh: Quán Nghiên- Gia Xuyên- Gia Lộc
  14. Bệnh viện huyện Ninh Giang: K6- Thị trấn Ninh Giang
  15. Bệnh viện huyện Cẩm Giàng: Tràng Kỹ- Tân Trường- Cẩm Giàng
  16. Bệnh viện huyện Tứ Kỳ: Đường Phan Bội Châu- Thị trấn Tứ Kỳ- Tứ Kỳ

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đài Trần Hưng đạo, xã An Sinh, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương

Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc: là một trong 23 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam. Quần thể di tích này thuộc địa bàn thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương. Nơi đây gồm quần thể các di tích lịch sử liên quan đến những chiến công lẫy lừng trong ba lần quân dân thời Trần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII và trong cuộc kháng chiến 10 năm của nghĩa quân Lam Sơn chống quân Minh ở thế kỷ XV. Đây là nơi gắn liền với thân thế, sự nghiệp của các vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo cùng với nhiều danh nhân văn hoá của dân tộc: Trần Nguyên Đán, Pháp Loa, Huyền Quang… Điểm nhấn của khu di tích này là chùa Côn Sơn và đền Kiếp Bạc

Ở Hải Dương có nhiều di tích là nơi thờ thánh Nguyễn Minh Không như: chùa Trông (Long Hưng - Ninh Giang); Đình Cao Dương (Đình Hói) ở làng Cao Dương xã Gia Khánh và Đình Hậu Bổng (Đình Bóng) tại thôn Hậu Bổng, xã Quang Minh, Gia Lộc; chùa Kính Chủ ở xã An Sinh, huyện Kim Môn. Lý Quốc Sư (1065 – 1141) là một vị cao tăng đứng đầu tổ chức phật giáo của triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Vì có nhiều công lớn chữa bệnh cho vua và nhân dân mà ông cùng với Trần Hưng Đạo, là những nhân vật lịch sử có thật, sau này được người Việt tôn sùng là đức thánh Nguyễn, đức thánh Trần. Trong dân gian, Nguyễn Minh Không còn được coi là một vị thánh trong tứ bất tử ở Việt Nam và ông tổ nghề đúc đồng. Ông được xem là vị thiền sư sáng lập nên nhiều ngôi chùa nhất ở Việt Nam.

Các di tích khác: Văn miếu Mao Điền, động Kính Chủ,...

Nguyên lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Thị Minh: hiện là Thứ trưởng Tổng Giám đốc Bảo hiềm Y tế Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài Chính, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương.
  • Nguyễn Thị Kim Ngân: Hiện là Ủy viện Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Quốc hội khóa XIII nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và xã hội, nguyên Bí thư tỉnh ủy Hải Dương
  • Nguyễn Đức Kiên nguyên Phó chủ tịch Quốc hội, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương.
  • Phạm Thọ: nguyên phó ban tổ chức trung ương
  • Nguyễn Văn Chiền: nguyên chủ nhiệm văn phòng Chủ tịch nước
  • Lê Truyền: nguyên Phó chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam
  • Đặng Bích Liên: Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Thể thao và Du lịch, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương
  • Nguyễn Trọng Thừa: Cục trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, nguyên Phó chủ tích thường trực Tỉnh Hải Dương.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2012 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 29 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ “Bao HA NOI MOI dien tu”. Báo Hànộimới. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ Quá trình hình thành và phát triển xứ Đông Nguồn: http://www.haiduong.gov.vn/ [[]][liên kết hỏng]
  4. ^ “Quyết định 58”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  5. ^ “Quyết định 70”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ “Nghị định 05”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  7. ^ “Nghị quyết chia và điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  8. ^ “Nghị định 11”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ “Nghị định 88”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  10. ^ “Nghị quyết 09/NQ”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  11. ^ Sân golf Ngôi sao Chí Linh - sân golf thách thức nhất Việt Nam:: Thể thao - Doanh nhân 360: Businessman 360: Khẳng định đẳng cấp: The Leading Class [[]][liên kết hỏng]
  12. ^ 32 tuổi được phong giáo sư [[]][liên kết hỏng]
  13. ^ Homepage của GS. Đinh Tiến Cường tại đại học Paris 6
  14. ^ “Hà Nội dẫn đầu kì thi HS giỏi quốc gia 2012”. Báo điện tử Dân Trí. 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  15. ^ “Sàn đấu mới của Vũ Mạnh Cường”. Tuổi Trẻ Online. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  16. ^ “Danh thủ Lê Thế Thọ được bầu chọn "Cầu thủ vàng Việt Nam"”. Báo điện tử Nhân Dân. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  17. ^ “U19 Việt Nam ngược dòng thắng U19 Thái Lan”. Người Lao Động. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  18. ^ “BONGDA+ Tuyen thu Nguyen Xuan Thanh: Doi bay gio moi dep!”. Báo Bóng đá. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  19. ^ “Giải vô địch bóng đá nhi đồng Việt Nam – Wikipedia tiếng Việt”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  20. ^ “Hải Dương xếp thứ 2 tại Giải vô địch đấu kiếm toàn quốc năm 2013Thể dục thể thao”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  21. ^ “Hà Nội nhất toàn đoàn Giải vô địch Rowing toàn quốc”. Báo Tin tức - Kênh thông tin CP do TTXVN phát hành. 12 tháng 9 năm 2012. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  22. ^ “Trần Quốc Cường xếp thứ 4 tại giải bắn súng thế giới”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  23. ^ “Tặng căn hộ cho cô gái "vàng" của cử tạ Việt Nam”. Thông tấn xã Việt Nam. 25 tháng 1 năm 2011. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  24. ^ “Phạm Tuyên – Wikipedia tiếng Việt”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  25. ^ “Đỗ Nhuận – Wikipedia tiếng Việt”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  26. ^ “Nguyễn Khoa Điềm – Wikipedia tiếng Việt”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  27. ^ “Thạch Lam – Wikipedia tiếng Việt”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  28. ^ sĩ Nhân dân-Trong-Khoi-tpp.html Nghệ sĩ Nhân dân Trọng Khôi [[]][liên kết hỏng]
  29. ^ “Trần Đăng Khoa (nhà thơ) – Wikipedia tiếng Việt”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  30. ^ “Đỗ Hồng Quân – Wikipedia tiếng Việt”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 
  31. ^ “Đăng Dương – Wikipedia tiếng Việt”. Truy cập 30 tháng 6 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ gió Bắc Giang Biểu đồ gió
Hưng Yên, Bắc Ninh B Hải Phòng, Quảng Ninh
T    tỉnh Hải Dương    Đ
N
Thái Bình
Enclave: {{{enclave}}}