Đắk Lắk

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đắk Lắk
Tỉnh
Logo Dak Lak.png
Biểu trưng tỉnh
Madrak02.JPG
Thác Đray K'nao, M'Drắk
Địa lý
Tọa độ: 12°45′59″B 108°19′31″Đ / 12,766268°B 108,325195°Đ / 12.766268; 108.325195Tọa độ: 12°45′59″B 108°19′31″Đ / 12,766268°B 108,325195°Đ / 12.766268; 108.325195
Diện tích 13.125,4 km²[1]
Dân số (2012)  
 Tổng cộng 1.796.700 người[1]
 Thành thị 432.500 người[2]
 Nông thôn 1.364.200 người[3]
 Mật độ 137 người/km²
Dân tộc Việt, Ê-đê, M'Nông, Nùng, Tày, Thái, Dao
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Tây Nguyên, Miền Trung
Tỉnh lỵ Thành phố Buôn Ma Thuột
 Chủ tịch UBND Hoàng Trọng Hải [4][5]
 Chủ tịch HĐND Niê Thuật (nhiệm kỳ VIII: 2011-2016)[6]
 Bí thư Tỉnh ủy Niê Thuật
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã, 13 huyện
Mã hành chính VN-33
Mã bưu chính 63xxxx
Mã điện thoại 500
Biển số xe 47
Website daklak.gov.vn

Đắk Lắk, Darlac hay Đắc Lắc (theo tiếng M'Nông: Đăk = nước; Lăk = hồ) là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, Việt Nam. Tỉnh lỵ của Đắk Lắk là thành phố Buôn Ma Thuột, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km. Tỉnh Đắk Lắk được tái lập vào ngày 26 tháng 11 năm 2003, trên cơ sở tách tỉnh Đăk Lăk thành hai tỉnh mới là Đăk LăkĐăk Nông[7]. Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28'57"- 108o59'37" độ kinh Đông và từ 12o9'45" - 13o25'06" độ vĩ Bắc[8]. Độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển. Phía Đông của Đắk Lắk giáp Phú YênKhánh Hoà, phía Nam giáp Lâm ĐồngĐắk Nông, phía Tây giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km[9], tỉnh Gia Lai nằm ở phía Bắc.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Lắk có địa hình có hướng thấp dần từ đông nam sang tây bắc. Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng. Vùng phía tây bắckhí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía đôngphía namkhí hậu mát mẻ, ôn hoà. thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưamùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió tây nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm. Riêng vùng phía đông do chịu ảnh hưởng của đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió đông bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng[10]. Lượng mưa trung bình nhiều năm toàn tỉnh đạt từ 1600–1800 mm.

Suối trong rừng Ea Sô

Rừng Đắk Lắkdiện tích và trữ lượng lớn nhất nước[9] với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm, nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị khoa học, phân bố trong điều kiện thuận lợi nên tái sinh rừng có mật độ khá lớn. Khoáng sản với trữ lượng khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản đã được xác định là sét cao lanh, sét gạch ngói, ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều loại khoáng sản khác như Vàng, phốt pho, than bùn, đá quý… có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh[11].

Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, tuy nhiên do địa hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô. Bên cạnh hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn tỉnh hiện nay còn có rất nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea sô[11]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đắk Lắk (còn ghi theo tiếng PhápDarlac) được thành lập theo nghị định ngày 22 tháng 11 năm 1904 của Toàn quyền Đông Dương và tách khỏi Lào, đặt dưới quyền cai trị của Khâm sứ Trung Kỳ. Trước đó, vào cuối thế kỷ 19, Darlac thuộc địa phận đại lý hành chính Kontum và bị Pháp nhập vào Lào.

Đến ngày 9 tháng 2 năm 1913 thì tỉnh này trở thành một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum được thành lập cùng ngày. Mãi đến ngày 2 tháng 7 năm 1923 tỉnh Đăk Lăk mới được thành lập lại. Lúc mới thành lập, Đắk Lắk chưa chia huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng (còn gọi là buôn), người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M'dhur có 120 làng, người M'Nông có 117 làng, người Xiêm có 1 làng. Năm 1931, trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, tỉnh Đắk Lắk được chia làm 5 quận gồm có Ban Mê Thuột, Buôn Hồ, Đăk Song, LăkM'Đrăk, dưới có 440 làng.

Ngày 15 tháng 4 năm 1950, Bảo Đại ban hành Dụ số 6 đặt Cao nguyên Trung phần, trong đó có Đắk Lắk, làm Hoàng triều Cương thổ, có quy chế cai trị riêng.

Quảng trường trung tâm ở Buôn Ma Thuột

Nghị định số 356-BNV/HC/NĐ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày 2 tháng 7 năm 1958 ấn định tỉnh Đắk Lắk (được ghi là Darlac) có 5 quận, 21 tổng và 77 xã. Trong đó, Quận Ban Mê Thuột có 4 tổng, Quận Lạc Thiện (đổi tên từ quận Lăk) có 7 tổng, Quận M'Đrak có 4 tổng, Quận Đak Song có 2 tổng và Quận Buôn Hồ có 4 tổng.

Ngày 23 tháng 1 năm 1959, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 24/NV, tách gần như toàn bộ quận Đak Song của tỉnh Darlac, lập ra tỉnh Quảng Đức. Như vậy tỉnh Darlac còn lại 4 quận. Sau đó quận M'Đrak lại bị xé lẻ, một phần nhập vào tỉnh Khánh Hòa. Tháng 12 năm 1960, Chính phủ cách mạng chính thức thành lập tỉnh Quảng Đức dựa trên sự phân chia ranh giới của địch, lấy mật danh là B4.

Ngày 20 tháng 12 năm 1963, lập thêm một quận mới tên là Phước An, quận lỵ đặt tại Phước Trạch, đến ngày 1 tháng 9 năm 1965 chuyển về Thuận Hiếu. Sau này lại bỏ cấp tổng, nên chỉ còn cấp quận (4 quận) và xã.

Tỉnh Đắk Lắk của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1976 hình thành từ hai tỉnh DarlacQuảng Đức, có diện tích lớn thứ hai Việt Nam sau tỉnh Gia Lai - Kon Tum, gồm thị xã Buôn Ma Thuột và 5 huyện là Krông Buk, Krông Pach (tức Krông Pak), Đăk Mil, Đăk NôngLăk. Tỉnh chỉ lớn nhất nước khi tỉnh Gia Lai - Kon Tum tách làm đôi, khi đó Đắk Lắk diện tích 19.800 km². Số huyện tăng dần cho đến 18 huyện.

Ngày 30 tháng 8 năm 1977, chia huyện Krông Búk thành 2 huyện: Krông BúkEa Súp; chia huyện Krông Pắk thành 2 huyện: Krông PắkM'Đrăk.[12]

Ngày 3 tháng 4 năm 1980, chia huyện Krông Búk thành 2 huyện: Krông Búk và Ea H'leo.[13]

Ngày 19 tháng 9 năm 1981, thành lập huyện Krông Ana trên cơ sở tách ra từ huyện Krông Pắk và thị xã Buôn Ma Thuột; chia huyện Krông Pắk thành 2 huyện: Krông Pắk và Krông Bông.[14]

Ngày 23 tháng 1 năm 1984, chia huyện Ea Súp thành 2 huyện: Ea SúpCư M'gar.[15]

Ngày 22 tháng 2 năm 1986, chia huyện Đắk Nông thành 2 huyện: Đắk NôngĐắk R'lấp.[16]

Ngày 13 tháng 9 năm 1986, thành lập huyện Ea Kar trên cơ sở tách ra từ 2 huyện Krông PắkM'Đrăk.[17]

Ngày 9 tháng 11 năm 1987, chia huyện Krông Búk thành 2 huyện: Krông BúkKrông Năng.

Ngày 19 tháng 6 năm 1990, thành lập huyện Cư Jút trên cơ sở tách ra từ huyện Đắk Milthị xã Buôn Ma Thuột.[18]

Ngày 21 tháng 1 năm 1995, chuyển thị xã Buôn Ma Thuột thành thành phố Buôn Ma Thuột.[19]

Ngày 7 tháng 10 năm 1995, chia huyện Ea Súp thành 2 huyện: Ea SúpBuôn Đôn.[20]

Ngày 21 tháng 6 năm 2001, thành lập huyện Đắk Song trên cơ sở tách ra từ 2 huyện Đắk NôngĐắk Mil.[21]

Trước khi chia tách, tỉnh Đắk Lắk có tỉnh lị là thành phố Buôn Ma Thuột và 18 huyện: Buôn Đôn, Cư Jút, Cư M'gar, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R'Lấp, Đắk Song, Ea H'leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Nô, Krông Pắk, Lắk, M'Đrắk.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH.11, tỉnh Đăk Lăk tách thành hai tỉnh mới là Đăk LăkĐăk Nông, huyện Đăk Song được chuyển sang tỉnh Đăk Nông quản lí[7], nên số huyện giảm xuống còn 13[22]

Ngày 27 tháng 8 năm 2007, chia huyện Krông Ana thành 2 huyện: Krông AnaCư Kuin.[23]

Ngày 23 tháng 12 năm 2008, thành lập thị xã Buôn Hồ trên cơ sở tách ra từ huyện Krông Búk.[24]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện. Trong đó có 184 đơn vị hành chính cấp , gồm có 152 , 20 phường và 12 thị trấn[25].

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Đắk Lắk[25][26][27]
Tên Dân số (người)2009 Năm thành lập
Thành phố
Buôn Ma Thuột 326.135 5 tháng 6 năm 1930
Thị xã
Buôn Hồ 96.685 23 tháng 12 năm 2008[28]
Huyện (13)
Ea Súp 58.579 30 tháng 8 năm 1977
Krông Bông 87.139 19 tháng 9 năm 1981
Krông Buk 57.387 1976
Krông Pak 198.009 1976
Tên Dân số (người)2009 Năm thành lập
Krông Năng 118.223 9 tháng 11 năm 1987
Krông Ana 81.010 19 tháng 9 năm 1981
M'Drăk 65.094 30 tháng 8 năm 1977
Lắk 59.954 1976
Ea Kar 141.331 13 tháng 9 năm 1986
Ea H'leo 120.968 3 tháng 4 năm 1980
Cư M'gar 163.600 23 tháng 1 năm 1984
Cư Kuin 99.551 27 tháng 08 năm 2007
Buôn Đôn 59.959 7 tháng 10 năm 1995
Voi và du khách trên Hồ Lắk

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế chủ đạo của Đăk Lăk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản. Tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Đắk Lắk xếp ở vị trí thứ 58/63 tỉnh thành.[29] Đắk Lắk là tỉnh có diện tíchsản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, với diện tích 182.343ha và sản lượng thu hoạch hàng năm đạt trên 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng cả nước[30]. Tỉnh cũng là nơi trồng bông, cacao, cao su, điều lớn của Việt Nam. Đồng thời, là nơi phát triển các loại cây ăn trái khác, như cây , sầu riêng, chôm chôm, xoài...

Năm 2010 tổng GDP ước đạt 12.810 tỷ đồng, tăng gấp 1,7 lần so năm 2005. Thu nhập bình quân đầu người đạt 14,2 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệpxây dựngdịch vụ[31].

Phấn đấu năm 2013, Tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt từ 11% trở lên, thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 28 triệu đồng, huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt 15.000 tỷ đồng, tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn khoảng 43.000 tỷ đồng và thu cân đối ngân sách Nhà nước đạt 4.200 tỷ đồng[32].

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 1.398.300
1996 1.501.800
1997 1.605.100
1998 1.703.100
1999 1.793.400
2000 1.860.900
2001 1.912.200
2002 1.954.500
2003 1.995.600
2004 1.635.600
2005 1.658.500
2006 1.677.800
2007 1.696.600
2008 1.715.100
2009 1.735.700
2010 1.754.400
2011 1.771.800
Nguồn:[33]
Nhà ga sân bay‎

Dân số & Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Đắk Lắk đạt gần 1.771.800 người, mật độ dân số đạt 135 người/km²[34] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 426.000 người[35], dân số sống tại nông thôn đạt 1.345.800 người[36]. Dân số nam đạt 894.200 người[37], trong khi đó nữ đạt 877.600 người[38]. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 12,9 ‰[39]

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Lắk có 13 Tôn giáo khác nhau chiếm 450.728 người. Trong đó, nhiều nhất là Công Giáo với 171.661 người, thứ hai là Đạo Tin Lành với 149.526 người, thứ ba là Phật Giáo với 125.698, thứ tư là Đạo Cao Đài có 3.572 người, cùng với các tôn giáo khác như Phật Giáo Hòa Hảo có 162 người, Hồi giáo có 65 người, Bửu sơn kỳ hương có 23 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 3 người, Bahá'í có 2 người, ít nhất là Minh Sư Đạo, Minh Lý ĐạoĐạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa mỗi đạo có 1 người[40]...

Bến nước Buôn K'Dung- Buôn Đôn

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh chiếm đông nhất với 1.161.533 người, thứ hai là Người Ê Đê có 298.534 người, thứ ba là Người Nùng có 71.461 người, thứ tư là Người Tày có 51.285 người. Cùng các dân tộc ít người khác như M'nông có 40.344 người, Người Mông có 22.760 người, Người Thái có 17.135 người, Người Mường có 15.510 người[40]...

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông có 52 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có 417 trường và 5 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 235 trường mẫu giáo[41]. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Đắk Lắk cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh[41].

Văn hóa & Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Lắk có bản sắc văn hoá đa dạng như các trường ca truyền miệng lâu đời Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu, như các ngôn ngữ của người Ê Đê, người M'Nông...như các đàn đá, đàn T'rưng, đàn k'lông pút... Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.

Ngã 6 Ban Mê.

Các lễ hội đáng chú ý gồm có Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêngLễ hội cà phê… được tổ chức đều đặn hàng năm như một truyền thống. Các Di tích lịch sử tại Đắk Lắk như Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Khu Biệt điện Bảo Đại, Toà Giám mục tại Đắk Lắk, Hang đá Đắk TurTháp Yang Prong...

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Du lịch Đắk Lắk

Du lịch Đắk Lắk đang có lợi thế với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hoá của nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, Thác Gia Long, cụm du lịch Buôn Đôn, Thác Krông Kmar, Diệu Thanh, Tiên Nữ… bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo[42]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đắk Lắk có Sân bay Buôn Ma Thuột tuyến từ Buôn Ma Thuột đến các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng. Ngoài ra, 14 tỉnh lộ với tổng chiều dài 460 km, có quốc lộ 14 chạy qua nối với thành phố Đà Nẵng qua các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và nối với Thành phố Hồ Chí Minh qua Bình Phước và Bình Dương...Song song với biên giới Campuchia có quốc lộ 14C. Quốc lộ 27 nối thành phố Buôn Ma Thuột với tỉnh Lâm Đồng. Quốc lộ 26 từ Đắk Lắk đi Tỉnh Khánh Hòa, nối với quốc lộ 1A tại thị trấn Ninh Hoà, huyện Ninh Hoà, Tỉnh Khánh Hòa.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2012 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 11 tháng 4 năm 2014. 
  2. ^ “Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. 
  3. ^ “Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. 
  4. ^ Đắk Lắk có Chủ tịch UBND mới Thế Thắng/VOV - Tây Nguyên. Cập nhật lúc: 15:17, 06/02/2013
  5. ^ “Ông Hoàng Trọng Hải được bầu làm Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc” (Thông cáo báo chí). báo Lao Động. Thứ tư 06/02/2013 10:44. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013. 
  6. ^ “Kỳ họp thứ nhất HĐND tỉnh Dak Lak khoá VIII, nhiệm kỳ 2011-2016: Ông Niê Thuật tái đắc cử Chủ tịch HĐND tỉnh, ông Lữ Ngọc Cư tái đắc cử Chủ tịch UBND tỉnh” (Thông cáo báo chí). Báo Dak Lak điện tử. Cập nhật lúc 14:22, Thứ Ba, 28/06/2011 (GMT+7). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2013. 
  7. ^ a ă Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH.11, tách tỉnh Đăk Lăk thành hai tỉnh mới là Đăk Lăk và Đăk Nông, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông.
  8. ^ Tỉnh Đắk Lắk nằm trên địa bàn Tây Nguyên, Cổng thông tin điện tử Tỉnh Đắk Lắk.
  9. ^ a ă Phía Tây Đắk Lắk giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  10. ^ Giới thiệu sơ lược về tỉnh Đắk Lắk, Website tỉnh Đắk Lắk.
  11. ^ a ă Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất nước với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  12. ^ Quyết định 230-CP năm 1977 về việc chia huyện Krông Buk thành huyện Krông Buk và huyện Ea Sup và chia huyện Krông Pắk thành huyện Krông Pắk và huyện M'Đrắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
  13. ^ Quyết định 110-CP năm 1980 về việc chia huyện Krông Buk thành hai huyện, huyện Krông Buk và huyện Ea H'Leo và thành lập một số xã mới của huyện Ea Súp thuộc tỉnh Đắk Lắk
  14. ^ Quyết định 75-HĐBT năm 1981 phân vạch địa giới của huyện và thị xã Buôn Ma Thuột thuộc tỉnh Đắk Lắk
  15. ^ Quyết định 15-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới huyện Ea Sup thuộc tỉnh Đắk Lắk
  16. ^ Quyết định 19-HĐBT năm 1986 về việc chia huyện Đăk Nông thành hai huyện Đăk Nông và huyện Đăk R'lấp thuộc tỉnh Đắk Lắk
  17. ^ Quyết định 108-HĐBT năm 1986 về việc thành lập huyện Ea Kar thuộc tỉnh Đắk Lắk
  18. ^ Quyết định 227-HĐBT năm 1990 thành lập huyện Cư Jút thuộc tỉnh Đắk Lắk
  19. ^ Nghị định 08/CP năm 1995 về việc thành lập thành phố Buôn Ma Thuột và điều chỉnh địa giới hành chính giữa thành phố với các huyện Cư Jút, Ea Súp, Krông Pắk thuộc tỉnh Đắk Lắk
  20. ^ Nghị định 61-CP năm 1995 về việc chia xã và thành lập huyện mới thuộc tỉnh Đắk Lắk
  21. ^ Nghị định 30/2001/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Đắk Nông và huyện Đắk Mil để thành lập huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Lắk
  22. ^ Ban hành Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản của Chính phủ và Văn phòng Chính phủ, Trang Khánh Hòa
  23. ^ Nghị định 137/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã thuộc các huyện: Krông Ana, Ea Kar, Krông Búk, M'Drắk, Ea H'Leo; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Ana để thành lập huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk
  24. ^ Nghị định 07/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Krông Búk, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Búk để thành lập thị xã Buôn Hồ và thành lập các phường trực thuộc thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk
  25. ^ a ă Đơn vị hành chính, Đất đai và Khí hậu Niên giám thống kê 2011, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
  26. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng Cục Thống kê Việt Nam
  27. ^ “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  28. ^ Thành lập theo quyết định 07/NĐ-CP của chính phủ
  29. ^ “PCI 2011: Lào Cai và Bắc Ninh 'vượt vũ môn' ngoạn mục”. Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012. 
  30. ^ Đắk Lắk là tỉnh có diện tích và sản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, Trang thông tin lễ hội cà phê.
  31. ^ Báo cáo chính trị đại hội cho biết, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh trong nhiệm kỳ qua đạt 12,1%., Báo điện tử của báo Nông thôn Ngày nay.
  32. ^ Năm 2013, Đắk Lắk phấn đấu thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 28 triệu đồng, Đài tiếng nói Việt Nam.
  33. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  34. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  35. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  36. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  37. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  38. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  39. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  40. ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
  41. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  42. ^ Tính đến ngày 31/12/2000, toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 2 di tích lịch sử văn hoá, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]