Gia Lai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gia Lai
Tỉnh
Logo Gia Lai.PNG
Biểu trưng
Đèo Mang Yang, Gia Lai.JPG
Đèo Mang Yang
Địa lý
Tọa độ: 13°54′17″B 108°10′47″Đ / 13,904742°B 108,179626°Đ / 13.904742; 108.179626Tọa độ: 13°54′17″B 108°10′47″Đ / 13,904742°B 108,179626°Đ / 13.904742; 108.179626
Diện tích 15.536,9 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 1.322.000 người[1]
 Mật độ 85 người/km²
Dân tộc Việt, Gia-rai, Ba Na, Xơ-đăng, Giẻ-triêng
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Tây Nguyên
Tỉnh lỵ Thành phố Pleiku
 Chủ tịch UBND Phạm Thế Dũng
 Chủ tịch HĐND Phạm Đình Thu
 Bí thư Tỉnh ủy Hà Sơn Nhin
Phân chia hành chính 1 thành phố, 2 thị xã, 14 huyện
Mã hành chính VN-30
Mã bưu chính 60xxxx
Mã điện thoại 59
Biển số xe 81
Website http://www.gialai.gov.vn/

Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở khu vực phía bắc cao nguyên Trung Bộ thuộc vùng Tây Nguyên Việt Nam. Tỉnh Gia Lai được tái lập vào ngày 12 tháng 8 năm 1991, Gia Lai - Kon Tum tách thành hai tỉnh là Gia Lai và Kon Tum.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao trung bình 700 - 800 mét so với mực nước biển[2]. Tỉnh Gia Lai trải dài từ 12°58'20" đến 14°36'30" vĩ bắc, từ 107°27'23" đến 108°54'40"kinh đông. Phía đông của tỉnh giáp với các tỉnh là Quảng Ngãi, Bình ĐịnhPhú Yên[3]. Phía tây giáp tỉnh Ratanakiri thuộc Campuchia, có đường biên giới chạy dài khoảng 90 km. Phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, và phía phía bắc của tỉnh giáp tỉnh Kon Tum[4].

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Lai nằm trên một phần của nền đá cổ rộng lớn, dày trên 4.000 m, thuộc Địa khối Kon Tum. Địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và nghiêng từ đông sang tây, với các đồi núi, cao nguyênthung lũng xen kẽ nhau khá phức tạp. Địa hình Gia Lai có thể chia thành 3 dạng chính là địa hình đồi núi, cao nguyênthung lũng[5]. Trong đó, Cao nguyên là dạng địa hình phổ biến và quan trọng của Gia Lai, với hai cao nguyênCao nguyên Kon Hà NừngCao nguyên Pleiku. Địa hình thứ hai là địa hình đồi núi, chiếm 2/5 diện tích tự nhiên toàn tỉnh[5], phần lớn nằm ở phía bắc, địa hình núi phân cách mạnh, bề mặt các dạng địa hình khác của Gia Lai như các cao nguyên, những thung lũng đồng bằng cũng đều rải rác có núi. Địa hình thứ ba là Các vùng trũng, những vùng này sớm được con người khai thác để sản xuất lương thực. Hầu hết các vùng trũng nằm ở phía đông của tỉnh. Ngoài ra đất đai Gia Lai được chia làm 26 loại khác nhau, gồm 7 nhóm chính[6].

Đường phố ở Pleiku, Gia Lai

Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độ ẩm, có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối. Khí hậu ở đây được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưamùa khô. Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm là 22 – 250C. Vùng vùng Đông Trường Sơn từ 1.200 – 1.750 mm, Tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm từ 2.200 – 2.500 mm. Khí hậu và thổ nhưỡng Gia Lai rất thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao[5].

Toàn tỉnh có 27 loại đất, được hình thành trên nhiều loại đá mẹ thuộc 7 nhóm chính. Tài nguyên khoáng sản là một tiềm năng kinh tế quan trọng của tỉnh Gia Lai, với nhiều khoáng sản, nổi bật nhất là vàng, nguồn vật liệu xây dựng, bôxit và đá quý[5].

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Dãy Trường Sơn Nam, Mang Yang, Gia Lai

Tỉnh Gia Lai bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 2 thị xã và 14 huyện, trong đó có 223 đơn vị cấp xã gồm 24 phường, 15 thị trấn và 184 xã[7].

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Gia Lai
Tên Dân số (người)2009 Hành chính
Thành phố
Pleiku 208.634 14 phường, 9 xã
Thị xã
An Khê 63.375 6 phường, 5 xã
Ayun Pa 34.890 4 phường, 4 xã
Huyện (14)
Chư Păh 67.315 2 thị trấn, 13 xã
Chư Prông 97.865 1 thị trấn, 19 xã
Chư Sê 94.389 1 thị trấn, 14 xã
Đắk Đoa 98.251 1 thị trấn, 16 xã
Tên Dân số (người)2009 Hành chính
Chư Pưh 54.890[8]. 1 thị trấn, 8 xã
Phú Thiện 70.881 1 thị trấn,10 xã
Mang Yang 53.160 1 thị trấn và 11 xã
Krông Pa 72.397 1 thị trấn và 13 xã
Kông Chro 42.635 1 thị trấn, 13 xã
K'Bang 61.682 1 thị trấn, 13 xã
Ia Pa 49.030 1 thị trấn, 9 xã
Ia Grai 88.613 1 thị trấn, 12 xã
Đức Cơ 62.031 1 thị trấn, 9 xã
Đak Pơ 38.017 1 thị trấn, 7 xã

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Gia Lai ngày nay xưa kia là địa bàn sinh sống lâu đời của các dân tộc Jrai, Bahnar có tập quán sống thành từng làng. Trước khi người Pháp đặt ách đô hộ lên Tây nguyên, các dân tộc Gia Lai đang ở giai đoạn cuối của xã hội nguyên thuỷ chuyển sang giai đoạn xã hội có giai cấp[9].

Từ những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ XIX, các giáo sĩ người Pháp bắt đầu truyền đạo ở khu vực cư trú của người Bahnar thuộc xã Hà Tây thuộc huyện Chư Pah và xã Hà Đông thuộc địa phận huyện Đak Đoa ngày nay. Lúc này người Pháp ngày càng tiến sâu vào Bắc Tây Nguyên, đồng thời tạo nên những xáo trộn mới bằng những chính sách chia để trị, dựa vào nhóm này để chống nhóm khác, chia rẽ Kinh - Thượng, chia rẽ các dân tộc trong tỉnh, trong khu vực với nhau.

Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Pháp đã từng bước thiết lập bộ máy cai trị trên đất Gia Lai. Sau nhiều lần thay đổi, sáp nhập, chia tách để thành lập các đơn vị hành chính trên vùng Tây Nguyên, ngày 24 tháng 5 năm 1932, theo Nghị định Toàn quyền Đông Dương lúc này tỉnh Pleiku được thành lập.

Đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, tỉnh PleikuThị xã Pleiku[10], huyện An Khê, huyện Plei kli, huyện Chư Ty và huyện Cheo Reo.

Sau năm 1945, chính quyền cách mạng gọi là tỉnh Gia Lai. Tháng 6 năm 1946, Pháp chiếm lại vùng đất Gia Lai và gọi tên đây là tỉnh Pleiku. Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1954, tỉnh Pleiku nói riêng, Tây Nguyên nói chung trải qua nhiều lần chủ thể cai quản theo các văn bản của chính quyền thực dân. Thông tin lịch sử tỉnh Gia Lai, Tỉnh Gia Lai.</ref>.

Tập tin:Chùa Minh Thành, Pleiku, Gia Lai.JPG
Chùa Minh Thành, Pleiku, Gia Lai

Tuy nhiên về phía chính quyền cách mạng, trong những năm kháng chiến chống Pháp, vẫn gọi là tỉnh Gia Lai, nhưng qua từng thời điểm khác nhau, tỉnh Gia Lai lại thuộc sự chỉ đạo trực tiếp của các cơ quan khác nhau trong khu vực, các huyện trong tỉnh cũng nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính.

Dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa thì tỉnh mang tên Pleiku với ba quận. Năm 1962 tách quận Cheo Reo lập tỉnh Phú Bổn nên Pleiku chỉ còn hai quận: Lệ Trung và Lệ Thanh. Năm 1965 thì đổi Lệ Thanh thành Thanh An.

Ngày 20 tháng 9 năm 1975, thực hiện theo Nghị quyết của Bộ Chính trị, hợp nhất hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum thành tỉnh mới là Gia Lai - Kon Tum.

Ngày 23 tháng 4 năm 1979, chia huyện Ayun Pa thành 2 huyện: Ayun PaKrông Pa.[11]

Ngày 17 tháng 8 năm 1981, thành lập huyện Chư Sê trên cơ sở tách ra từ 2 huyện Chư ProngMang Yang.[12]

Ngày 28 tháng 12 năm 1984, chia huyện An Khê thành 2 huyện: An KhêK'Bang.[13]

Ngày 30 tháng 5 năm 1988, chia tiếp huyện An Khê thành 2 huyện: An KhêKông Chro.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá VIII, Gia Lai - Kon Tum tách thành hai tỉnh là Gia Lai và Kon Tum[14].

Ngày 15 tháng 10 năm 1991, thành lập huyện Đức Cơ trên cơ sở tách ra từ 2 huyện Chư PahChư Prong.[15]

Ngày 11 tháng 11 năm 1996, chia huyện Chư Pah thành 2 huyện: Chư PahIa Grai.[16]

Ngày 21 tháng 8 năm 2000, chia huyện Mang Yang thành 2 huyện: Mang YangĐak Đoa.[17]

Ngày 18 tháng 12 năm 2002, chia huyện Ayun Pa thành 2 huyện: Ayun PaIa Pa.[18]

Ngày 9 tháng 12 năm 2003, chia huyện An Khê thành thị xã An Khê và huyện Đak Pơ.[19]

Ngày 26 tháng 4 năm 2007, chia huyện Ayun Pa thành thị xã Ayun Pa và huyện Phú Thiện.[20]

Ngày 27 tháng 8 năm 2009, chia huyện Chư Sê thành 2 huyện: Chư SêChư Pưh.[21]

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 850.700
1996 881.500
1997 912.800
1998 946.100
1999 981.500
2000 1.026.300
2001 1.065.600
2002 1.092.900
2003 1.119.100
2004 1.147.100
2005 1.174.600
2006 1.200.500
2007 1.225.500
2008 1.251.300
2009 1.281.000
2010 1.301.600
2011 1.322.000
Nguồn:[22]

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Gia Lai đạt gần 1.322.000 người, mật độ dân số đạt 85 người/km²[23] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 399.900 người[24], dân số sống tại nông thôn đạt 922.100 người[25]. Dân số nam đạt 671.200 người[26], trong khi đó nữ đạt 650.800 người[27]. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 17,2 ‰[28]

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Gia Lai có 38 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh chiếm nhiều nhất với 713.403 người, người Gia Rai có 372.302 người, người Ba Na có 150.416 người, người Tày có 10.107 người, người Nùng có 10.045 người, tiếp theo là người Mường có 6.133 người, người thái có 3.584 người, người Dao có 4.420 người, cùng các dân tộc ít người khác như Người Mông, người Hoa, người Ê Đê[29]...

Đèo An Khê, Gia Lai-Bình Định

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Toàn tỉnh Gia Lai có 10 Tôn giáo khác nhau chiếm 312.272 người, Trong đó, nhiều nhất là Công Giáo có 114.822 người, đạo Tin Lành có 110.114 người, xếp thứ ba là Phật giáo có 84.214 người, đạo Cao Đài có 2.971 người, cùng các đạo khác như Bahá'í có 59 người, Phật Giáo Hòa Hảo có 41 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 23 người, Minh Lý Đạo có 18 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 5 người, ít nhất là Hồi Giáo với 4 người [29].

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Lai có tiềm năng về thủy điện rất lớn với trữ năng lý thuyết khoảng 10,5 – 11 tỷ kW, trữ năng kinh tế kỹ thuật là 7,1 tỷ kW với công suất lắp máy 1.502 MWh[30]. Ngoài 4 công trình thuỷ điện lớn có công suất lắp máy 1.422 MW, còn có 85 công trình thuỷ điện nhỏ với công suất 80.200 kW phân bổ khá đều khắp, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất. Bên cạnh đó, công trình thuỷ điện Yaly với công suất 720 MW và sản lượng điện 3,68 tỷ kWh đã hoàn thành vào tháng 4/2002 có tác động lớn đến phát triển các ngành kinh tế của tỉnh, đảm bảo nhu cầu năng lượng cho toàn vùng. Thuỷ điện Sê San 3 với công suất thiết kế 273 MW, gồm 2 tổ máy có tổng công suất 260 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm 1,12 tỉ KWh điện, nằm trên phía hạ lưu của thủy điện Ia Ly[31]. Tổng trữ lượng nguồn nước mặt khoảng 24 tỷ m3. Đây chính là những tiềm năng lớn để công nghiệp điện năng được coi là công nghiệp mũi nhọn ở Gia Lai. Tỉnh Gia Lai hiện có 4 nhà máy thuỷ điện lớn có công suất lớn hơn 100MW, gồm có Yali, Kanak-An Khê, Sêsan 3, và Sêsan 4[32].

Trụ sở UBND huyện Đak Pơ

Tổng thu ngân sách từ sau giải phóng đến năm 1991 chỉ đạt 40 tỷ đồng, năm 2001 đạt 256 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt 2.300 tỷ đồng và năm 2011 đạt 3.200 tỷ đồng. Chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên rõ rệt, GDP bình quân đầu người năm 2011 đạt 19,5 triệu đồng, gấp 3,82 lần so với năm 2005, gấp 6,5 lần so với năm 2000[33].

Giai đoạn 6 tháng đầu năm 2012, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 4,38% so với cùng kỳ năm 2011, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,8% so với cùng kỳ, trong đó nông nghiệp tăng 3%, lâm nghiệp tăng 5,7% và thủy sản tăng 5,8%[34]. Trong khi đó, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,5%. Đáng chú ý một số ngành công nghiệp có mức tăng cao là đóng và sửa chữa tàu, chế biến bảo quản rau quả, sản xuất sản phẩm bơ sữa...Chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến 6 tháng chỉ tăng 3,6% so với cùng kỳ, thấp hơn nhiều so với mức 17,5% của năm ngoái. Chỉ số tồn kho của ngành này tăng 26%. Những ngành có chỉ số tồn kho tăng cao là sản xuất giấy và bao bì 130%, sản xuất xe có động cơ 116,7%, chế biến và bảo quản rau quả 113,3%[35]...

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông Gia Lai khá thuận lợi không những về đường bộ mà còn cả đường hành không. Tỉnh có Quốc lộ 14 nối các tỉnh Đắk Lắk, Kontum thông đến Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt tuyến đường Hồ Chí Minh đã rút ngắn khoảng cách từ Gia Lai đến các trung tâm kinh tế chính trị lớn của cả nước. Các tuyến Quốc lộ 19 xuống thành phố Quy Nhơn, thuộc Bình Định, Quốc lộ 25 đến Tuy Hoà, thuộc địa phận tỉnh Phú Yên. Ngoài ra, Sân bay Pleiku của Gia Lai, có đường bay nối Pleiku với các thành phố lớn là Đà Nẵng, Hà Nộithành phố Hồ Chí Minh.

Y tế & Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm gần đây hệ thống y tế Gia Lai từng bước được cải thiện và nâng lên về mặt chất lượng. Việc cung ứng các dịch vụ y tế được mở rộng, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số được khám chữa bệnh và hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng[34].

Theo số liệu thống kê từ Sở Y tế, tỉnh Gia Lai có 5 bệnh viện, 2 chi cục (là Dân số- Kế hoạch hóa gia đình và An toàn Vệ sinh Thực phẩm), 7 trung tâm y tế dự phòng, trường trung cấp y tế, trung tâm giám định sức khỏe và ban quản lý dự án đầu tư Chuyên ngành Y tế. Có 17 Phòng Y tế, 17 Trung tâm Y tế huyện, 17 Trung tâm Dân số- Kế hoạch hóa gia đình, 222 xã, phường, thị trấn có y tế hoạt động, trong đó có 208 trạm y tế xã và 14 trạm y tế trung tâm cấp xã[36].

Thị trấn Đak Đoa, Gia Lai

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Gia Lai có 530 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông có 39 trường, Trung học cơ sở có 188 trường, Tiểu học có 260 trường, trung học có 2 trường và 41 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 236 trường mẫu giáo[37]. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Gia Lai cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh[37].

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa Minh Thành

Tiềm năng du lịch của Gia Lai rất phong phú, đa dạng với núi rùng cao có nhiều cảnh quan tự nhiên và nhân tạo. Rừng nguyên sinh nơi đây có hệ thống động thực vật phong phú, nhiều ghềnh thác, suối, hồ như Biển Hồ là một thắng cảnh nổi tiếng, ngoài ra có chùa Minh Thành (Gia Lai). Nhiều đồi núi như cổng trời Mang Yang, đỉnh Hàm Rồng. Các cảnh quan nhân tạo có các rừng cao su, đồi chè, cà phê bạt ngàn. Kết hợp với tuyến đường rừng, có các tuyến dã ngoại bằng thuyền trên sông, cưỡi voi xuyên rừng,v.v…

Ngoài ra, Gia Lai còn có nền văn hoá lâu đời của đồng bào dân tộc, chủ yếu là dân tộc GiaraiBana thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc cụ..

Các nhạc cụ đặc trưng của các dân tộc thiểu số như Cồng chiêng, Đàn đá, Đàn K'ni, K'lông pút, Đàn Goong, T'rưng, Alal...Các lễ hội như Lễ hội đâm trâu, Lễ ăn cơm mới, Lễ bỏ mả..Ngoài ra, Tỉnh còn có các móm đặc sản như Rượu cần, Cơm cháy - Rượu nếp, Phở khô (Loại phở hai tô) và điêu khắc nổi tiếng là Tượng nhà mồ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ Vị trí địa lý - địa danh và địa giới hành chính tỉnh Gia Lai, Theo báo Gia Lai.
  3. ^ Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao trung bình 700 - 800 m so với mực nước biển, Website tỉnh Gia Lai.
  4. ^ Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở khu vực phía Bắc cao nguyên Trung Bộ, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  5. ^ a ă â b Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng từ Đông sang Tây, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  6. ^ Gia Lai nằm trên một phần của nền đá cổ rộng lớn, dày trên 4.000 m, thuộc Địa khối Kon Tum., Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Gia Lai.
  7. ^ Đơn vị hành chính, Đất đai và Khí hậu Niên giám thống kê 2011, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
  8. ^ Nghị quyết số 43/NQ-CP của Chính phủ , Cổng thông tin Chính Phủ.
  9. ^ Vùng đất tỉnh Gia Lai ngày nay là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc Jrai, Bahnar có tập quán sống thành từng làng., Theo Báo Gia Lai.
  10. ^ Thị xã Pleiku được thành lập ngày 3 tháng 12 năm 1929 theo Nghị định Khâm sứ Trung Kỳ
  11. ^ Quyết định 77-CP năm 1979 về việc thành lập và điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn thuộc các huyện Chư Prong, An Khê, Sa Thầy và Ayun Pa, tỉnh Gia Lai - Kon Tum
  12. ^ Quyết định 34-HĐBT năm 1981 về việc thành lập huyện Chư Sê thuộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum
  13. ^ Quyết định 181-HĐBT năm 1984 về việc điều chỉnh địa giới huyện Kon Plong và chia huyện An Khê thuộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum
  14. ^ Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá VIII, Gia Lai - Kon Tum tách thành hai tỉnh: Gia Lai và Kon Tum., UBND tỉnh Gia Lai.
  15. ^ Quyết định 315-HĐBT năm 1991 thành lập huyện mới Đức Cơ thuộc tỉnh Gia Lai
  16. ^ Nghị định 70/CP năm 1996 về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập một số xã, thị trấn và huyện Ia Grai thuộc tỉnh Gia Lai
  17. ^ Nghị định 37/2000/NĐ-CP về việc đổi tên xã, thị trấn, thành lập xã thuộc huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai và chia huyện Mang Yang thành hai huyện Đak Đoa và Mang Yang
  18. ^ Nghị định 104/2002/NĐ-CP về việc chia tách huyện Ayun Pa thành hai huyện Ia Pa và Ayun Pa, tỉnh Gia Lai
  19. ^ Nghị định 155/2003/NĐ-CP về việc thành lập thị xã An Khê và huyện Đak Pơ, thành lập xã Đak Pơ thuộc huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai
  20. ^ Nghị định 50/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Ayun Pa;thành lập thị xã Ayun Pa và huyện Phú Thiện;thành lập các phường Cheo Reo, Hòa Bình, Đoàn Kết, Sông Bờ
  21. ^ Nghị quyết số 43/NQ-CP về điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã thuộc huyện Chư Sê; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Chư Sê để thành lập huyện Chư Pưh thuộc tỉnh Gia Lai
  22. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  23. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  24. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  25. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  26. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  27. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  28. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  29. ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
  30. ^ điện ở Gia Lai và giấc mơ "bá chủ", Theo báo Gia Lai.
  31. ^ Thủy điện Sê San 3: Thêm một lần thử thách, Theo Báo Gia Lai.
  32. ^ Các nhà máy thuỷ điện lớn (>100MW) của Việt Nam, Hội đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam.
  33. ^ Gia Lai 80 năm xây dựng và phát triển, Theo Báo Gia Lai.
  34. ^ a ă Nâng cấp y tế Gia Lai, Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Tỉnh Gia Lai.
  35. ^ GDP 6 tháng đầu năm tăng 4,38%, Báo Gia Lai.
  36. ^ Y tế Gia Lai- Những bước tiến dài, Mạng thông tin ngành Y tế Tỉnh Gia Lai.
  37. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]