Đồng Nai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đồng Nai
Tỉnh
Logo Dong Nai.png
Biểu trưng
Một nhánh sông Đồng Nai chảy qua cù lao Phố.jpg
Địa lý
Tọa độ: 11°03′16″B 107°08′49″Đ / 11,05443°B 107,146912°Đ / 11.05443; 107.146912Tọa độ: 11°03′16″B 107°08′49″Đ / 11,05443°B 107,146912°Đ / 11.05443; 107.146912
Diện tích 5.907,2 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 2.665.100 người[1]
 Mật độ 451 người/km²
Dân tộc Việt, Hoa, Xtiêng, Chơ-ro, Chăm
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ Việt Nam
Tỉnh lỵ Thành phố Biên Hòa
 Chủ tịch UBND Đinh Quốc Thái
 Chủ tịch HĐND Trần Văn Tư
 Bí thư Tỉnh ủy Trần Đình Thành
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã, 9 huyện
Mã hành chính VN-39
Mã bưu chính 81xxxx
Mã điện thoại 61
Biển số xe 60, 39
Website Tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai là một tỉnh vùng miền Đông Nam Bộ nước Việt Nam. Tỉnh Đồng Nai cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km, cách Hà Nội 1.684 km theo đường quốc lộ 1A[2]. Tỉnh được xem là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước [3]. Đồng thời, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai.

Vị trí điạ lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm ở cực bắc miền Đông Nam Bộ, với diện tích tự nhiên là 5.907,2 km²[1]. Đồng Nai có tọa độ từ 10o30’03 đến 11o34’57’’B và từ 106o45’30 đến 107o35’00"Đ. Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng TàuThành phố Hồ Chí Minh, Phía Bắc giáp tỉnh Lâm ĐồngBình Dương[4]. Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, là cửa ngõ phía đông Thành phố Hồ Chí Minh và là một trung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam, nối Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộ vùng Đông Nam Bộ[5].

Một góc TX.Long Khánh

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằng phẳng. Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, Dạng địa hình núi thấp. Đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm. Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc nhỏ hơn 8o, đất đỏ hầu hết nhỏ hơn 15o. Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao. Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính, tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung gồm: các loại đất hình thành trên đá bazan, các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét, các loại đất hình thành trên phù sa mới. Trong tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm 49,1%, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 30,4%, diện tích đất chuyên dùng chiếm 13%, diện tích đất khu dân cư chiếm 2,1%, diện tích đất chưa sử dụng chiếm 5,4%[6].

Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau là mùa khômùa mưa. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11. Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12. Nhiệt độ trung bình năm 25 - 27oC, nhiệt độ cao nhất khoảng 20,5C, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%[6].

Rừng Đồng Nai có đặc trưng cơ bản của rừng nhiệt đới, có tài nguyên động, thực vật phong phú đa dạng, tiêu biểu là vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Tài nguyên khoáng sản khá phong phú về chủng loại như kim loại quý, kim loại màu, đá quý, nguyên liệu gốm sứ, vật liệu xây dựng, phụ gia xi măng, than bùn, nước khoáng và nước nóng[6]

Cầu xa lộ Biên Hòa bắc ngang sông Đồng Nai năm 1961

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử của Đồng Nai gắn liền với lịch sử của vùng đất Nam Bộ. Nước Đại Việt lúc bấy giờ chỉ từ ải Nam Quan đến vùng Bắc Đèo Ngang (Quảng Bình ngày nay). Việc mở rộng được bắt đầu khi có những giao tranh giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa láng giềng lúc bấy giờ.

Để mở rộng cõi bờ về phía Nam, nước Đại Việt lúc bấy giờ đã biết tổ chức một quân đội tốt, hùng hậu và có chiến lược nhu lẫn cương để thực hiện mưu đồ Nam tiến của mình.

Nước Việt Nam lúc bấy giờ xảy ra giao tranh giữa vua - Chúa TrịnhChúa Nguyễn, lịch sử vẫn gọi là thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, đây là cuộc phân tranh tạo ra tình trạng cát cứ trong lịch sử Việt Nam. Cuộc sống của người dân đói khổ và lâm vào lầm than. Điều này tạo ra một làn sóng di dân ồ ạt đầu tiên từ Bắc vào Nam, trong đó có làn sóng di dân của miền Thuận Quảng vào Đồng Nai tìm đất sinh sống và tái lập nghiệp.

Người Việt di cư đến đâu thì khai khẩn và phá hoang lấy đất canh tác đến đó tạo nên vùng đất trù phú. Ruộng lúa, hoa màu xanh tốt.

Năm 1679, nhà MinhTrung Quốc sụp đổ, Tổng binh Trần Thượng Xuyên trấn thủ các châu Cao, Lôi, Liêm không khuất phục nhà Thanh đã đem 50 chiến thuyền, 3.000 binh lính thân tín và gia quyến đến xin thuần phục chúa NguyễnThuận Hóa. Lúc bấy giờ, đứng đầu nhà Nguyễn là Chúa Nguyễn Phúc Chu đã thu nhận họ và cho vào khai khẩn, mở mang vùng đất Đông Phố (Cù lao Phố ngày nay). Họ biến Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai trở thành một thương cảng sầm uất và phát triển.

Năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Đồng Nai (lúc này, từ Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn của bây giờ), đặt vùng đất mới thành phủ Gia Định, chia làm 2 huyện: huyện Phước Long (Đồng Nai) dựng dinh Trấn Biên, huyện Tân Bình (Sài Gòn) dựng dinh Phiên Trấn. Ngoài ra, Nguyễn Hữu Cảnh còn cho lập bộ đinh, bộ điền, chiêu mộ những người có vật lực từ các vùng khác vào lập nghiệp và phát triển kinh tế.

Thị trấn Trảng Bom

Năm 1802, dinh Trấn Biên được vua Gia Long đổi thành trấn Biên Hòa, nhưng vẫn thuộc phủ Gia Định. Năm 1808, trấn Biên Hòa thuộc thành Gia Định, đặt Phước Long thành phủ, đặt ra các tổng Phước Chính, Phước An, Bình An, Long Thành làm huyện. Năm 1836, trấn Biên Hòa được vua Minh Mạng đổi thành tỉnh Biên Hoà. Năm 1837, lập thêm hai phủ Phước Tuy và các huyện Nghĩa An, Long Khánh, Phước Bình.

Vào năm 1840, đặt thêm bốn phủ là Tân Định, Tân Bình, Tân LợiTân Thuận. Năm 1851, Vua Tự Đức nhập hai huyện Phước BìnhLong Khánh vào các phủ Phước Long và Phước Tuy. Năm 1882, sau khi Hòa ước Nhâm Tuất được ký, lúc này triều đình nhà Nguyễn cắt đất giao 3 tỉnh Gia Định, Định TườngBiên Hoà cho Pháp. Sau đó, Pháp chia Biên Hòa thành ba tỉnh là Biên Hòa, Thủ Dầu MộtBà Rịa. Đến thời Việt Nam Cộng hòa, đất Đồng Nai được chia làm 3 tỉnh là Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy.

Đầu năm 1975, hợp nhất 3 tỉnh này thành lập tỉnh Đồng Nai, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Biên Hòa.

Năm 1976, Thị xã Biên Hòa được nâng cấp thành thành phố Biên Hòa - đô thị loại 3, trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ban đầu, tỉnh Đồng Nai có tỉnh lị là thành phố Biên Hòa, thị xã Vũng Tàu và 9 huyện: Châu Thành, Duyên Hải, Long Đất, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Xuyên Mộc.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978, chuyển huyện Duyên Hải (nay là huyện Cần Giờ) về thành phố Hồ Chí Minh quản lý theo nghị quyết của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI[7].

Ngày 30 tháng 5 năm 1979, tách thị xã Vũng Tàu để thành lập đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo[8].

Ngày 23 tháng 12 năm 1985, chuyển huyện Vĩnh Cửu thành thị xã Vĩnh An[9].

Ngày 10 tháng 4 năm 1991, chia huyện Xuân Lộc thành 2 huyện: Xuân LộcLong Khánh; chia huyện Tân Phú thành 2 huyện: Tân PhúĐịnh Quán.

Đầu năm 1991, tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính gồm: thành phố Biên Hòa (tỉnh lị), thị xã Vĩnh An và 9 huyện: Châu Thành, Định Quán, Long Đất, Long Khánh, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Xuân Lộc, Xuyên Mộc.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Đồng Nai để tái lập tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu[10]:

Năm 1993, thành phố Biên Hòa được công nhận là đô thị loại 2, trực thuộc tỉnh Đồng Nai.

Ngày 23 tháng 6 năm 1994, chia huyện Long Thành thành 2 huyện: Long ThànhNhơn Trạch[11].

Ngày 29 tháng 8 năm 1994, giải thể thị xã Vĩnh An để thành lập lại huyện Vĩnh Cửu.

Ngày 21 tháng 8 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2003/NĐ - CP, thành lập thị xã Long Khánh và các phường, xã trực thuộc thị xã Long Khánh, thành lập các huyện Cẩm Mỹ, Trảng Bom[12].

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 1 thị xã và 9 huyện. Trong đó có 8 thị trấn, 29 phường và 136 [13]

Ðơn vị hành chính cấp Huyện Thành phố
Biên Hòa
Thị xã
Long Khánh
Huyện
Long Thành
Huyện
Nhơn Trạch
Huyện
Trảng Bom
Huyện
Thống Nhất
Huyện
Vĩnh Cửu
Huyện
Cẩm Mỹ
Huyện
Xuân Lộc
Huyện
Tân Phú
Huyện
Định Quán
Diện tích (km²) 264,08 197,2 431,01 410,8 326,11 247,19 1.092,01 467,95 725,84 774 966,5
Dân số (người) 784.398 130.704 188.594[14] 158.256 245.729 146.932 124.912 137.870 205.547 155.926 191.340
Số đơn vị hành chính 23 phường, 7 xã 6 phường, 9 xã 1 thị trấn, 14 xã 12 xã 16 xã, 1 thị trấn 10 xã, 1 thị trấn 11 xã, 1 thị trấn 13 xã, 1 thị trấn 14 xã, 1 thị trấn 17 xã, 1 thị trấn 13 xã, 1 thị trấn
Năm thành lập 1976 2003 1994 1994 2003 2003 1994 2003 1991 1991 1991
Một góc thị trấn Gia Ray, Xuân Lộc

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2011, mặc dù kinh tế xã hội gặp nhiều khó khăn thách thức, tuy nhiên tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tăng vẫn 13,32% so với năm 2010, trong đó, dịch vụ tăng 14,9%, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,9% công nghiệp - xây dựng tăng 14,2%[15].

Quy mô GDP năm 2011 toàn tỉnh đạt 96.820 tỷ đồng[16], GDP bình quân đầu người đạt 36,6 triệu đồng, các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh hầu hết đều đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực, công nghiệp - xây dựng chiếm 57,3%, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 7,5%, dịch vụ chiếm 35,2%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 9,8 tỷ USD, tăng 30,3% so với cùng kỳ, thu ngân sách trên địa bàn đạt 22.641,2 tỷ đồng. đầu tư nước ngoài (FDI) đạt 900 triệu USD, vốn đầu tư trong nước đạt 15.000 tỷ đồng...Cũng trong năm 2011, toàn tỉnh có 5.200 lượt hộ nghèo được vay vốn với số tiền 67 tỷ đồng. Số hộ nghèo năm 2011 giảm 7.800 hộ, hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 5%[15].

Trong 9 tháng đầu năm 2012, theo đánh giá, hầu hết các lĩnh vực đều tăng chậm hơn so với cùng kỳ các năm trước do ảnh hưởng từ những khó khăn chung của nền kinh tế trong và ngoài nước, ngoại trừ lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài vẫn tăng mạnh[17]. Sản xuất công nghiệp trong 9 tháng tăng hơn 7% với 12 ngành công nghiệp tăng và 4 ngành giảm. Tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 11,87% so với cùng kỳ năm 2012, đạt trên 70% kế hoạch, trong đó lĩnh vực dịch vụ tăng cao nhất với 14,51% so với cùng kỳ. Ngoài ra, tổng mức bán lẻ tăng 20% so với 9 tháng đầu năm 2011, chỉ số giá tiêu dùng tăng 6.14% so với cuối năm 2011. Xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2012 đạt trên 7,9 tỷ USD, nhập khẩu đạt hơn 7,5 tỷ USD.[17].

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 1.844.800
1996 1.882.200
1997 1.920.000
1998 1.959.300
1999 1.999.500
2000 2.054.100
2001 2.093.700
2002 2.132.100
2003 2.176.100
2004 2.220.500
2005 2.263.800
2006 2.314.900
2007 2.372.600
2008 2.432.700
2009 2.499.700
2010 2.575.100
2011 2.665.100
Nguồn:[18]
Xuân Lộc, Đồng Nai, Việt Nam

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Đồng Nai đạt gần 2.665.100 người, mật độ dân số đạt 451 người/km²[19] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 897.600 người[20], dân số sống tại nông thôn đạt 1.767.500 người[21]. Dân số nam đạt 1.311.200 người[22], trong khi đó nữ đạt 1.353.900 người[23]. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 12,0 ‰[24]

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Toàn tỉnh Đồng Nai có 13 Tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Công giáo có 797.702 người, Phật Giáo có 339.623 người, Đạo Cao Đài có 13.978 người, các tôn giáo khác như Tin Lành có 11.577 người, Hồi giáo 2.868 người, Phật giáo hòa hảo có 1.514 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 118 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 36 người, Minh Sư Đạo có 39 người, Bahá'í có 63 người, Bà-la-môn có 15 người, Minh Lý Đạo có 12 người, còn lại là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương có 2 người[25].

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đồng Nai có đủ 54 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh có 2.311.315 người, người hoa có 95.162 người, người Nùng có 19.076 người, người Tày có 15.906 người, người Khơme có 7.059 người còn lại là những dân tộc khác như mường, Dao, Chăm, Thái...Ít nhất là người Si La và Ơ Đu chỉ có 1 người[25]...

Bình Sơn, Long Thành, Đồng Nai, Việt Nam

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Nai là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên. Các dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam đều đi qua Đồng Nai [26].

Tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua dài 87,5Km với 08 ga như: Biên Hoà, Hố Nai, Trảng Bom, Dầu Giây, Long Khánh, Bảo Chánh, Gia RayTrảng Táo. Tuyến đường sắt này là mạch máu giao thông quan trọng nối liền các tỉnh phía Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh[27]. Cảng hàng không quốc tế Long Thành là cửa ngõ đường hàng không vào Việt Nam cho khu vực Đông Nam Á và thế giới.[28] Về giao thông đường thủy thì trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 3 khu cảng gồm có Khu Cảng trên sông Đồng Nai, Khu Cảng trên sông Nhà Bè – Lòng Tàu, và Khu cảng trên sông Thị Vải. Trong đó Khu Cảng trên sông Đồng Nai gồm có các cảng là Cảng Đồng Nai, cảng SCTGAS-VN và cảng VTGAS (sử dụng bốc xếp hàng lỏng quy mô cho tàu 1000DWT), Cảng tổng hợp Phú Hữu II, Cảng tại khu vực Tam Phước, Tam An. Các cảng tại Khu Cảng trên sông Nhà BèLòng Tàu gồm có Cảng gỗ mảnh Phú Đông, Cảng xăng dầu Phước Khánh, ảng nhà máy đóng tàu 76, Cảng tổng hợp Phú Hữu 1, Cảng cụm Công nghiệp Vật liệu xây dựng Nhơn Trạch, Cảng nhà máy dầu nhờn Trâm Anh, Cảng VIKOWOCHIMEX, Cảng Sun Steel – China Himent, và Các cảng chuyên dùng khác. Các cảng Khu cảng trên sông Thị Vải gồm có Cảng Phước An, Cảng Phước Thái, Cảng Gò Dầu A, Cảng Gò Dầu B, Cảng Super Photphat Long Thành, Cảng nhà máy Unique Gas.

Y tế & Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đồng Nai có 529 trường học, trong đó có Trung học phổ thông có 48 trường, Trung học cơ sở có 167 trường, Tiểu học có 297 trường, trung học có 16 trường, có 1 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 263 trường mẫu giáo[29]. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Đồng Nai cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh[29].

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Nai là một trong những tỉnh có vị trí gần Thành phố Hồ Chí Minh nên có nhiều thuận lợi trong các lĩnh vực công nghệ khoa học, trong đó, mạng lưới y tế cũng rất phát triển. Cho đến nay, Đồng Nai đã thành lập được 11 bệnh viện tuyến huyện trên 11 huyện, thị xã và thành phố Biên Hòa. Ngoài ra, Đồng Nai còn có các bệnh viện lớn như: Bệnh viện Đa khoa khu vực Thống Nhất (Bệnh viện Thánh Tâm), bệnh viện Tâm thần Trung ương II (còn gọi là bệnh viện Biên Hòa), bệnh viện Đa khoa Đồng Nai, một bệnh viện đang được đầu tư lớn nhất khu vực [30], bệnh viện Nhi Đồng,bệnh viện Phổi tỉnh, bệnh viện Y học cổ truyền, bệnh viện 7B, bệnh viện da liễu tỉnh, và một số các cơ sở bệnh viện tư nhân, phòng khám đa khoa tư nhân khác trên địa bàn tỉnh: bệnh viện quốc tế phụ sản,bệnh viện Răng-Hàm-Mặt Việt Anh Đức,đặc biệt là Bệnh viện đa khoa Tâm Hồng Phước về phẫu thuật....bên cạnh đó còn có Hệ thống phòng khám và chăm sóc sức khỏe Quốc Tế Sỹ Mỹ đã phần nào đáp ứng được nhu cầu của người dân trong Tỉnh và các Tỉnh lân cận khám chữa bệnh mà các bệnh viện,phòng khám khác không đáp ứng được nhu cầu.

Văn Miếu Trấn Biên - di tích tiêu biểu ở Đồng Nai

Văn hóa & Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng: Văn miếu Trấn Biên (Biên Hòa), đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, khu du lịch Bửu Long, khu du lịch ven sông Đồng Nai, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bưởi Tân Triều, khu du lịch sinh thái Thác Mai - hồ nước nóng, Đảo Ó, chiến khu Đ, Văn miếu Trấn Biên, mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa, khu du lịch thác Giang Điền, khu du lịch Long Châu Viên (Xuân Tân, Long Khánh), khu du lịch Vườn Xoài, khu di tích cấp quốc gia - núi Chứa Chan (núi Gia Lào), Hồ Núi Le (Xuân Lộc).

Đồng Nai và Bình Dương là hai tỉnh miền Đông Nam Bộ có nghề nghiệp truyền thống nổi tiếng là gốm sứ [31]. Sản phẩm gốm sứ của Đồng Nai có nhiều loại và không giống như các sản phẩm gốm sứ truyền thống khác ở miền Bắc và miền Trung. Phương pháp nghệ thuật tạo hoa văn cho sản phẩm của gốm sứ Đồng Nai là kết hợp giữa khắc nét chìm và trổ thủng sản phẩm gốm rồi quét men nhưng không có sự phân biết nước men và màu ve.

Ngoài ra, Đồng Nai còn có nhiều nghề nghiệp tiểu thủ công nghiệp truyền thống như đan lát, mây tre lá nhờ nguồn tài nguyên là các rừng lá buông của địa phương.

Gia công đồ mỹ nghệ, làm các sản phẩm từ gỗ công nghệ, chế biến nông sản, sản xuất gạch ngói, đúc đồng, đúc gang... là những ngành nghề truyền thống nổi tiếng của Đồng Nai. Nắm bắt được thế mạnh này, Đồng Nai ra sức bảo vệ nghề truyền thống và thành lập các cụm công nghiệp nghề truyền thống, mở các lớp đào tạo nghề truyền thống là giải pháp then chốt và mới mẻ nhưng có tính cách lâu dài và là bước đi đúng đắn bảo vệ ngành nghề truyền thống trước sức ép phát triển của quá trình đô thị hóa, hội nhập kinh tế và đầu tư nước ngoài cho các ngành công nghiệp và dịch vụ hiện đại [32]

Tỉnh, thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ Thành phố Biên Hòa cách Tp. Hồ Chí Minh 30km, cách Hà Nội 1.684km theo đường quốc lộ 1A, Website Du Lịch Toàn Cầu.
  3. ^ “Vùng kinh tế Đông Nam Bộ”. Tintuc.xalo.vn. 29 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  4. ^ Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuộc Đông Nam Bộ,, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  5. ^ Tỉnh Đồng Nai nằm ở cực bắc miền Đông Nam Bộ, có toạ độ địa lý từ 10o30’03 đến 11o34’57’’vĩ độ Bắc và từ 106o45’30 đến 107o35’00 kinh độ Đông., Cổng thông tin tỉnh Đồng Nai.
  6. ^ a ă â Nhiệt độ trung bình năm 25 – 270C, nhiệt độ cao nhất khoảng 20,50C, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%., Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  7. ^ Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Hà Sơn Bình, Vĩnh Phú, Cao Lạng, Bắc Thái, Quảng Ninh và Đồng Nai do Quốc hội ban hành
  8. ^ Nghị quyết về việc thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
  9. ^ Quyết định 284-HĐBT năm 1985 về việc thành lập thị xã Vĩnh An thuộc tỉnh Đồng Nai
  10. ^ Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hành
  11. ^ Nghị định 51-CP năm 1994 về việc điều chỉnh địa giới huyện, xã thuộc tỉnh Đồng Nai
  12. ^ Nghị định số 97/2003/NĐ-CP của Chính phủ: Nghị định thành lập thị xã Long Khánh và các phường, xã trực thuộc; thành lập các huyện Cẩm Mỹ, Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  13. ^ Đơn vị hành chính, Đất đai và Khí hậu Niên giám thống kê 2011, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
  14. ^ “Nghị quyết số 05/NQ-CP của Chính phủ”. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2014. 
  15. ^ a ă Năm 2012, Đồng Nai phấn đấu tăng trưởng 12-13%, Theo trang CaeF.
  16. ^ Ông Nguyễn Thành Trí, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai cho biết
  17. ^ a ă Tăng trưởng GDP 9 tháng đạt 11,87%, Theo Báo Đồng Nai.
  18. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  19. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  20. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  21. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  22. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  23. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  24. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  25. ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
  26. ^ “Dự án đường Cao tốc Dầu Giây - Long Thành - thành phố Hồ Chí Minh”. Dongnai.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  27. ^ “Dự án và đường sắt Đồng Nai trên trang web sở GTVT Đồng Nai”. Dongnai.gov.vn. 28 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  28. ^ “Dự án Sân bay Long Thành trên trang web Sở GTVT Đồng Nai”. Dongnai.gov.vn. 28 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  29. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  30. ^ “Bệnh viện khách sạn Đa khoa đồng nai hiện đại”. Dongnai.gov.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  31. ^ “Gốm sứ truyền thống Bình Dương và Đồng Nai”. Baodongnai.com.vn. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 
  32. ^ “Cụm công nghiệp nghề truyền thống của Đồng Nai”. Dongnai.gov.vn. 28 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]