Nguyễn Phúc Nguyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chúa Sãi
Sãi vương (chi tiết...)
Chúa Nguyễn
Trị vì 1614 - 1635
Tiền nhiệm Nguyễn Hoàng
Kế nhiệm Nguyễn Phúc Lan
Thông tin chung
Thê thiếp Mạc Thị Giai
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Nguyên
Tước vị
Thụy hiệu Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn Hoàng Đế
Ngắn: Hiếu Văn hoàng đế
Miếu hiệu Hy Tông
Gia tộc Họ Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Hoàng
Thân mẫu Nguyễn thị phu nhân
Sinh 1563
Mất 1635
Đàng Trong, Việt Nam

Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên (chữ Hán: 阮福源; 15631635) là vị chúa Nguyễn thứ hai của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam (ở ngôi từ 1614 đến 1635) sau chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Trong thời gian ở ngôi chúa, ông đã xây dựng một vương triều độc lập ở Đàng Trong, từng bước ly khai khỏi chính quyền vua Lê - chúa TrịnhĐàng Ngoài.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ sáu của chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525-1613) và một bà vợ họ Nguyễn. Ông sinh ngày 28 tháng 7 năm Quý Hợi, tức ngày 16 tháng 8 năm 1563.

Nguyễn Phúc Nguyên là người đầu tiên trong dòng dõi chúa Nguyễn mang họ kép Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mang thai, thân mẫu ông chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ “Phúc”. Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là “Phúc”[1]. Nhưng bà nói rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên.[1]

Trong các con của Nguyễn Hoàng, người con đầu là Nguyễn Hà, con thứ là Nguyễn Hán, con thứ ba là Nguyễn Diễn và con thứ tư là Nguyễn Thành đều đã mất sớm; người con thứ năm là Nguyễn Hải ở lại Bắc Hà làm con tin, chỉ còn Nguyễn Phúc Nguyên là người đủ khả năng và điều kiện để kế nghiệp cha.

Năm 1585, khi mới 22 tuổi, Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên đánh tan hai chiến thuyền của Nhật Bản đánh phá ở Cửa Việt. Chúa Tiên vui mừng khen rằng:

Con ta thực là anh kiệt.[2]

Năm Nhâm Dần (1602), Nguyễn Phúc Nguyên được cử đến trấn thủ dinh Quảng Nam.[2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm Quý Sửu (1613), chúa Tiên Nguyễn Hoàng mất, các quan vâng di chiếu tôn Phúc Nguyên làm Thống lãnh Thuỷ bộ Chư dinh kiêm Tổng Nội ngoại Bình chương Quân quốc Trọng sự Thái bảo Thụy Quận công.[2] Bấy giờ ông đã 51 tuổi. Ông còn được vua Lê Kính Tông (1599 - 1619) sắc phong làm trấn thủ hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam gia hàm Thái bảo, tước Quận công.[2]

Nguyễn Phúc Nguyên được dân chúng gọi là chúa Sãi, chúa Bụt hay Phật chúa.

Sau khi nối ngôi, ông chăm lo chính sự, thu dụng nhân tài. Trong các năm 16141615 ông tổ chức lại việc cai trị, đặt ra tam ti và các chức lệnh sử để trông coi mọi việc, định qui chế các chức vụ ở phủ, huyện, phân chia ruộng đấtthôn .[2]

Năm 1626, Nguyễn Phúc Nguyên cho dời cung phủ về xã Phúc Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.[2]

Được sự tiến cử của Khám lý Trần Đức Hòa, Phúc Nguyên đã thu dụng Đào Duy Từ (1572 - 1634). Nhờ có sự giúp sức của Đào Duy Từ, ông đã xây Lũy Thầy, gây dựng chính quyền độc lập với Đàng Ngoài.

Chiến tranh với quân Trịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chiến đầu tiên 1627[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1627, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng đem 20 vạn đại quân thủy bộ vào nam, cùng với các tướng Nguyễn Khải, Lê Khuê chia làm hai đạo tiến vào, hội binh ở cửa Nhật Lệ. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cử các tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Vệ và Nguyễn Phúc Trung đón đánh.

Quân Trịnh chủ động tấn công nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn. Phía Nguyễn có lợi thế là đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên làm quân Trịnh sợ chạy dạt. Hai tướng Trịnh là Nguyễn Khải và Lê Khuê đều thua chạy.

Trong lúc hai bên tiếp tục giằng co thì tướng Nguyễn Hữu Dật phao tin ở miền Bắc, Trịnh Gia và Trịnh Nhạc mưu phản. Chúa Trịnh Tráng nghi ngờ vội rút quân về bắc.

Năm 1630 Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc cho vua Lê - chúa Trịnh.[3]

Cuộc chiến thứ hai 1633[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Trịnh thu quân, Nguyễn Phúc Nguyên theo kế của Đào Duy Từ gấp rút xây lũy Trường Dục (lũy Thầy) để phòng thủ.

Năm 1631 con trưởng của Sãi vương là Nguyễn Phúc Kỳ qua đời, con thứ hai là Nguyễn Phúc Lan được làm Thế tử, con thứ tư là Nguyễn Phúc Anh ra thay Kỳ trấn giữ Quảng Nam. Anh bất mãn vì không được lập làm thế tử, cho nên mưu thông đồng với chúa Trịnh, bèn viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng.

Năm 1633 Thanh Đô Vương khởi binh nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ như trước. Sãi vương cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến làm tướng ra đánh. Trịnh Tráng đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Phúc Anh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy. Thanh Đô Vương rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính.

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tân Dậu (1620) quân Man thuộc Ai Lao cướp bóc ở biên thùy, Sãi vương sai quân đánh bắt, nhưng tha cho về nên làm người Man cảm phục,[2] từ đấy họ không quấy nhiễu nữa.[2]

Về cuộc Nam tiến, Nguyễn Phúc Nguyên dùng chính sách hoà bình với Chăm PaChân Lạp (Campuchia). Năm 1620, ông chấp nhận lời cầu hôn của quốc vương Chân Lạp là Chey Chetta II, gả con gái là Ngọc Vạn cho Chey Chettha. Theo ông Christoforo Borri, Chey Chetta đã xin chúa viện trợ vũ khí và quân đội để chống lại sự đe dọa của Xiêm La (Thái Lan). Trên thực tế thì Nguyễn Phúc Nguyên đã chuẩn bị vũ khí và mộ binh giúp vua Chân Lạp, cung cấp cho ông này thuyền chiến và quân binh để cầm cự chống Xiêm.

Nhờ có sự giúp đỡ hiệu quả của Đàng Trong mà Chey Chetta đã tập tan nhiều cuộc xâm lược của quân Xiêm, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và nâng cao vị thế của Chân Lạp trong khu vực.

Năm 1623, Nguyễn Phúc Nguyên chủ động đặt ra và thương lượng thành công với Chey Chettha II, lập 2 thương điểm (đồn thu thuế) là Kas Krobei bên bờ sông Sài Gòn (trước gọi là sông Bến Nghé) và Brai Kor trên bờ rạch Bến Nghé hay kênh Tàu Hủ (gọi là rạch Sài Gòn - khu Chợ Lớn từ năm 1859), thuộc địa phận thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, để tiến hành thu thuế.

Năm 1631, chúa gả con gái là Ngọc Hoa (có sách gọi là Ngọc Khoa) cho vua Chăm Pa là Po Rome. Quan hệ Việt - Chiêm diễn ra tốt đẹp.[4]

Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên qua đời năm 1635, hưởng thọ 73 tuổi. Con trai ông là Nguyễn Phúc Lan lên kế nghiệp, tức Thượng vương.

Nhà Nguyễn sau này đã truy phong ông miếu hiệuHy Tông, thụy là Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn hoàng đế.[2]

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên có 11 công tử và 4 công nữ:[2]

Công tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Nguyễn Phúc Kỳ
  • 2. Nguyễn Phúc Lan
  • 3. Nguyễn Phúc Anh
  • 4. Nguyễn Phúc Trung
  • 5. Nguyễn Phúc An
  • 6. Nguyễn Phúc Vĩnh
  • 7. Nguyễn Phúc Lộc
  • 8. Nguyễn Phúc Tứ
  • 9. Nguyễn Phúc Thiệu
  • 10. Nguyễn Phúc Vinh
  • 11. Nguyễn Phúc Đôn

Công nữ[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Nguyễn Phúc Ngọc Liên: Tục gọi bà là Quận Thanh, bà hạ giá lấy Trấn Biên dinh Lưu thủ Phó tướng Thanh Lộc hầu Mạc Cảnh Vinh (Nguyễn Phước vinh), con trai Khai quốc công thần Mạc Cảnh Huống, hậu duệ của Mạc Đăng Dung, ông và bà lập ra hệ tính Nguyễn Hữu gốc Mạc, con cháu nay đổi họ Nguyễn Trường nhập tịch ở Quảng Nam. Ông bà sinh 1 con trai là Đội trưởng Toàn Trung hầu Nguyễn Phước Tao.
  • 2. Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (Tống Sơn quận chúa thụy Từ Hoan pháp hiệu Diệu Đức).
  • 3. Nguyễn Phúc Ngọc Khoa
  • 4. Nguyễn Phúc Ngọc Đỉnh (1608-1684): Bà hạ giá lấy Nghĩa quận công Nguyễn Cửu Kiều (1599-1656), con trai của Thượng tướng Nguyễn Quảng triều hậu Lê, bà sinh 5 con trai: 1.Vỵ Xuyên hầu Nguyễn Cửu Thiên, 2.Duyên Lộc hầu Nguyễn Cửu Duyên, 3.Trấn quận công Nguyễn Cửu Ứng, 4.Dực Đức hầu Nguyễn Cửu Kế, 5.Cẩm Long hầu Nguyễn Cửu Thân. Khi mất bà được ban thụy là Từ Thục. Ông và bà lập ra hệ tính Nguyễn Cửu.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Nguyên là vị chúa Nguyễn thứ nhì trị vì miền Nam. Ông là vị chúa đầu tiên xây dựng cơ nghiệp nhà Nguyễn với ý chí cương quyết, tạo nên một xứ Đàng Trong độc lập, tự chủ. Ông đã chỉnh đốn việc cai trị, củng cố quốc phòng, biết dùng người tài để chăm lo việc nước nên nhân dân được an cư lạc nghiệp. Ngoài ra, ông còn đẩy lui được các cuộc tấn công của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.[2]

GS.TSKH Vũ Minh Giang nhận định:

“Có thể nói việc Nguyễn Phúc Nguyên tìm mọi cách tách Thuận Quảng ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền Lê - Trịnh không phải chỉ là hành động, cát cứ phong kiến đơn thuần vì lợi ích của dòng họ Nguyễn. Nó còn phản ánh một ước nguyện muốn thực thi những chính sách cai trị khác với đường lối chính trị của Đàng Ngoài lúc đó đang theo xu hướng hoài cổ rập khuôn thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặc khách quan việc làm của Nguyễn Phúc Nguyên có lợi thế cho xu hướng phát triển của lịch sử dân tộc.”[5]

Chú giải và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Thi Long 1998, tr. 22
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h Gia tộc Nguyễn Phước 2006
  3. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, T.1, bản dịch đã dẫn, tr. 45-46
  4. ^ Nhóm Nhân văn trẻ, Hỏi đáp Lịch sử Việt nam, tr. 188, tập 3, NXB Trẻ, 2007.
  5. ^ Vũ Minh Giang: Đào Duy Từ đã chọn Nguyễn Phúc Nguyên để phò giúp, trong Đào Duy Từ (1572-1634) Thân thế và sự nghiệp, Thanh Hóa, 1993, tr. 153

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 1, bản dịch Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội, 2002
  • Tôn Thất Bình (2006). Kể Chuyện Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn, Việt Nam: NXB Trẻ
  • Bích Ngọc (3/2009). Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên - Kể chuyện lịch sử Việt Nam, Việt Nam: NXB Văn hóa Thông tin

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
Sãi vương
1613-1635
Kế nhiệm:
Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan

{{Navbox |name = Chúa Nguyễn |title = Chúa Nguyễn |state = collapsed |titlestyle = background:#F0E68C; |groupstyle = background:#F0E68C; |liststyle = text-align:center;

|list1 = Nguyễn Hoàng  · Nguyễn Phúc Nguyên  · Nguyễn Phúc Lan  · Nguyễn Phúc Tần  · Nguyễn Phúc Thái  · Nguyễn Phúc Chu  · [[Nguyễn Phúc Chú\\\Nguyễn Phúc Thụ  · Nguyễn Phúc Khoát  · Nguyễn Phúc Thuần  ·


Vua Việt Nam  · Hùng Vương · An Dương Vương · Trưng Vương  · Bắc thuộc  · Nhà Tiền Lý  · Tự chủ  · Nhà Ngô  · Nhà Đinh  · Nhà Tiền Lê  · Nhà Lý  · Nhà Trần  · Nhà Hồ  · Nhà Hậu Lê  · Nhà Mạc  · Chúa Trịnh  · Chúa Nguyễn  · Nhà Tây Sơn  · Nhà Nguyễn }}