Nguyễn Phúc Chú

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Túc Tông
阮肅宗
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Chúa Nguyễn
Tại vị 1725 - 1738
Tiền nhiệm Nguyễn Phúc Chu
Kế nhiệm Nguyễn Phúc Khoát
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên húy Nguyễn Phúc Chú hay Trú hoặc Thụ
Tước vị
Thụy hiệu Tuyên Quang Thiệu Liệt Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kinh Văn Vĩ Vũ Hiếu Ninh Hoàng Đế
宣光紹烈濬哲靜淵經文緯武孝寧皇帝
Ngắn: Hiếu Ninh hoàng đế
(孝寧皇帝)
Miếu hiệu Túc Tông (肅宗)
Hoàng tộc Chúa Nguyễn
Thân phụ Nguyễn Phúc Chu
Thân mẫu Tống Thị Được
Sinh 14 tháng 1, 1697[1][2]</ref>
Mất 7 tháng 6, 1738[1]
An táng Trường Phong lăng (長豐陵)

Nguyễn Phúc Chú[3] (chữ Hán: 阮福澍, 14 tháng 1, 1697 - 7 tháng 6, 1738), còn gọi là Nguyễn Túc Tông (阮肅宗), là vị chúa Nguyễn thứ 7 của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ năm 1725 đến năm 1738, tổng cộng 13 năm.

Đương thời ông nhận tước Đỉnh Quốc công (鼎國公), người dân trong vùng gọi là Chúa Ninh (主寧). Ông được đánh giá là người đã có công trong việc thiết lập đơn vị hành chính mới, giữ gìn và mở mang vùng đồng bằng sông Cửu Long[4].

Năm 1806, Nguyễn Thế Tổ Gia Long hoàng đế truy tôn miếu hiệu cho ông là Túc Tông (肅宗), thụy hiệuTuyên Quang Thiệu Liệt Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kinh Văn Vĩ Vũ Hiếu Ninh Hoàng Đế (宣光紹烈濬哲靜淵經文緯武孝寧皇帝), đưa long vị của ông cùng Hoàng hậu vào thờ tại Thái Miếu, án thứ ba bên phải [5].

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Phúc Chú là con trai trưởng của chúa Minh Nguyễn Phúc Chu và bà phu nhân Tống Thị Được. Ban đầu ông được phong chức Cai cơ, tước Đỉnh Thịnh hầu. Năm 1715, ông được thăng Chưởng cơ[1], làm phủ đệ tại dinh cơ Tả Sùng.

Năm 1725, Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu qua đời, ông nối ngôi lúc 29 tuổi, được quần thần tôn là 'Tiết Chế Thủy Bộ Chư Dinh Kiêm Tổng Nội Ngoại Quốc Trọng Sự Thái Phó Đỉnh Quốc Công' (鼎國公), hiệu là Văn Truyền đạo nhân vì mộ Phật giáo.

Điều hành Đàng Trong[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng Giêng năm Bính Ngọ (1726), chúa Ninh ban bố các điều răn, đại ý là khuyên dân siêng năng cày cấy và cấm đứt nạn rượu chè, cờ bạc.

Tháng 4 năm Kỷ Dậu (1729), chúa Ninh bắt đầu cho lập trường đúc tiền.

Năm Ất Mão (1735), Tổng binh Hà TiênMạc Cửu mất, con trai cả là Mạc Thiên Tứ kế tục sự nghiệp của cha. Năm sau, (1736), Thiên Tứ được chúa Ninh phong làm Tổng binh Đại đô đốc[6] trấn Hà Tiên, để giữ gìn và mở mang xứ ấy.

Tháng 6, mùa hạ năm thứ 12 (1737), chúa Ninh định lại quan chế, cải cách sắc phục, thay đổi phong tục, mọi người đều theo lối mới, tránh cái thô lậu của Bắc hà từ trước tới nay (lúc ấy từ sông Linh Giang thuộc châu Bố Chính trở vào Nam gọi là Nam hà, trở ra Bắc gọi là Bắc hà). Miền Nam từ đây rạng rỡ một vùng y quan văn vật[7].

Chiến sự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tân Hợi (1729), Prea Sot (Sá Tốt), gốc người Lào đem quân ở tỉnh Banam nước Chân Lạp, xách động người dân Chân Lạp nổi dậy tàn sát tất cả người Việt ở trong vùng Banam mà họ gặp, rồi còn tiến sang quấy nhiễu ở Sài Gòn.

Để đối phó với quân Chân Lạp do Prea Sot chỉ huy, tướng Trương Phước Vĩnh sai cai cơ Đạt Thành ra chống ngăn, nhưng ông này bị giết tại trận.

Tướng Vĩnh bèn điều động Giám quân cai đội Nguyễn Cửu Triêm đi đánh, đối phương bị thua rút về Vũng Gù (Mỹ Tho). Lại điều thêm Thống binh Trần Đại Định (con Trần Thượng Xuyên) mới dẹp tan hết[8].

Sau khi dẹp xong xét thấy cần phải có một cơ quan thống suất để kịp thời giải quyết việc binh ở vùng đất mới, năm Nhâm Tý (1732)[9], chúa Ninh sai đặt sở Điều khiển ở Sài Gòn, cử hai tướng có công đánh đuổi quân Prea Sot là Trương Phước Vĩnh giữ chức Điều khiển sự sở Gia Định, Nguyễn Cửu Triêm làm Thống trấn dinh Trấn Biên (Biên Hòa).

Khi ấy, vua Chân Lạp là Sâtha (Nặc Tha) sợ vạ lây, liền gửi thư cho tướng Vĩnh để thanh minh rằng mọi việc trên đều do Prea Sot gây ra, và xin đem hai vùng đất là Peam Mesar (Mỹ Tho) và Longhôr (Vĩnh Long) dâng chúa Ninh để cầu hòa (1732). Bấy giờ, thấy đất Gia Định (tức toàn miền Nam) rộng rãi quá, để tiện việc coi giữ, chúa Ninh cho lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ, bổ nhiệm quan lại rồi đưa thêm dân Việt đến khai hoang lập nghiệp.

Mùa xuân năm thứ 8 (1732) triều đình sai quan Khổn Súy (閫帥)[10]. Gia Định phân chia đất ấy để lập ra châu Định Viễn và dinh Long Hồ (lỵ sở nay là thôn An Bình Đông thuộc huyện Kiến Đăng, trấn Định Tường, tục gọi là dinh Cái Bè).

Tháng giêng năm Quý Sửu (1733), chúa Ninh cho đặt đồng hồ ở các dinh trấn. Các đồng hồ này được chế tạo ở trong nước và phỏng theo kiểu cách phương Tây.

Mùa đông năm thứ 16, Quý Dậu (1735), triều đình sai Cai đội Thiện Chánh hầu làm Thống suất, Ký lục Nghi Biểu hầu Nguyễn Cư Trinh làm Tham mưu điều khiển tướng sĩ 5 dinh: Bình Khang (Năm thứ 4 Canh Ngọ đổi Thái Khang làm dinh Bình Khang), Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ (Chức Điều khiển được thiết lập từ đây) đi kinh lược đất Cao Miên, quan quân đồn trú ở xứ Bến Nghé, lập nên dinh trại, gọi tên là Đồn Dinh (nay là chợ Điều Khiển), rồi lo luyện tập quân sĩ, điều độ lương thảo, tính kế mở mang[11].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 7 tháng 6, năm 1738, chúa Ninh Nguyễn Phúc Chú qua đời, thọ 42 tuổi.

Ông được an táng tại Trường Phong lăng (長豐陵), nằm trong khu Thiên Thọ Lăng ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Triều thần dâng thụy hiệu cho chúa là Tuyên Quang Thiệu Liệt Đỉnh Ninh vương (宣光紹烈鼎寧王).

Khi Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát, con trưởng của ông lên ngôi, truy tôn ông thành Tuyên Quang Thiệu Liệt Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kinh Văn Vĩ Vũ Hiếu Ninh vương (宣光紹烈濬哲靜淵經文緯武孝寧王).

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu, sau truy tôn Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế (顯宗孝明皇帝).
  • Thân mẫu: Tống Thị Được (宋氏得; 1680 - 1716), sau truy tôn thành Từ Huệ Hiếu Minh hoàng hậu (慈惠孝明皇后).
  • Phu nhân:
    • Trương Thị Thư (張氏舒; 1699 - 1720), chánh quán huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, con của quan Chưởng dinh Trương Phúc Phan (張福攀), mẹ bà là công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Nghiễm (阮福玉儼), con gái của chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thái. Bà vào hầu Ninh vương trong thời kỳ tiềm để, sau được phong lên bậc Nhã cơ (雅姬). Khi mất, được truy tặng là Tu Dung Á Phu Nhân (修容亞夫人). Gia Long hoàng đế truy tôn Từ Ý Quang Thuận Chiêu Hiến Thục Huệ Hiếu Ninh Hoàng Hậu (慈懿光順昭憲淑惠孝寧皇后), tên lăng là Vĩnh Phong (永豐陵), táng ở làng Long Hồ (Hương Trà, Thừa Thiên). Bà được phối thờ với Ninh vương ở Thái Miếu, án thứ ba bên hữu.
    • Tả cung tần Trương thị.
    • Hữu cung tần Nguyễn thị.
  • Công tử:
  1. Nguyễn Thế Tông Nguyễn Phúc Khoát, mẹ là Từ Ý Trương hoàng hậu.
  2. Nguyễn Phúc Du (? - 1751), mẹ là Tứ Ý Trương hoàng hậu. Làm đến chức Chưởng cơ.
  3. Nguyễn Phúc Tường (1727 - 1757), mẹ là Hữu cung tần Nguyễn thị, làm chức Cai đội, sau tặng Cai cơ.
  • Công nữ:
  1. Nguyễn Phúc Ngọc Thưởng (1712 - 1790), mẹ là Tả cung tần Trương thị, lấy Cai đội Nguyễn Phúc Mao.
  2. Nguyễn Phúc Ngọc San (1716 - 1767), không rõ mẹ, lấy Chưởng doanh Tống Phúc Dĩnh.
  3. Nguyễn Phúc Ngọc Doãn, lấy Chưởng doanh Hoán quận công Nguyễn Cửu Pháp. Cuộc biến năm Giáp Ngọ (1774), Định vương Nguyễn Phúc Thuần vào Nam, bà cùng Cửu Pháp đem cả nhà vào Quảng Nam, theo ngự giá. Sau đó, Cửu Pháp vì ốm phải quay về Phú Xuân, bà theo Định vương vào Gia Định. Đến lúc Gia Định thất thủ, bà lại theo Nguyễn Thế Tổ sang Xiêm La. Bà mất vào mùa hạ, không rõ năm nào. Sau đem hài cốt về táng ở xã Dương Xuân.
  4. Nguyễn Phúc Ngọc Biện, lấy Cai đội Trương Phúc Tín.
  5. Nguyễn Phúc Ngọc Uyển, lấy Cai cơ Nguyễn Cửu Chính, con trai Nguyễn Cửu Thông.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Gia tộc Nguyễn Phước 2006
  2. ^ Tháng chạp năm Bính Tý, tính ra dương lịch là năm 1697, không phải là năm 1696 như một số sách đã ghi.
  3. ^ Tên chép theo sử nhà NguyễnQuốc triều sử toát yếu (tr. 45)
  4. ^ Xem thêm chi tiết trong sách Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, phần lịch sử do Nguyễn Đình Đầu biên soạn, tr. 159.
  5. ^ Xem thụy hiệu đầy đủ ở đây [1].
  6. ^ Đô đốc Tông Đức Hầu, bởi nhũ danh của Mạc Thiên Tứ là Tông theo Gia Định Thành Thông Chí
  7. ^ Theo Gia Định thành thông chí
  8. ^ Lược theo sách Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, phần lịch sử do Nguyễn Đình Đầu biên soạn, tr. 159).
  9. ^ Ghi theo Quốc triều sử toát yếu (tr. 48). Website Thành phố Hồ Chí Minh ghi sớm một năm, tức 1731, nhưng không chú thích là lấy từ nguồn nào [2].
  10. ^ Khổn là cổng thành ngoài. Sách Sử ký có câu: "Khổn dĩ nội quả nhân chế chi, khổn dĩ ngoại tướng quân chế chi", nghĩa là: "Từ cổng thành ngoài trở vào thì quả nhân coi xét, từ cổng thành ngoài trở ra thì tướng quân coi xét". Nay gọi vị quan thống lãnh đại binh ở cõi ngoài, xa kinh đô là Chuyên khổn hay Khổn súy.
  11. ^ Theo Gia Định Thành Thông Chí

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu
Chúa Nguyễn
1725-1738
Kế nhiệm:
Chúa Vũ Nguyễn Phúc Khoát