Đồng bằng sông Cửu Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bài này nói về phần đồng bằng châu thổ sông Mekong trên lãnh thổ Việt Nam. Để xem toàn bộ vùng châu thổ này sông này, xem Mê Kông
Vị trí vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bản đồ Việt Nam (Màu xanh lá)

Vùng đồng bằng sông Cửu Long là một vùng cực nam của Việt Nam, còn được gọi là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ hoặc theo cách gọi của người dân Việt Nam ngắn gọn là Miền Tây, có 1 thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Cần Thơ và 12 tỉnh: tỉnh Long An (2 tỉnh Long AnKiến Tường cũ), tỉnh Tiền Giang (tỉnh Mỹ Tho cũ), tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh, tỉnh Hậu Giang (tỉnh Cần Thơ cũ), tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Đồng Tháp (2 tỉnh Sa ĐécKiến Phong cũ), tỉnh An Giang, tỉnh Kiên Giang (tỉnh Rạch Giá cũ), tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2011, tổng diện tích các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long là 40.548,2 km² và tổng dân số của các tỉnh trong vùng là 17.330.900 người.[1]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa nước nổi ở Tứ giác Long Xuyên

Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39.734 km². Có vị trí nằm liền kề vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông.

Các điểm cực của đồng bằng trên đất liền, điểm cực Tây 106°26´(xã Mĩ Đức, Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang), cực Đông ở 106°48´(xã Tân Điền, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), cực Bắc ở 11°1´B (xã Lộc Giang, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An) cực Nam ở 8°33´B (huyện Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Ngoài ra còn có các đảo xa bờ của Việt Nam như đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, hòn Khoai.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậubán đảo Cà Mau.

Cách đây khoảng 8.000 năm, vùng ven biển cũ trải rộng dọc theo triền phù sa cổ thuộc trầm tích Pleistocen từ Hà Tiên đến thềm bình nguyên Đông Nam Bộ. Sự hạ thấp của mực nước biển một cách đồng thời với việc lộ ra từng phần vùng đồng bằng vào giai đoạn cuối của thời kỳ trầm tích Pleistocen. Một mẫu than ở tầng mặt đất này được xác định bằng C14 cho thấy nó có tuổi tuyệt đối là 8.000 năm (Ngộ, 1988). Sau thời kỳ băng hà cuối cùng, mực mước biển dâng cao tương đối nhanh chóng vào khoảng 3–4 m trong suốt giai đoạn khoảng 1.000 năm (Blackwelder và những người khác, 1979), gây ra sự lắng tụ của các vật liệu trầm tích biển ở những chỗ trũng thấp của châu thổ; tại đây những sinh vật biển như hàu (Ostrea) được tìm thấy và việc xác định tuổi tuyệt đối của chúng bằng C14 cho thấy trầm tích này được hình thành cách đây khoảng 5.680 năm (Ngộ, 1988).

Đồng cỏ ở Đồng Tháp Mười

Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vật rừng ngập mặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này, chủ yếu là những cây đước (Rhizophora sp.) và mắm (Avicennia sp.). Những thực vật chịu mặn này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự xói mòn do nước hoặc gió, và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ (Morisawa M., 1985), và rồi những đầm lầy biển được hình thành. Tại vùng này, cách đây 5.500 năm trước công nguyên, trầm tích lắng tụ theo chiều dọc dưới điều kiện mực nước biển dâng cao đã hình thành những cánh đồng rộng lớn mang vật liệu sét. Sự lắng tụ kéo dài của các vật liệu trầm tích bên dưới những cánh rừng Đước dày đặc đã tích lũy dần để hình thành một địa tầng chứa nhiều vật liệu sinh phèn (pyrit).

Mực nước biển dâng cao, bao phủ cả vùng như thế hầu như hơi không ổn định và bắt đầu có sự giảm xuống cách đây vào khoảng 5.000 năm (Pons L. J. và những người khác, 1982). Sự hạ thấp mực nước biển dẫn đến việc hình thành một mực nước biển mới, sau mỗi giai đoạn như thế thì có một bờ biển mới được hình thành, và cuối cùng hình thành nên những vạt cồn cát chạy song song với bờ biển hiện tại mà người ta thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một cồn cát chia cắt vùng Đồng Tháp Mười và vùng trầm tích phù sa được xác định bằng C14 cho thấy có tuổi tuyệt đối vào khoảng 4.500 năm (Ngộ, 1988).

Sự hạ dần của mực nước kèm theo những thay đổi về môi trường trong vùng đầm lầy biển, mà ở đây những thực vật chịu mặn mọc dày đặc (Rhizophora sp., Avicinnia sp.) được thay thế bởi những loài thực vật khác của môi trường nước ngọt như tràm (Melaleuca sp.) và những loài thực thực vật hoang dại khác (Fimbristylis sp.,Cyperus sp.). Sự ổn định của mực nước biển dẫn đến một sự bồi lắng trầm tích ven biển khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp hơn (Pons L. J. và những người khác, 1989).

Ghe chở chôm chôm trên sông cửu long

Sự tham gia của sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình hình thành vùng châu thổ. Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp vào khoảng 4.000 tỷ m³ nước và vào khoảng 100 triệu tấn vật liệu phù sa (Morgan F. R., 1961), những mảnh vỡ bị bào mòn từ lưu vực sông, mặc dù một phần có thể dừng lại tạm thời dọc theo hướng chảy, cuối cùng được mang đến cửa sông và được lắng tụ như một châu thổ (Morisawa, 1985). Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có chiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích pyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dày tầng đất vùng và không gian vùng (Pons L. J. và csv., 1982). Các con sông nằm được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùng rộng lớn mang vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùng đầm lầy biển (Moormann, 1961). Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong vùng phụ cận của những nhánh sông gần cửa sông mà tại đây ảnh hưởng rửa bởi thủy triều khá mạnh. Ngược lại, vùng châu thổ sông Sài Gòn, nằm kế bên hạ lưu châu thổ sông Mekong, được biểu thị bởi một tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm do lượng vật liệu phù du trong nước sông khá thấp và châu thổ này bị chia cắt bởi nhiều nhánh sông thủy triều và do bởi những vành đai thực vật chịu mặn thì rộng lớn hơn vành đai này ở vùng châu thổ sông Mekong, và kết quả là trầm tích của chúng chứa nhiều axít tiềm tàng (Moormann và Pons, 1974).

Theo công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam), khoảng 40% vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập trong nước do biến đổi khí hậu.[2]

Phạm vi lưu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng bắng sông Cửu Long là vùng đồng bằng thấp và đồng bằng ngập nước, nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Việt Nam. Nó được giới hạn trong phạm vi các dòng sông, kênh, rạch, tự nhiên hoặc nhân tao chảy trong lãnh thổ Việt Nam, nhận nước từ 2 dòng chính sông Mekong (từ sông Hậu Giangsông Tiền Giang), đổ ra biển Đôngvịnh Thái Lan (cũng là một phần của biển Đông).

Về phía tây, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bởi sông Châu Đốckênh Vĩnh Tế một dòng kênh nhân tạo chảy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Hậu Giang qua sông Châu Đốc tại thành phố Châu Đốc đổ nước ra vịnh Thái Lan, giới hạn một vùng đất thấp ngập nước theo mùa gọi là tứ giác Long Xuyên.

Ở khu vực giữa hai dòng sông Hậu và sông Tiền, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn đầu nguồn bởi các dòng kênh nối ngang tại 2 huyện thị đầu nguồn Tân ChâuAn Phú của tỉnh An Giang như kênh Vĩnh An,...

Về phía đông bắc và đông, Đồng bằng sông Cửu Long được giới hạn bằng hàng loạt các dòng sông kênh rạch liên thông với nhau, chảy dọc theo biên giới Việt Nam-Campuchia, (giới hạn vùng đất trũng khác ngập nước theo mùa là vùng Đồng Tháp Mười), và đều là phân lưu của sông Mekong: hoặc trực tiếp của dòng chính sông Tiền Giang, hay nhận nước gián tiếp qua môt phân lưu chính của Mekong là Preak Banam đổ ra biển Đông qua sông Vàm Cỏ Tây (sông Vàm Cỏ) và các cửa của sông Cửu Long. Giới hạn phía đông bắc và đông của Đồng bắng sông Cửu Long là các dòng sông kênh rạch sau: sông Sở Thượng (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Mekong qua Preak Banam), sông Sở Hạ (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia, nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak phân lưu của Preak Banam), rạch Cái Cỏ (chảy trên biên giới Việt Nam-Campuchia[3], là ranh giới phía bắc của Đồng Tháp Mười[4], nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak một thượng lưu của sông Sở Hạ và rạch Long Khốt), rạch Long Khốt (nhận nước sông Mekong qua Preak Trabeak và Cái Cỏ, thượng nguồn của sông Vàm Cỏ Tây), sông Vàm Cỏ Tây (nhận nước sông Mekong qua rạch Long Khốt và các kênh rạch nối thông với sông Tiền Giang), sông Vàm Cỏ (nhận nước sông Mekong qua sông Vàm Cỏ Tây và các kênh rạch nối thông với sông Tiền Giang), và cuối cùng là sông Soài Rạp (nhận nước sông Mekong qua sông Vàm Cỏ). Các sông Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ, Soài Rạp mặc dù thuộc hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai, là hệ thống sông thuộc địa bàn Miền Đông Nam Bộ, nhưng chúng là những dòng sông cuối cùng nhận nước từ sông Mekong về phía đông, đồng thời một trong số chúng (sông Soài Rạp) là ranh giới tự nhiên của 2 tỉnh phía đông Đồng bằng sông Cửu Long là Long AnTiền Giang với tỉnh thành phía tây của Miền Đông Nam BộThành phố Hồ Chí Minh, nên lưu vực các sông rạch này (chính là địa bàn tỉnh Long An) cũng là địa bàn ranh giới tận cùng phía đông của Đồng bằng sông Cửu Long với Miền Đồng Nam Bộ.

Vài nét về địa danh Châu Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn học dân gian ở Nam Bộ có khá nhiều câu sử dụng từ "châu thành", mặc dù trong văn bản được viết hoa, nhưng "châu thành" ở đây được dùng như là một danh từ chung, chỉ nơi phố xá đông đúc, văn minh. Từ "châu thành" vốn là một từ Hán-Việt, được sử dụng khá phổ biến ở Nam Bộ. Khái niệm "châu thành" có thể hiểu là:

  • Phố phường, thành thị, nơi dân cư đông đúc
  • Khu vực chính một xứ hay một tỉnh
  • Vùng đất bao quanh, ở cạnh thành phố, thị xã, đơn vị hành chính cấp huyện.

Sau khi chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ngày 5 tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp ra nghị định chia 6 tỉnh Nam Kỳ ra 24 hạt tham biện (arondissemnent). Viên cai trị hạt là tham biện (inspecteur, sau đổi là administrateur). Lỵ sở của hạt gọi là "châu thành", có chức năng như một "trung tâm hành chính" của hạt. Bắt đầu từ năm 1912, địa danh Châu Thành chính thức được đặt tên cho nhiều đơn vị hành chính cấp quận ở các tỉnh Nam Kỳ.

Ban đầu, "châu thành" chỉ các trung tâm hành chính, nơi có chợ búa, các cơ quan của hạt tham biện trú đóng. Sau khi thành lập các thị xã với chức năng "tỉnh lỵ", nó chiếm một phần diện tích của "châu thành", phần diện tích còn lại vẫn giữ tên cũ là quận Châu Thành và sau này là huyện Châu Thành. Hiện nay các thị xã tỉnh lỵ đó đều đã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh.

Lịch sử hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thời chúa Nguyễn và thời Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Bộ xưa được gọi là xứ Đồng Nai. Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh sang kinh lược Cao Miên, lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định. "Đất Nông Nại" hay "phủ Gia Định" khi ấy gồm chung cả Nam Bộ.

Tháng 8 mùa thu năm Giáp Ngọ (1714), vua phong cho một người ở Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông làm Tổng binh trấn Hà Tiên. Theo sách Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu thì năm Mậu Tý 1708, chúa Minh trao cho Mạc Cửu chức Tổng binh Hà Tiên.

Mùa xuân năm Nhâm Tý (1732), khổn súy Gia Định chia đất ấy lập làm châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ (tục gọi là dinh Cái Bè).

Năm Bính Tý (1756), Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh tâu xin chuẩn hứa cho y (Nặc Ong Nguyên) chuộc tội, lấy đát hai xứ Xoài Rạp, Tầm Đôn (có lẽ là vùng Gò CôngĐồng Tháp Mười ngày nay)bổ sung vào châu Định Viễn để cho hoàn toàn biên giới.

Năm 1757, nhận hiến thêm hai đất Trà Vinh và Ba Thắc và vùng Tầm Phong Long. Nhân đó, Nguyễn Cư Trinh tâu xin dời dinh Long Hồ qua xứ Tầm Bào. Lại đem xứ Sa Đéc đặt làm đạo Đông Khẩu, xứ Cù Lao ở Tiền Giang đặt làm đạo Tân Châu, xứ Châu Đốc ở Hậu Giang đặt làm đạo Châu Đốc.

Thế là chỉ trên nửa thế kỷ (1698-1757), các chúa Nguyễn đã đặt xong cơ sở hành chính trên khắp địa bàn Nam Bộ.

Tháng 10 mùa đông năm Kỷ Hợi 1779, Nguyễn Ánh cho họa địa đồ chia cắt địa giới 3 dinh Trấn Biên (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang) cho liên lạc nhau. Nhân đó, lấy địa bàn tọa lạc tại xứ Mỹ Tho đặt làm dinh Trường Đồn, để lỵ sở Giồng Cai Yến.

Vậy là cuối thế kỷ XVIII, toàn Nam Bộ chia ra 4 dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, Trường Đồn và trấn Hà Tiên (coi như 5 đơn vị tỉnh ngày nay).

Năm Canh Thân (1800), đổi Gia Định phủ làm Gia Định trấn gồm dinh Phiên Trấn, dinh Trấn Biên, dinh Vĩnh Trấn (Long Hồ), dinh Trấn Định (Trường Đồn) và trấn Hà Tiên.

Thời nhà Nguyễn độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1832[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 12 tháng 1 năm Mậu Thìn (1808), đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành. Gia Định thành cai quản 5 trấn ở trong nam là Phiên An (Phiên Trấn cũ), Biên Hòa (Trấn Biên cũ), Định Tường (Trấn Định cũ), Vĩnh Thanh (Vĩnh Trấn cũ) và Hà Tiên, lại kiêm quản thêm trấn Bình Thuận ở phía bắc Biên Hòa. Trong đó, địa bàn toàn bộ các trấn Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên và một phần trấn Phiên An cùng thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ngày nay.

Sau đây là tình hình phân ranh hành chính các trấn Phiên An, Định Tường, Vĩnh Thanh và Hà Tiên cùng thuộc Gia Định thành hồi năm 1808:

  • Trấn Phiên An gồm 1 phủ là Tân Bình và 4 huyện: Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc, Thuận An
  • Trấn Vĩnh Thanh gồm 1 phủ là Định Viễn và 3 huyện: Vĩnh An, Vĩnh Bình, Tân An
  • Trấn Định Tường gồm 1 phủ là Kiến An và 3 huyện: Kiến Đăng, Kiến Hưng, Kiến Hòa
  • Trấn Hà Tiên gồm 2 huyện (chưa đặt phủ): Long Xuyên, Kiên Giang

Theo Gia Định thành thông chí, tình hình phân chia hành chính Gia Định thành hồi năm 1820 có một vài thay đổi như sau:

  • Trấn Phiên An gồm 1 phủ là Tân Bình và 4 huyện: Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc, Thuận An
  • Trấn Định Tường gồm 1 phủ là Kiến An và 3 huyện: Kiến Đăng, Kiến Hưng, Kiến Hòa
  • Trấn Vĩnh Thanh gồm 1 phủ là Định Viễn và 4 huyện: Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Định, Tân An
  • Trấn Hà Tiên gồm 2 huyện (chưa đặt phủ): Long Xuyên, Kiên Giang

Sau năm 1832[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Minh Mạng năm 1832 đã đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay Lục tỉnh[5]. Đó là các tỉnh: Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn), Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông; Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây.

Trong số 6 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ thì có 4 tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (miền Tây Nam Bộ) ngày nay, bao gồm: Định Tường, Vĩnh Long, An GiangHà Tiên. Ngòai ra, một phần đất đai của tỉnh Gia Định lúc bấy giờ cũng nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tương đương với một phần các tỉnh Long AnTiền Giang (vùng đất Gò Công) ngày nay. Thượng và hạ lưu của sông Vàm Cỏ Tây (cho tới đoạn ngã ba sông Bảo Định), cùng với sông Bảo Định là ranh giới giữa hai tỉnh Gia Định và Định Tường.

Nam Kỳ lục tỉnh hồi năm 1840, theo tài liệu của Trương Vĩnh Ký, ở đây mạn phép không kể tỉnh Biên Hòa thuộc khu vực Đông Nam Bộ ngày nay:

Bản đồ hành chính Nam Kỳ lục tỉnh giai đoạn 1841-1861.
Bản đồ hành chính Nam Kỳ Lục tỉnh (Basse Cochinchine) năm 1863.
Bản đồ xứ Nam Kỳ 1872 (thời Pháp Thuộc) với sáu tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (vẽ theo hành chính thời nhà Nguyễn độc lập).
  • Tỉnh Vĩnh Long gồm 4 phủ, 8 huyện (nay nằm hoàn toàn trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long):
    • Phủ Định Viễn (Vĩnh Long) gồm 2 huyện: Vĩnh Bình (Long Hồ), Vĩnh Trị (Vũng Liêm)
    • Phủ Hoằng An (Ba Vác) gồm 2 huyện: Tân Minh (Ba Vác), Duy Minh (Rạch Nước Trong)
    • Phủ Hoằng Đạo (Bến Tre) gồm 2 huyện: Bảo Trị (Bến Tre), Bảo An (Cái Bông)
    • Phủ Lạc Hóa (Trà Vinh) gồm 2 huyện: Trà Vinh (Trà Vinh), Tuân Ngãi (Cầu Ngang, Mương Đục)
  • Tỉnh An Giang gồm 3 phủ, 8 huyện (nay nằm hoàn toàn trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long):
    • Phủ Tuy Biên (Châu Đốc) gồm 2 huyện: Tây Xuyên (Cái Vừng, Ba Rách, Long Xuyên), Phong Phú (Cần Thơ)
    • Phủ Tân Thành (Sa Đéc) gồm 3 huyện: Vĩnh An (Sa Đéc), Đông Xuyên (Cái Vừng), An Xuyên (Nha Mân)
    • Phủ Ba Xuyên (Sóc Trăng) gồm 3 huyện: Phong Nhiêu (Bãi Xàu), Phong Thạnh (Nhu Gia), Vĩnh Định

Năm 1855, tình hình các tỉnh này lại có một số thay đổi nhỏ và không đáng kể như sau:

  • Tỉnh Gia Định gồm 3 phủ, 9 huyện:
    • Phủ Tân Bình gồm 3 huyện: Bình Dương, Bình Long, Tân Long
    • Phủ Tân An gồm 2 huyện: Cửu An, Phước Lộc, Tân Hòa, Tân Thạnh
    • Phủ Tây Ninh gồm 2 huyện: huyện Tân Ninh (nay thuộc địa bàn tỉnh Tây Ninh Việt Nam và tỉnh Svay Rieng Campuchia), và huyện Quang Hóa. Tỉnh Tây Ninh ngày nay, nằm ở khu vực Miền Đông Nam Bộ, chiếm phần lớn đất đai nguyên là của phủ Tây Ninh.
  • Tỉnh Vĩnh Long gồm 3 phủ, 8 huyện:
    • Phủ Định Viễn gồm 2 huyện: Vĩnh Bình, Vĩnh Trị
    • Phủ Hoằng Trị gồm 4 huyện: Bảo Hựu, Bảo An, Tân Minh, Duy Minh
    • Phủ Lạc Hóa gồm 2 huyện: Trà Vinh, Tuân Ngãi
  • Tỉnh An Giang gồm 3 phủ, 10 huyện:
    • Phủ Tuy Biên gồm 4 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú, Hà Dương, Hà Âm
    • Phủ Tân Thành gồm 3 huyện: Vĩnh An, Đông Xuyên, An Xuyên
    • Phủ Ba Xuyên gồm 2 huyện: Phong Nhiêu, Vĩnh Định

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 1862-1867[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1859, quân Pháp xâm chiếm thành Gia Định (cũng gọi là thành Sài Gòn). Năm 1862, triểu đình Huế phải ký nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam KỳBiên Hòa, Gia ĐịnhĐịnh Tường. Năm 1867, Pháp vi phạm "hòa ước", đem quân chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam KỳVĩnh Long, An GiangHà Tiên. Sau đó, thực dân Pháp xóa bỏ lề lối cai trị cũng như cách phân chia địa giới hành chính phủ huyện cũ của triều đình nhà Nguyễn.

Lúc đầu Pháp gọi département thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện. Khoảng năm 1868, toàn vùng đất Nam Kỳ có hai mươi bảy inspection (lúc này tiếng Việt gọi là "hạt thanh tra", "địa hạt thanh tra", "khu thanh tra" hay "tiểu khu thanh tra", do Thanh tra cai trị). Ban đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau đó mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở kể từ ngày 16 tháng 8 năm 1867.

Ngày 17 tháng 2 năm 1863, thực dân Pháp tiến hành lập hạt thanh tra Tây Ninh (lỵ sở đặt tại Tây Ninh) trên địa bàn phủ Tây Ninh của tỉnh Gia Định. Từ ngày 11 tháng 2 năm 1864, phủ Tây Ninh có hai huyện trực thuộc là Quang Hóa và Tân Ninh. Ngày 3 tháng 2 năm 1866, thành lập hạt thanh tra Quang Hóa trên địa bàn huyện Quang Hóa của phủ Tây Ninh do tách ra từ hạt thanh tra Tây Ninh (lỵ sở đặt tại Trảng Bàng).

Ngày 9 tháng 11 năm 1864, thực dân Pháp lần lượt cho thành lập các hạt Thanh tra sau đây trên địa bàn tỉnh Gia Định (lúc này vẫn còn giữ tên là tỉnh Gia Định như cũ):

  • Hạt thanh tra Tân Long: trên địa bàn huyện Tân Long của phủ Tân Bình (lỵ sở đặt tại Chợ Lớn)
  • Hạt thanh tra Tân An: trên địa bàn hai huyện Cửu An và Tân Thạnh của phủ Tân An (lỵ sở đặt tại Tân An)
  • Hạt thanh tra Phước Lộc: trên địa bàn huyện Phước Lộc của phủ Tân An (lỵ sở đặt tại Cần Giuộc)
  • Hạt thanh tra Tân Hòa: trên địa bàn huyện Tân Hòa của phủ Tân An (lỵ sở đặt tại Gò Công)

Ngày 3 tháng 6 năm 1865, Pháp lại lần lượt cho thành lập các hạt Thanh tra sau đây trên địa bàn tỉnh Định Tường (lúc này cũng vẫn còn giữ tên là tỉnh Định Tường như cũ):

  • Hạt thanh tra Kiến An hay Kiến Hưng: trên địa bàn huyện Kiến Hưng của phủ Kiến An (lỵ sở đặt tại Mỹ Tho)
  • Hạt thanh tra Kiến Hòa: trên địa bàn huyện Kiến Hòa của phủ Kiến An (lỵ sở đặt tại Chợ Gạo)
  • Hạt thanh tra Kiến Đăng: trên địa bàn huyện Kiến Đăng của phủ Kiến Tường (lỵ sở đặt tại Cai Lậy)
  • Hạt thanh tra Kiến Tường hay Kiến Phong: trên địa bàn huyện Kiến Phong của phủ Kiến Tường (lỵ sở ban đầu đặt tại Cao Lãnh và sau đó lại dời đến Cần Lố (ngã ba sông Cần Lồ với sông Tiền Giang))

Ngày 15 tháng 6 năm 1867, ngoại trừ vùng đất huyện Hà Châu chưa đặt hạt thanh tra vì địa bàn nhỏ hẹp, thực dân Pháp cũng thành lập các hạt Thanh tra sau đây trên địa bàn tỉnh Hà Tiên:

Tại vùng đất tỉnh Vĩnh Long cũng lần lượt thành lập các hạt thanh tra sau:

  • Hạt thanh tra Định Viễn: trên địa bàn phủ Định Viễn (lỵ sở đặt tại Vĩnh Long)
  • Hạt thanh tra Hoằng Trị: trên địa bàn phủ Hoằng Trị (lỵ sở đặt tại Bến Tre)
  • Hạt thanh tra Lạc Hóa: trên địa bàn phủ Lạc Hóa (lỵ sở đặt tại Trà Vinh)

Tại tỉnh An Giang có 3 hạt thanh tra sau:

  • Hạt thanh tra Tuy Biên: trên địa bàn phủ Tuy Biên (lỵ sở đặt tại Châu Đốc)
  • Hạt thanh tra Tân Thành: trên địa bàn phủ Tân Thành (lỵ sở đặt tại Sa Đéc)
  • Hạt thanh tra Ba Xuyên: trên địa bàn phủ Ba Xuyên (lỵ sở đặt tại Sóc Trăng)

Ngày 1 tháng 8 năm 1867, Pháp thấy vùng đất Cà Mau còn vắng vẻ nên đã bãi bỏ hạt thanh tra Long Xuyên, sáp nhập địa bàn này tức vùng đất Cà Mau vào hạt thanh tra Kiên Giang và coi luôn vùng đất huyện Long Xuyên cũ.

Giai đoạn 1867-1871[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 8 năm 1867, thực dân Pháp chính thức đổi tên tỉnh Gia Định thành tỉnh Sài Gòn, đổi tên tỉnh Định Tường thành tỉnh Mỹ Tho và đổi tên tỉnh An Giang thành tỉnh Châu Đốc; đồng thời cũng đổi tên gọi tất cả các hạt Thanh tra ở Nam Kỳ theo tên gọi địa điểm nơi đặt lỵ sở của hạt cụ thể như sau:

Bản đồ Nam Kỳ thuộc Pháp năm 1868, sau khi Pháp đã chiếm toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ của nhà Nguyễn.
  • Tỉnh Sài Gòn gồm các hạt thanh tra:
    • Hạt thanh tra Tân An: vẫn giữ nguyên tên gọi cũ
    • Hạt thanh tra Chợ Lớn: đổi tên từ hạt thanh tra Tân Long
    • Hạt thanh tra Cần Giuộc: đổi tên từ hạt thanh tra Phước Lộc
    • Hạt thanh tra Gò Công: đổi tên từ hạt thanh tra Tân Hòa
    • Hạt thanh tra Tây Ninh: lấy tên phủ cũ thay cho tên huyện cũ Tân Ninh
    • Hạt thanh tra Trảng Bàng: đổi tên từ hạt thanh tra Quang Hóa
  • Tỉnh Mỹ Tho gồm các hạt thanh tra:
    • Hạt thanh tra Mỹ Tho: đổi tên từ hạt thanh tra Kiến An hay Kiến Hưng
    • Hạt thanh tra Chợ Gạo: đổi tên từ hạt thanh tra Kiến Hòa
    • Hạt thanh tra Cai Lậy: đổi tên từ hạt thanh tra Kiến Đăng
    • Hạt thanh tra Cần Lố: đổi tên từ hạt thanh tra Kiến Tường hay Kiến Phong
  • Tỉnh Vĩnh Long gồm các hạt thanh tra:
    • Hạt thanh tra Vĩnh Long: đổi tên từ hạt thanh tra Định Viễn
    • Hạt thanh tra Bến Tre: đổi tên từ hạt thanh tra Hoằng Trị
    • Hạt thanh tra Trà Vinh: đổi tên từ hạt thanh tra Lạc Hóa

Ngày 4 tháng 12 năm 1867, tách vùng đất cù lao Minh của hạt thanh tra Bến Tre để thành lập hạt thanh tra Mỏ Cày, với lỵ sở đặt tại chợ Mỏ Cày. Đồng thời, huyện Phong Phú cũng được tách ra khỏi hạt thanh tra Sa Đéc để thành lập mới hạt thanh tra Cần Thơ, với lỵ sở đặt tại Cần Thơ.

Cũng trong năm 1867, thực dân Pháp lại cho thành lập thêm hạt thanh tra Đông Xuyên, với lỵ sở đặt tại khu vực chợ Đông Xuyên, trên cơ sở tách ra từ hạt thanh tra Châu Đốc, có địa bàn tương ứng với một phần các huyện Đông Xuyên và Tây Xuyên cũ. Tuy nhiên, sau khi đàn áp xong cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa vào năm 1873, lần đầu tiên Gia Định Báo đã dùng từ "Long Xuyên" thay cho "Đông Xuyên". Theo nghị định ngày 5 tháng 1 năm 1876, hạt Long Xuyên được chính thức dùng thay cho tên gọi "Đông Xuyên" trước đó.

Đồng thời, cũng tách vùng đất huyện Tuân Ngãi thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long trước đây để thành lập hạt thanh tra Bắc Trang, với lỵ sở đặt tại Bắc Trang.

Ngày 5 tháng 12 năm 1868, hạt thanh tra Cai Lậy bị giải thể, sáp nhập địa bàn vào hạt thanh tra Mỹ Tho kể từ ngày 15 tháng 12 năm 1868. Ngày 23 tháng 2 năm 1869, Hạt thanh tra Chợ Gạo bị giải thể, sáp nhập địa bàn vào hạt Thanh tra Mỹ Tho.

Ngày 20 tháng 10 năm 1869, hạt thanh tra Cai Lậy được lập lại. Ngày 8 tháng 9 năm 1870, giải thể hạt thanh tra Cần Lố và sáp nhập địa bàn vào các hạt thanh tra Sa ĐécCái Bè. Cũng nhân sự kiện này, vì lý do an ninh nên dời trụ sở tới chợ Cái Bè nên lại đổi tên gọi hạt thanh tra Cai Lậy trước đó là hạt thanh tra Cái Bè.

Tháng 4 năm 1870, chính quyền Pháp ở Nam Kỳ (đứng đầu là Thống đốc Nam Kỳ) cùng với triều đình vương quốc Cao Miên do Pháp bảo hộ (đứng đầu là vua Norodom I) bắt đầu đàm phán ký kết thỏa ước phân định biên giới[6]. Chính thức điều chỉnh lại biên giới giữa Cao Miên (Campuchia) với Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchine Française) thay đổi lớn so với biên giới Cao Miên-Nam Kỳ Lục tỉnh tại 2 khu vực: địa phận các hạt thanh tra Trảng Bàng, Tây Ninh (tức vùng lồi Mỏ vịt, nằm kẹp giữa thượng nguồn hai con sông Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ Đông) thành ra phủ (khet) Svay Téap (ký kết ngày 9 tháng 7 năm 1870)[7], và vùng bờ bắc kênh Vĩnh Tế địa bàn các hạt Hà Tiên, Châu Đốc nhập vào (khet) Tréang, cắt từ đất Nam Kỳ trả về cho Cao Miên.

Giai đoân 1871-1900[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ hành chính Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchine Française) năm 1878.

Từ ngày 5 tháng 6 năm 1871, inspection đổi thành arrondissement (lúc này tiếng Việt gọi là "hạt tham biện", "địa hạt tham biện", "khu tham biện" hay "hạt"). Đứng đầu arrondissementadministrateur, tiếng Việt gọi là Chính tham biện. Dinh hành chính gọi là tòa tham biện nhưng dân cũng quen gọi là tòa bố (giống như dinh quan bố chính của nhà Nguyễn cũ). Tham biện dưới quyền Thống đốc đóng ở Sài Gòn. Giúp việc Chính tham biện là hai phó tham biện; thư ký địa hạt cũng gọi là bang biện tức là secrétaire d’arrondissement. Cũng nhân thời điểm này, toàn vùng đất Nam Kỳ nói chung giảm còn 18 hạt, do giải thể và sáp nhập nhiều hạt thanh tra lại với nhau, cụ thể như sau:

Ngày 2 tháng 11 năm 1871, dời lỵ sở từ chợ Mỏ Cày về chợ Bến Tre nên hạt Mỏ Cày lại đổi tên thành hạt Bến Tre.

Ngày 18 tháng 12 năm 1871, thực dân Pháp lại tách vùng đất Cà Mau ra khỏi hạt Sóc Trăng để nhập vào hạt Rạch Giá như cũ.

Ngày 30 tháng 4 năm 1872, tách một phần đất đai của các hạt Sa Đéc, Vĩnh LongTrà Vinh để thành lập hạt Trà Ôn, với lỵ sở đặt tại Trà Ôn, có địa bàn chiếm phần đất vùng đất huyện Phong Phú thuộc tỉnh An Giang vào thời nhà Nguyễn độc lập và sau đó từng có một thời gian ngắn thuộc về hạt thanh tra Cần Thơ.

Năm 1874, hạt Phú Quốc được thành lập, nhưng vì kinh tế không phát triển được nên một năm sau phải giải thể và sáp nhập vào hạt Hà Tiên.

Ngày 5 tháng 1 năm 1876, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, gọi là circonscription administrative, mỗi khu vực lại được chia nhỏ thành các "hạt" hay "tiểu khu" (arrondissement). Ngoại trừ khu vực Sài Gòn là ở miền Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long lúc bấy giờ có 3 khu vực hành chính như sau:

Ngày 23 tháng 2 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định mới giải thể hạt Trà Ôn, đồng thời lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt tham biện Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực Bassac (Hậu Giang).

Ngày 18 tháng 7 năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ lập thêm một hạt (tiểu khu) mới là hạt tham biện Bạc Liêu thuộc khu vực Bassac (Ba Thắc) trên cơ sở tách vùng đất Cà Mau (gồm 3 tổng) của hạt tham biện Rạch Giá hợp với vùng đất Bạc Liêu (gồm 2 tổng) của hạt tham biện Sóc Trăng trước đó, với lỵ sở của hạt đặt tại Bạc Liêu.

Ngày 12 tháng 1 năm 1888, hạt Hà Tiên bị giải thể và cho thuộc về hạt tham biện Châu Đốc, đồng thời hạt Rạch Giá cũng bị giải thể và sáp nhập vào địa bàn hạt Long Xuyên. Đến ngày 27 tháng 12 năm 1892, hạt tham biện Hà Tiên và hạt tham biện Rạch Giá đều được phục hồi trở lại, tuy nhiên địa bàn hạt tham biện Hà Tiên lúc bấy giờ chỉ còn là vùng đất huyện Hà Châu thuộc tỉnh Hà Tiên cũ.

Sau năm 1900[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ hành chính Nam Kỳ thuộc Pháp năm 1906.

Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi tên gọi "hạt" hay "hạt tham biện" thành "tỉnh" (province) kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Đặc biệt, lúc bấy giờ tên tỉnh và tên gọi tỉnh lỵ ở các tỉnh miền Tây Nam Kỳ luôn trùng nhau, dế nhớ, rất thuận tiện trong sinh hoạt và làm việc. Như vậy ở miền Tây Nam Kỳ lúc bấy giờ có 15 tỉnh như sau: Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu.

Đầu thập niên 1900 thực dân Pháp lập thêm cấp quận (circonscription) và cơ sở phái viên hành chính (délégation administrative), cấp hành chính trung gian giữa tỉnh và tổng; đứng đầu là viên Chủ quận (Chef de la circonscription) và vị Phái viên hành chính (Délégué administratif) tương ứng. Lúc bấy giờ, ngoại trừ tỉnh Bạc Liêu, thực dân Pháp đều thành lập quận Châu Thành ở các tỉnh Tây Nam Kỳ. Quận Châu Thành là nơi đặt tỉnh lỵ của tỉnh đó (tỉnh lỵ chỉ thuộc địa phận một làng nhất định thuộc quận này). Riêng ở tỉnh Gò Công, thực dân Pháp lại không thành lập các quận, các tổng trực thuộc tỉnh. Ngoại trừ quận Châu Thành, tên gọi các quận khác thường được lấy theo tên gọi nơi đặt quận lỵ, có khi là tên chợ theo chữ Nôm hoặc Việt hóa tên gọi dân gian theo tiếng Khmer trước đó (chẳng hạn: Cai Lậy, Cái Bè), có khi lại lấy theo tên làng theo chữ Hán Việt (chẳng hạn: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu). Ngoài ra, cũng có một vài tổng nâng lên thành quận và lấy tên gọi cấp tổng trước đó (chẳng hạn Phú Quốc).

Thời Pháp thuộc, các đơn vị hành chính trực thuộc trong một tỉnh được phân chia, sắp xếp như sau: dưới tỉnh (province) là quận (circonscription), dưới quận là tổng (canton), dưới tổng là làng (village), dưới làng là ấp. Sự phân chia, sắp xếp này được duy trì, thực hiện ở cả vùng nông thôn lẫn thành thị. Tên tỉnh và tên quận thường lấy theo tên gọi chữ Nôm, còn tên đơn vị hành chính cấp tổng, làng và ấp thường lấy theo tên gọi chữ Hán Việt. Thực dân Pháp chủ trương tiết kiệm ngân sách nên cho đến năm 1945 đã có nhiều lần sáp nhập các làng lại với nhau, do vậy vào năm 1945 nếu so sánh với giai đoạn trước thì tổng số làng trong toàn miền Tây Nam Kỳ nói chung và trong từng tỉnh nói riêng đã giảm.

Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 có ba tỉnh bị giải thể và sáp nhập vào tỉnh khác như sau:

Đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Gò Công, Tỉnh Hà Tiêntỉnh Sa Đéc được tái lập trở lại.

Ngày 18 tháng 12 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập các thành phố trực thuộc các tỉnh cùng tên gọi: Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch GiáMỹ Tho có Ủy ban thành phố, thị trưởng do chủ tỉnh bổ nhiệm và có ngân sách riêng. Tuy nhiên, các đô thị này vẫn được gọi phổ biến hơn bằng danh xưng là các thị xã.

Ngày 29 tháng 12 năm 1952, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp quyết định công nhận 5 đô thị tỉnh lỵ sau ở miền Tây Nam Kỳ trở thành 5 thị xã hỗn hợp (commune mixte) trực thuộc 5 tỉnh cùng tên gọi: Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá, Mỹ ThoLong Xuyên.

Danh sách các tỉnh ở miền Tây Nam Kỳ thời Pháp thuộc (đến thời điểm năm 1954)
Tên tỉnh Tên tỉnh lỵ Số quận Tên các quận trực thuộc
Bạc Liêu Bạc Liêu 4 Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai, Cà Mau
Bến Tre Bến Tre 4 Châu Thành, Mỏ Cày, Ba Tri, Thạnh Phú
Cần Thơ Cần Thơ 5 Châu Thành, Ô Môn, Phụng Hiệp, Trà Ôn, Cầu Kè
Châu Đốc Châu Đốc 5 Châu Thành, Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu, Hồng Ngự
Chợ Lớn Chợ Lớn 4 Gò Đen, Đức Hòa, Cần Giuộc, Cần Đước
Gò Công Gò Công - -
Hà Tiên Hà Tiên 4 Châu Thành, Giang Thành, Hòn Chông, Phú Quốc
Long Xuyên Long Xuyên 4 Châu Thành, Núi Sập, Chợ Mới, Thốt Nốt
Mỹ Tho Mỹ Tho 4 Châu Thành, Chợ Gạo, Cai Lậy, Cái Bè
Rạch Giá Rạch Giá 6 Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, Phước Long, Long Mỹ
Sóc Trăng Sóc Trăng 4 Châu Thành, Kế Sách, Long Phú, Thạnh Trị
Sa Đéc Sa Đéc 4 Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò, Cao Lãnh
Tân An Tân An 4 Châu Thành, Tân Trụ, Thủ Thừa, Mộc Hóa
Trà Vinh Trà Vinh 5 Châu Thành, Trà Cú, Tiểu Cần, Càng Long, Cầu Ngang
Vĩnh Long Vĩnh Long 4 Châu Thành, Vũng Liêm, Chợ Lách, Tam Bình

Giai đoạn 1945-1954[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền kháng chiến của Việt Minh do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lãnh đạo ban đầu vẫn duy trì tên gọi của 14 tỉnh ở miền Tây Nam Bộ như trên. Đồng thời, cấp tổng cũng được bãi bỏ, các quận gọi là huyện, các làng gọi là xã. Các làng là nơi đặt tỉnh lỵ của mỗi tỉnh cũng được nâng cấp thành các thị xã trực thuộc tỉnh (các làng này trước năm 1945 đều thuộc quận Châu Thành của tỉnh đó, ngoại trừ tỉnh Bạc Liêu không có quận Châu Thành mà là quận Vĩnh Lợi), còn quận Châu Thành được chuyển thành huyện Châu Thành.

Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), lúc bấy giờ có sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốctỉnh Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu TiềnLong Châu Hậu như sau:

  • Tỉnh Long Châu Tiền nằm ở phía bờ trái (tả ngạn) sông Hậu, hai bên sông Tiền
  • Tỉnh Long Châu Hậu nằm ở phía bờ phải (hữu ngạn) sông Hậu

Đến tháng 10 năm 1950 tỉnh Long Châu Hậu hợp nhất với tỉnh Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà. Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa.

Ngày 27 tháng 6 năm 1951, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ đã thay đổi sắp xếp hành chính nhiều tỉnh ở miền Tây Nam Bộ như sau:

Ngày 12 tháng 10 năm 1951, theo Nghị định số 252/NB-51 của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ, chia Liên khu Nam Bộ ra làm hai Phân liên khu:

Tuy nhiên, những việc thay đổi hành chính này lại không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại lúc bấy giờ công nhận. Đến năm 1954, chính quyền Việt Minh đều khôi phục lại tất cả các tỉnh có từ năm 1945 trở về trước.

Giai đoạn 1956-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Việt Nam Cộng hòa (1954-1975), khu vực miền Tây Nam Bộ được gọi là Tây Nam Phần. Sau năm 1956, các "làng" gọi là "xã". Các đơn vị hành chính trực thuộc trong một tỉnh được phân chia, sắp xếp như sau: dưới "tỉnh" là "quận", dưới "quận" là "tổng", dưới "tổng" là "xã", dưới "xã" là "ấp". Sự phân chia, sắp xếp này được duy trì, thực hiện ở cả vùng nông thôn lẫn thành thị. Từ năm 1962, chính quyền bỏ dần, đến năm 1965 thì bỏ hẳn cấp "tổng", các "xã" trực tiếp thuộc các "quận".

Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tất cả các tỉnh đã có từ thời Pháp thuộc ở miền Tây Nam Phần.

Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng bãi bỏ quy chế thị xã trước đó, tiến hành giải thể các thị xã Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch GiáMỹ Tho vốn được chính quyền thực dân Pháp lập nên vào năm 1928.

Ngày 17 tháng 2 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm đồng loạt ban hành các Sắc lệnh về việc thành lập các tỉnh mới ở miền Tây Nam Phần có tên như sau: Tam Cần, Phong Thạnh, Mộc Hóa.

Đến ngày 9 tháng 3 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại ban hành Sắc lệnh số 32-NV cho thành lập thêm tỉnh Cà Mau, trên cơ sở tách đất từ tỉnh Bạc Liêu trước đó. Tỉnh lỵ đặt tại Cà Mau.

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh số 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh, riêng ở miền Tây Nam Phần bao gồm 11 tỉnh có tên như sau: An Xuyên, Ba Xuyên, An Giang, Kiên Giang, Phong Dinh, Vĩnh Long, Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Kiến Phong, Kiến Tường, Định Tường. Các tỉnh mới này được thành lập trên cơ sở đổi tên tỉnh hoặc do hợp nhất 2 tỉnh lại với nhau, cụ thể như sau:

Tên các tỉnh lỵ lúc bấy giờ cũng bị thay đổi như sau:

  • Bến Tre đổi tên thành Trúc Giang (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa)
  • Trà Vinh đổi tên thành Phú Vinh (tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình)
  • Sóc Trăng đổi tên thành Khánh Hưng (tỉnh lỵ tỉnh Ba Xuyên)
  • Cà Mau đổi tên thành Quản Long (tỉnh lỵ tỉnh An Xuyên)

Riêng tên các tỉnh lỵ sau đây thì vẫn được giữ nguyên và không bị thay đổi: Mỹ Tho (tỉnh lỵ tỉnh Định Tường), Cần Thơ (tỉnh lỵ tỉnh Phong Dinh), Rạch Giá (tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang), Long Xuyên (tỉnh lỵ tỉnh An Giang), Tân An (tỉnh lỵ tỉnh Long An), Mộc Hóa (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Tường), Vĩnh Long (tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Long), Cao Lãnh (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong).

Ngày 24 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh phân chia lại địa giới các quân khu, theo đó thành lập mới Đệ ngũ Quân khu, gồm có 13 tỉnh: Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, Kiến Hòa, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiên Giang, An XuyênCôn Sơn.

Danh sách các tỉnh ở miền Tây Nam Phần đầu năm 1957
Tên tỉnh Tên tỉnh lỵ Số quận Tên các quận trực thuộc Tên tỉnh cũ (trước thời điểm ngày 22-10-1956)
An Giang Long Xuyên 8 Châu Thành, Núi Sập, Chợ Mới, Thốt Nốt, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu Long Xuyên, Châu Đốc
An Xuyên Quản Long (Cà Mau) 6 Quản Long, Thới Bình, Sông Ông Đốc, Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn Cà Mau
Ba Xuyên Khánh Hưng (Sóc Trăng) 8 Châu Thành, Bố Thảo, Thạnh Trị, Long Phú, Lịch Hội Thượng, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Phước Long Sóc Trăng, Bạc Liêu
Định Tường Mỹ Tho 7 Châu Thành, Chợ Gạo, Bến Tranh, Cai Lậy, Cái Bè, Gò Công, Hòa Đồng Mỹ Tho, Gò Công
Kiên Giang Rạch Giá 6 Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên An, Kiên Bình, Hà Tiên, Phú Quốc Rạch Giá, Hà Tiên
Kiến Hòa Trúc Giang (Bến Tre) 7 Trúc Giang, Ba Tri, Bình Đại, Giồng Trôm, Hàm Long, Mỏ Cày, Thạnh Phú Bến Tre
Kiến Phong Cao Lãnh 4 Cao Lãnh, Mỹ An, Thanh Bình, Hồng Ngự Phong Thạnh
Kiến Tường Mộc Hóa 3 Châu Thành, Ấp Bắc, Tuyên Bình Mộc Hóa
Long An Tân An 7 Bình Phước, Thủ Thừa, Tân Trụ, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Đức Hòa Chợ Lớn, Tân An
Phong Dinh Cần Thơ 5 Châu Thành, Ô Môn, Phụng Hiệp, Long Mỹ, Kế Sách Cần Thơ
Vĩnh Bình Phú Vinh (Trà Vinh) 9 Châu Thành, Càng Long, Cầu Kè, Cầu Ngang, Long Toàn, Tiểu Cần, Trà Cú, Trà Ôn, Vũng Liêm Trà Vinh
Vĩnh Long Vĩnh Long 6 Châu Thành, Chợ Lách, Tam Bình, Bình Minh, Sa Đéc, Lấp Vò Vĩnh Long, Sa Đéc

Ngày 5 tháng 4 năm 1959, thiết lập tòa đại biểu chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại tây nam Nam Phần, bao gồm các tỉnh: An Xuyên, Long An, Định Tường, Kiến Tường, Kiến Phong, Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên. Trụ sở đặt tại Cần Thơ.

Ngày 16 tháng 4 năm 1959, Tổng thống Việt Nam Cộng hoà ký sắc lệnh phân chia lại địa giới một số quân khu, theo đó Đệ ngũ Quân khu gồm có 12 tỉnh: Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường, Kiến Hòa, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên, Kiên Giang, An XuyênCôn Sơn. Riêng Quân khu Thủ đô gồm có: Thủ đô Sài Gòn, tỉnh Gia Định, tỉnh Long An.

Ngày 21 tháng 1 năm 1961, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 244-NV cho thành lập thêm tỉnh Chương Thiện trên cơ sở tách một phần đất đai từ các tỉnh Phong Dinh (các quận Đức LongLong Mỹ), Kiên Giang (các quận Kiên LongKiên Hưng) và Ba Xuyên (quận Phước Long). Tỉnh lỵ có tên là Vị Thanh.

Ngày 15 tháng 10 năm 1963, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm lại ban hành Sắc lệnh số 124-NV thành lập tỉnh Hậu Nghĩa từ phần đất tách ra của các tỉnh Long An (các quận Đức HòaĐức Huệ), Gia Định (quận Củ Chi) và Tây Ninh (quận Trảng Bàng). Tỉnh lỵ đặt tại Bàu Trai, nhưng lúc này lại có tên gọi mới là Khiêm Cường.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, chính quyền Đệ nhất Cộng hòa của Việt Nam Cộng hòa bị lật đổ, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát. Chính phủ mới của Việt Nam Cộng hòa được thành lập, tiến hành chia tách và trả lại tên gọi cho một vài tỉnh vốn đã bị giải thể và sáp nhập vào các tỉnh khác trước đây, cụ thể như sau:

Ngày 9 tháng 12 năm 1965, Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp chính quyền Việt Nam Cộng hòa là ông Nguyễn Cao Kỳ đã ký ban hành Nghị định phân chia Nam Việt Nam thành 4 vùng chiến thuật, Quân khu Thủ đô và Đặc khu Rừng Sác. Theo đó, Vùng 4 Chiến thuật, gồm có 15 tỉnh: Kiến Tường, Định Tường, Gò Công, Kiến Hòa, Kiến Phong, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Châu Đốc, An Giang, Kiên Giang, Phong Dinh, Chương Thiện, Bạc Liêu, Ba Xuyên, An Xuyên. Tháng 7 năm 1970, các "Vùng chiến thuật" được cải danh trở lại thành các "Quân khu", trong đó có Quân khu 4 với Bộ chỉ huy đặt ở Cần Thơ.

Thời Việt Nam Cộng hòa, tên gọi quận Châu Thành ở một số tỉnh miền Tây Nam Phần bị thay đổi thành tên gọi quận khác như sau:

  • Quận Châu Thành ở tỉnh Gò Công bị giải thể, chia ra thành 2 quận là Hòa Lạc và Hòa Tân;
  • Quận Châu Thành ở tỉnh Kiến Hòa (tỉnh Bến Tre cũ) bị đổi tên thành quận Trúc Giang (sau khi đã tách ra và thành lập quận Hàm Long);
  • Quận Châu Thành ở tỉnh Sa Đéc bị đổi tên thành quận Đức Thịnh (sau khi đã tách ra và thành lập quận Đức Tôn);
  • Quận Châu Thành ở tỉnh Châu Đốc bị đổi tên thành quận Châu Phú (sau khi đã tách ra và thành lập quận An Phú);
  • Quận Châu Thành ở tỉnh Kiên Giang (tỉnh Rạch Giá cũ) bị đổi tên thành quận Kiên Thành (sau khi đã tách ra và thành lập quận Kiên Tân);
  • Quận Châu Thành ở tỉnh Ba Xuyên (tỉnh Sóc Trăng cũ) bị đổi tên thành quận Mỹ Xuyên (sau khi đã tách ra và thành lập quận Thuận Hòa);
  • Quận Châu Thành ở tỉnh An Xuyên (tỉnh Cà Mau cũ) bị đổi tên thành quận Quản Long.
Danh sách các tỉnh ở miền Tây Nam Phần năm 1975
Tên tỉnh Tên tỉnh lỵ Số quận Tên các quận trực thuộc Tên tỉnh cũ (trước thời điểm ngày 22-10-1956)
An Giang Long Xuyên 4 Châu Thành, Huệ Đức, Chợ Mới, Thốt Nốt Long Xuyên
An Xuyên Quản Long (Cà Mau) 6 Quản Long, Thới Bình, Sông Ông Đốc, Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn Cà Mau
Ba Xuyên Khánh Hưng (Sóc Trăng) 8 Mỹ Xuyên, Thuận Hòa, Kế Sách, Thạnh Trị, Ngã Năm, Long Phú, Lịch Hội Thượng, Hòa Tú Sóc Trăng
Bạc Liêu Bạc Liêu 4 Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai, Phước Long Bạc Liêu
Châu Đốc Châu Phú (Châu Đốc) 5 Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu, An Phú Châu Đốc
Chương Thiện Vị Thanh 5 Đức Long, Long Mỹ, Kiên Long, Kiên Hưng, Kiến Thiện Cần Thơ, Rạch Giá
Định Tường Mỹ Tho 8 Châu Thành, Chợ Gạo, Bến Tranh, Sầm Giang, Cai Lậy, Cái Bè, Giáo Đức, Hậu Mỹ Mỹ Tho
Gò Công Gò Công 4 Hòa Đồng, Hòa Lạc, Hòa Tân, Hòa Bình Gò Công
Kiên Giang Rạch Giá 8 Kiên Thành, Kiên Tân, Kiên An, Kiên Lương, Kiên Bình, Hiếu Lễ, Hà Tiên, Phú Quốc Rạch Giá, Hà Tiên
Kiến Hòa Trúc Giang (Bến Tre) 10 Trúc Giang, Ba Tri, Bình Đại, Đôn Nhơn, Giồng Trôm, Hàm Long, Hương Mỹ, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Phước Hưng Bến Tre
Kiến Phong Cao Lãnh 6 Cao Lãnh, Kiến Văn, Mỹ An, Thanh Bình, Đồng Tiến, Hồng Ngự Phong Thạnh
Kiến Tường Mộc Hóa 4 Châu Thành, Kiến Bình, Tuyên Bình, Tuyên Nhơn Mộc Hóa
Long An Tân An 7 Bình Phước, Thủ Thừa, Tân Trụ, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Rạch Kiến Chợ Lớn, Tân An
Phong Dinh Cần Thơ 7 Châu Thành, Phong Phú, Phụng Hiệp, Thuận Nhơn, Thuận Trung, Phong Điền, Phong Thuận Cần Thơ
Sa Đéc Sa Đéc 4 Đức Thịnh, Đức Tôn, Đức Thành, Lấp Vò Sa Đéc
Vĩnh Bình Phú Vinh (Trà Vinh) 7 Châu Thành, Càng Long, Cầu Kè, Cầu Ngang, Long Toàn, Tiểu Cần, Trà Cú Trà Vinh
Vĩnh Long Vĩnh Long 7 Châu Thành, Minh Đức, Vũng Liêm, Chợ Lách, Tam Bình, Trà Ôn, Bình Minh Vĩnh Long

Năm 1970, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho thành lập ở miền Tây Nam Phần 3 thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, tương đương cấp tỉnh lúc bấy giờ, cụ thể như sau:

Tên thị xã Dân số (năm 1974) [8] Quận trực thuộc (nếu có) Đơn vị hành chính trực thuộc Ghi chú
Thị xã Cần Thơ 182.424 quận 1, quận 2 8 phường trực thuộc các quận: An Lạc, An Cư, An Nghiệp, An Hòa, An Thới (quận 1); Hưng Lợi, Hưng Phú, Hưng Thạnh (quận 2) thị xã tự trị kiêm tỉnh lỵ tỉnh Phong Dinh
Thị xã Mỹ Tho 119.892 - 6 khu phố: 1, 2, 3, 4, 5, 6 thị xã tự trị kiêm tỉnh lỵ tỉnh Định Tường
Thị xã Rạch Giá 99.933 - 6 khu phố: Vĩnh Thanh Vân, Vĩnh Thanh, Vĩnh Lạc, Vĩnh Hiệp, An Hoà, Phó Cơ Điều thị xã tự trị kiêm tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang

Chính quyền Cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hầu như không công nhận tên gọi các tỉnh mới ở miền Tây lúc bấy giờ, mà thay vào đó vẫn sử dụng các tên gọi tỉnh cũ trước đây. Riêng tên gọi các tỉnh Long An, An Giang, Kiến PhongKiến Tường thì vẫn được chính quyền Cách mạng sử dụng. Cụ thể như sau:

Năm 1957, địa bàn miền Tây Nam Bộ tương ứng với Khu 8 và Khu 9, bao gồm 12 tỉnh: Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ, Rạch Giá, Sóc Trăng, Cà Mau.

Danh sách các tỉnh trực thuộc Khu 8 và Khu 9 đầu năm 1970
Tên tỉnh của phía Cách mạng Khu trực thuộc Tên các thị xã trực thuộc Tên các huyện trực thuộc Tên tỉnh của phía VNCH
An Giang Khu 8 Long Xuyên, Châu Đốc Châu Thành, Huệ Đức, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu, An Phú, Phú Tân An Giang, Châu Đốc
Cà Mau Khu 9 Cà Mau Châu Thành, Thới Bình, Giá Rai, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Duyên Hải An Xuyên
Sóc Trăng Khu 9 Sóc Trăng, Bạc Liêu Châu Thành, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Long Phú, Lịch Hội Thượng, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi, Hồng Dân Ba Xuyên, Bạc Liêu
Mỹ Tho Khu 8 Mỹ Tho Châu Thành Bắc, Châu Thành Nam, Chợ Gạo, Cai Lậy, Cái Bè Định Tường
Gò Công Khu 8 Gò Công Đông, Tây Gò Công
Rạch Giá Khu 9 Rạch Giá Châu Thành A, Châu Thành B, Tân Hiệp, An Biên, Vĩnh Thuận, Gò Quao, Giồng Riềng, Hà Tiên, Phú Quốc Kiên Giang, Chương Thiện
Bến Tre Khu 8 Bến Tre Châu Thành Đông, Châu Thành Tây, Ba Tri, Bình Đại, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Chợ Lách Kiến Hòa
Long An Khu 8 Tân An Châu Thành, Tân Trụ, Thủ Thừa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Đức HòaĐức Huệ Long An, Hậu Nghĩa
Kiến Phong Khu 8 Cao Lãnh Cao Lãnh, Kiến Văn, Mỹ An, Chợ Mới, Thanh Bình, Tam Nông, Hồng Ngự Kiến Phong
Kiến Tường Khu 8 - Vùng 2, Vùng 4, Vùng 6, Vùng 8 Kiến Tường
Cần Thơ Khu 9 Cần Thơ, Vị Thanh Châu Thành A, Châu Thành B, Ô Môn, Thốt Nốt, Phụng Hiệp, Long Mỹ, Kế Sách Phong Dinh, Chương Thiện
Trà Vinh Khu 9 Trà Vinh Châu Thành, Càng Long, Cầu Kè, Cầu Ngang, Duyên Hải, Tiểu Cần, Trà Cú Vĩnh Bình
Vĩnh Long Khu 9 Vĩnh Long, Sa Đéc Châu Thành, Cái Nhum, Vũng Liêm, Tam Bình, Trà Ôn, Bình Minh, Sa Đéc, Lấp Vò Vĩnh Long, Sa Đéc

Tháng 8 năm 1968, tái lập tỉnh Gò Công trên cơ sở tách ra từ tỉnh Mỹ Tho. Năm 1971, thành lập tỉnh Châu Hà trên cơ sở tách đất từ tỉnh An Giangtỉnh Rạch Giá. Tháng 11 năm 1973, tái lập tỉnh Bạc Liêu trên cơ sở tách ra từ tỉnh Sóc Trăng.

Tháng 5 năm 1974, giải thể các tỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong để tái lập các tỉnh có tên là Long Châu Hà, Long Châu TiềnSa Đéc. Tỉnh Sa Đéc lúc này cũng nhận lại phần đất đã bị sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long từ năm 1957.

Năm 1967, Trung ương Cục miền Nam quyết định tách thị xã Mỹ Tho ra khỏi tỉnh Mỹ Tho để thành lập thành phố Mỹ Tho trực thuộc Khu 8. Năm 1969, tách thị xã Cần Thơ ra khỏi tỉnh Cần Thơ để giao cho Khu 9 quản lý. Đến năm 1972, nâng thị xã Cần Thơ lên trở thành thành phố Cần Thơ trực thuộc Khu 9.

Tên thành phố Năm thành lập Quận trực thuộc Khu trực thuộc Ghi chú
Thành phố Cần Thơ 1972 quận 1, quận 2, quận 3 Khu 9 tồn tại độc lập, ngang hàng với tỉnh Cần Thơ
Thành phố Mỹ Tho 1967 quận 1, quận 2, quận 3, quận 4 Khu 8 tồn tại độc lập, ngang hàng với tỉnh Mỹ Tho

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ vẫn duy trì tên gọi các tỉnh trực thuộc Khu 8 và Khu 9 như cũ cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" ("quận" và "phường" dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).

Vào thời điểm này, Khu 8 và Khu 9 ở miền Tây Nam Bộ có các tỉnh, thành phố trực thuộc như sau:

Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, các tỉnh hợp lại sẽ đề nghị Nhà nước quyết định tên và tỉnh lỵ của tỉnh mới. Lúc này, các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ ban đầu dự kiến sẽ hợp nhất lại như sau:

Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế. Theo đó hợp nhất các tỉnh sau đây thành những tỉnh mới:

Từ năm 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định về việc giải thể Khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ lúc này được hợp nhất như sau:

Ngày 17 tháng 5 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 75-HĐBT[9] về việc đổi tên thị xã Minh Hải thành thị xã Bạc Liêu thuộc tỉnh Minh Hải. Ngày 18 tháng 12 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 170-HĐBT[10] về việc chuyển tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau. Từ đó, tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải đặt tại thị xã Cà Mau cho đến cuối năm 1996.

Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc Hội Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc chia lại một số tỉnh trong cả nước nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng, cụ thể như sau:

Ngày 29 tháng 4 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 36-CP[11] về việc di chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp từ thị xã Sa Đéc về thị xã Cao Lãnh.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc Hội Việt Nam lại ban hành Nghị quyết về việc chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu:

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc Hội Việt Nam ban hành Nghị quyết số 22/2003/QH11[12] về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang. Tỉnh lỵ tỉnh Hậu Giang đặt tại thị xã Vị Thanh.

Danh sách các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 1998 (trong suốt giai đoạn 1992-2003 không hề có tỉnh Hậu Giang, mà ngược lại chỉ có tỉnh Tiền Giang thay thế cho tên gọi tỉnh Mỹ Tho cũ)
Tên tỉnh lúc bấy giờ Tên tỉnh cũ trước năm 1976 Tỉnh lỵ Thành phố Thị xã Huyện
An Giang An Giang Long Xuyên - Long Xuyên, Châu Đốc Châu Thành, Thoại Sơn, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Tân Châu, An Phú, Phú Tân
Cà Mau Cà Mau Cà Mau - Cà Mau Thới Bình, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Cái Nước, Đầm Dơi
Bạc Liêu Bạc Liêu Bạc Liêu - Bạc Liêu Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân
Sóc Trăng Sóc Trăng Sóc Trăng - Sóc Trăng Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Long Phú, Kế Sách
Tiền Giang Mỹ Tho Mỹ Tho Mỹ Tho Gò Công Châu Thành, Chợ Gạo, Cai Lậy, Cái Bè, Tân Phước, Gò Công Đông, Gò Công Tây
Kiên Giang Rạch Giá Rạch Giá - Rạch Giá Châu Thành, Tân Hiệp, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, Gò Quao, Giồng Riềng, Hòn Đất, Hà Tiên, Phú Quốc, Kiên Hải
Bến Tre Bến Tre Bến Tre - Bến Tre Châu Thành, Ba Tri, Bình Đại, Giồng Trôm, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Chợ Lách
Long An Long An, Kiến Tường Tân An - Tân An Châu Thành, Tân Trụ, Thủ Thừa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước, Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Tân Hưng, Vĩnh Hưng
Đồng Tháp Sa Đéc, Kiến Phong Cao Lãnh - Cao Lãnh, Sa Đéc Châu Thành, Lai Vung, Lấp Vò, Cao Lãnh, Tháp Mười, Thanh Bình, Tam Nông, Hồng Ngự, Tân Hồng
Cần Thơ Cần Thơ Cần Thơ Cần Thơ - Châu Thành, Ô Môn, Thốt Nốt, Phụng Hiệp, Vị Thanh, Long Mỹ
Trà Vinh Trà Vinh Trà Vinh - Trà Vinh Châu Thành, Càng Long, Cầu Kè, Cầu Ngang, Duyên Hải, Tiểu Cần, Trà Cú
Vĩnh Long Vĩnh Long Vĩnh Long - Vĩnh Long Long Hồ, Mang Thít, Vũng Liêm, Tam Bình, Trà Ôn, Bình Minh

Các đô thị lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, hầu hết các đô thị vốn trước đây là thị xã tỉnh lỵ của một tỉnh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đều đã trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh (ngoại trừ thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương từ đầu năm 2004). Trong đó, tỉnh An Giang có hai thành phố là Long XuyênChâu Đốc, tỉnh Đồng Tháp có hai thành phố là Cao LãnhSa Đéc.

Trong suốt thời kỳ từ đầu năm 1976 cho đến năm 1999, toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ có hai thành phố (lúc bấy giờ đều là thành phố trực thuộc tỉnh) là Cần ThơMỹ Tho. Từ năm 1999 đến nay, lần lượt các thị xã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh.

Các thành phố lập trước năm 1975:

Các thành phố lập từ năm 1999 đến nay:

Hiện nay, ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có thành phố Cần Thơđô thị loại I trực thuộc Trung ương. Các đô thị loại II trực thuộc tỉnh bao gồm: thành phố Mỹ Tho (thuộc tỉnh Tiền Giang), thành phố Long Xuyên (thuộc tỉnh An Giang), thành phố Rạch Giá (thuộc tỉnh Kiên Giang), thành phố Cà Mau (thuộc tỉnh Cà Mau), thành phố Bạc Liêu (thuộc tỉnh Bạc Liêu). Các thành phố còn lại hiện nay đều là các đô thị loại III trực thuộc tỉnh.

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đa số là người Kinh. Khu vực này trước đây từng là một phần của Đế quốc Khmer, do đó là vùng tập trung người Khmer nhiều nhất bên ngoài nước Campuchia. Người Khmer sống chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăngngười Chăm theo đạo Hồi sống ở Tân Châu, An Giang. Một lượng trung bình người Hoa sống ở Kiên Giang và Trà Vinh. Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17,33 triệu người vào năm 2011.[25]

Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng chậm trong những năm gần đây, chủ yếu do di cư đi nơi khác. Dân số vùng tăng 471.600 người từ năm 2005 đến 2011, trong khi đó 166.400 người di cư chỉ trong năm 2011. Tương tự như vùng duyên hải miền Trung, đây là một trong những nơi tăng dân số chậm nhất nước. Tỷ lệ tăng dân số trong khoảng 0,3% đến 0,5% từ năm 2008 đến 2011, trong khi đó tỷ lệ tăng dân số vùng Đông Nam Bộ lân cận là 2%.[25] Tỷ lệ tăng dân số cơ học trong vùng là âm trong những năm này. Tỷ lệ sinh của vùng cũng khá thấp, ở mức 1,8 trẻ em trên mỗi người phụ nữ vào năm 2010 và 2011, giảm từ 2,0 năm 2005.[25]

Các tỉnh và thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn: Tổng Cục Thống kê Việt Nam.[1][26]
Tỉnh Tỉnh lỵ Thành phố Quận Thị xã Huyện Dân số Diện tích Mật độ dân số BS xe Mã ĐT
An Giang Thành phố Long Xuyên 2 1 8 2.151.000 03.536,7 km² 0.608 người/km² 67 076
Bạc Liêu Thành phố Bạc Liêu 1 6 0.873.300 02.468,7 km² 0.354 người/km² 94 0781
Bến Tre Thành phố Bến Tre 1 8 1.257.800 02.360,6 km² 0.533 người/km² 71 075
Cà Mau Thành phố Cà Mau 1 8 1.214.900 05.294,9 km² 0.229 người/km² 69 0780
Cần Thơ Quận Ninh Kiều 5 4 1.200.300 01.409,0 km² 0.852 người/km² 65 0710
Đồng Tháp Thành phố Cao Lãnh 2 1 9 1.673.200 03.377,0 km² 0.495 người/km² 66 067
Hậu Giang Thành phố Vị Thanh 1 1 5 0.769.200 01.602,5 km² 0.480 người/km² 95 0711
Kiên Giang Thành phố Rạch Giá 1 1 13 1.714.100 06.348,5 km² 0.270 người/km² 68 077
Long An Thành phố Tân An 1 1 13 1.449.600 04.492,4 km² 0.323 người/km² 62 072
Sóc Trăng Thành phố Sóc Trăng 1 1 9 1.303.700 03.311,6 km² 0.394 người/km² 83 079
Tiền Giang Thành phố Mỹ Tho 1 1 8 1.682.600 02.508,3 km² 0.671 người/km² 63 073
Trà Vinh Thành phố Trà Vinh 1 7 1.012.600 02.341,2 km² 0.433 người/km² 84 074
Vĩnh Long Thành phố Vĩnh Long 1 1 6 1.028.600 01.496,8 km² 0.687 người/km² 64 070

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng bằng sông Cửu Long nhìn từ không gian, tháng 2 năm 1996

Đây là vùng có khí hậu cận xích đạo vùng nên thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp (mưa nhiều, nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương thực.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực có các triển vọng về dầu khí trong thềm lục địa như bể trầm tích Nam Côn Sơn khoảng 3 tỉ tấn dầu quy đổi,[cần dẫn nguồn] Thổ Chu – Mã Lai. Ngoài ra đồng bằng còn có các khoáng sản vật liệu xây dựng như sét gạch ngói, cát sỏi....

Các khoáng sản khác không giàu.

Tài nguyên rừng cũng giữ những vai trò quan trọng, đặc biệt là hệ thống rừng ngập mặn ven biển, trong đó hệ thống rừng ngập mặn Mũi Cà Mau được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, bên cạnh đó là những cánh rừng tràm ở U Minh Cà Mau, Đồng Tháp với một hệ thống sinh học vô cùng đa dạng.

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp và thủy sản chưa tới 30% của cả nước nhưng miền Tây đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản của cả nước.[27] Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang. Diện tích và sản lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước. Bình quân lương thực đầu người gấp 2.3 lần so với lương thực trung bình cả nước. Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả đất nước. Ngoài ra cây ăn quả còn đặc sản nổi tiếng của vùng, với sự đa dạng về số lượng, cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao

Nghề nuôi vịt đàn phát triển mạnh, nuôi nhiều ở Đồng Tháp, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà MauSóc Trăng.

Thủy sản[sửa | sửa mã nguồn]

Sản lượng thủy sản chiếm 50% cả nước, nhiều nhất ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên GiangAn Giang. Kiên Giang là tỉnh có sản lượng thủy sản săn bắt nhiều nhất, 239.219 tấn thủy sản (năm 2000). An Giang là tỉnh nuôi trồng thủy sản lớn nhất vùng với sản lượng 80.000 tấn thủy sản (năm 2000). Nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản đang phát triển mạnh, theo quy mô công nghiệp.

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành công nghiệp phát triển rất thấp, chủ yếu là ngành chế biến lượng thực. Cần Thơ là trung tâm công nghiệp của cà vùng bao gồm các ngành nhiệt điện, chế biến lương thực, luyện kim đen, cơ khí, hóa chất, dệt mayvật liệu xây dựng.

Dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực dịch vụ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các ngành chủ yếu: xuất nhập khẩu, vận tải thủy và du lịch. Xuất khẩu gạo chiếm 80% của cả nước. Giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng nhất.

Du lịch sinh thái bắt đầu khởi sắc như du lịch trên sông nước, vườn, khám phá các cù lao. Du lịch bền vững bước đầu hình thành với sự thành công của khu nghỉ dưỡng bền vững Mekong Lodge tại Tiền Giang và nhiều địa phương khác như Bến Tre, Vĩnh Long. Tuy nhiên chất lượng và sức cạnh tranh của các khu du lịch không đồng đều và còn nhiều hạn chế.

Vùng Kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long là tên gọi khu vực phát triển kinh tế động lực ở miền Tây Nam Bộ Việt Nam, gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau. Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm này đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 16 tháng 4 năm 2009 bằng Quyết định số 492/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009.[28]

Theo Quyết định này, đến năm 2020, vùng kinh tế trọng điểm này sẽ là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước. Ngoài ra, vùng kinh tế này còn đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu Cần Thơcầu dây văng bắt ngang qua Sông Hậu, được hoàn thành vào ngày 12 tháng 4 năm 2010. Trước đó ba năm, một tai nạn lúc xây dựng đã làm 54 người chết và làm bị thương hơn 100 người. Cầu được xây dựng để thay thế cho phà và kết nối quốc lộ 1A. Cầu Cần Thơ bắt ngang qua hai tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ. Chi phí xây dựng ước tính là 4.842 tỷ đồng (khoảng 342,6 triệu đô la Mỹ), và là cây cầu mắc nhất Việt Nam lúc mới hoàn thành.[29]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển dựa trên sông nước. Nhiều xóm làng có thể chỉ tới được bằng đường thủy thay vì đường bộ.

Vùng này là cái nôi của nghệ thuật đờn ca tài tử và từ đó phát triển thành nghệ thuật sân khấu cải lương.

Văn học và phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều bộ phim được sản xuất ở vùng này để miêu tả nền văn minh của Đồng bằng sông Cửu Long. Một số phim nổi tiếng có thể kể ra như Mùa len trâuCánh đồng bất tận.

Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn ở Cà Mau đã viết nhiều quyển sách nổi tiếng về cuộc sống ở vùng Đồng bằng.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Steffen Gebhardt, Juliane Huth, Nguyen Lam Dao, Achim Roth, Claudia Kuenzer: A comparison of TerraSAR-X Quadpol backscattering with RapidEye multispectral vegetation indices over rice fields in the Mekong Delta, Vietnam. In: International Journal of Remote Sensing. 33(24) 2012, 7644-7661.
  • Claudia Kuenzer, Huadong Guo, Patrick Leinenkugel, Juliane Huth, Xinwu Li, Stefan Dech: Flood and inundation dynamics in the Mekong Delta: an ENVISAT ASAR based time series analyses. In print at: Remote Sensing. 2012.
  • Patrick Leinenkugel, Thomas Esch, Claudia Kuenzer: Settlement detection and impervious surface estimation in the Mekong delta using optical and SAR data. In: Remote Sensing of Environment. 115(12) 2011, 3007-3019.

Tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Võ Thị Thu Vân và Lê Phát Quới, Đánh giá mối quan hệ các yếu tố tự nhiên và thảm thực vật vùng đất ngập nước của VQG Tràm Chim, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân, Khoa Môi Trường, Đại Học Bách Khoa Tp. HCM, 2006.
  • Lê Phát Quới, Formation of Acid Sulphate Soils in the Lower Mekong Delta, Vietnam. Viện Địa chất, Đại học Ghent, Bỉ, 1995.
  • Lê Phát Quới, Study on Degarded Grey Soil (Plinthosols) in the Plain of Reeds, Lower Mekong Delta, Vietnam. Luận văn Thạc sĩ, Đại học Ghent, Bỉ, 1995.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ Mất 40% đồng bằng Cửu long nếu nước biển dâng một mét
  3. ^ Hiện trạng Công trình thủy lợi Biên giới Việt Nam - Cam Pu Chia, đăng ngày 28/12/2009
  4. ^ Nghiên cứu đánh giá tác động của việc khai thác, phát triển vùng ngập đến dòng chảy lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long, Trần Đức Đông, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam.
  5. ^ Theo Nguyễn Q. Thắng, nhà Nguyễn đặt tên lục tỉnh dựa theo 6 từ cuối của một câu thơ cổ: Khoái mã gia biên vĩnh định an hà (nghĩa: Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước). Do đó, các tỉnh có tên: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên. (Trịnh Hoài Đức, một trong Gia Định tam gia, Nam Bộ xưa và nay, NXB TP. HCM, 2005, tr.147)
  6. ^ La Cochinchine francaise 1873, J.P. Salenave, trang 9: Avril 1870-Délimitation des frontières de la Cochinchine Française et du Cambodge.
  7. ^ Les frontières du Vietnam: Histoire des frontières de la péninsule indochinoise: Frontiére du Royaume de Cambodge de Khmere de la Basse CochinChine, Pierre-Bernard Lafont, trang 164.
  8. ^ bảng thống kê dân số các tỉnh trong phòng bản đồ, Hội trường Thống Nhất
  9. ^ Quyết định 75-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới một số huyện, thị xã thuộc tỉnh Minh Hải do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
  10. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Quyet-dinh/Quyet-dinh-170-HDBT-chuyen-tinh-ly-tinh-Minh-Hai-thi-xa-Ca-Mau-vb43531t17.aspx
  11. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-36-CP-di-chuyen-tinh-ly-Dong-Thap-ve-thi-xa-Cao-Lanh-vb38783t11.aspx
  12. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-chia-va-dieu-chinh-dia-gioi-hanh-chinh-tinh-vb40091t13.aspx
  13. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-09-1999-ND-CP-thanh-lap-thanh-pho-Long-Xuyen-thuoc-tinh-An-Giang-vb45089t11.aspx
  14. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-21-1999-ND-CP-thanh-lap-thanh-pho-Ca-Mau-thuoc-tinh-Ca-Mau-vb18086t11.aspx
  15. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-97-2005-ND-CP-thanh-lap-Rach-Gia-thuoc-tinh-Kien-Giang-dieu-chinh-dia-gioi
  16. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-10-2007-ND-CP-thanh-lap-thanh-pho-Cao-Lanh-thuoc-tinh-Dong-thap-vb16516t11
  17. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-dinh/Nghi-dinh-22-2007-ND-CP-thanh-lap-thanh-pho-Soc-Trang-thuoc-tinh-Soc-Trang-vb16767t1
  18. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-34-NQ-CP-thanh-lap-thanh-pho-Ben-Tre-thuoc-tinh-Ben-Tre-vb92876t13.aspx
  19. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-38-NQ-CP-thanh-lap-thanh-pho-Tan-An-thuoc-tinh-Long-An-vb93661t13.aspx
  20. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-11-NQ-CP-thanh-lap-thanh-pho-Tra-Vinh-vb101850t13.aspx
  21. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-32-NQ-CP-thanh-lap-thanh-pho-Bac-Lieu-vb110874t13.aspx
  22. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-34-NQ-
  23. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet-86-NQ-CP-nam-2013-thanh-lap-phuong-Vinh-Nguon-va-thanh-pho-Chau-Doc-An-Giang-vb201245.aspx
  24. ^ http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet-113-NQ-CP-nam-2013-thanh-lap-thanh-pho-Sa-Dec-Dong-Thap-vb209910.aspx
  25. ^ a ă â General Statistics Office (2012): Statistical Yearbook of Vietnam 2011. Statistical Publishing House, Hanoi
  26. ^ “Số đơn vị hành chính có đến 31/12/2009 phân theo địa phương”. Tổng Cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2011. 
  27. ^ Đồng bằng sông Cửu Long kêu cứu
  28. ^ Quy hoạch xây dựng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và tầm nhìn năm 2050.
  29. ^ “SE Asia’s longest cable-stayed bridge underway in Can Tho”. 28 tháng 9 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2007. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]