Đồng bằng sông Cửu Long

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bài này nói về phần đồng bằng châu thổ sông Mekong trên lãnh thổ Việt Nam. Để xem toàn bộ vùng châu thổ này sông này, xem Mê Kông
Vị trí vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bản đồ Việt Nam (Màu xanh lá)

Vùng đồng bằng sông Cửu Long là một vùng cực nam của Việt Nam, còn được gọi là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ hoặc theo cách gọi của người dân Việt Nam ngắn gọn là Miền Tây, có 1 thành phố trực thuộc trung ương và 12 tỉnh.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2011, tổng diện tích các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long là 40.548,2 km² và tổng dân số của các tỉnh trong vùng là 17.330.900 người.[1]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa nước nổi ở Tứ giác Long Xuyên

Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông MeKong có diện tích 39.734 km². Có vị trí nằm liền kề vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông.

Các điểm cực của đồng bằng trên đất liền, điểm cực Tây 106°26´(xã Mĩ Đức, Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang), cực Đông ở 106°48´(xã Tân Điền, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), cực Bắc ở 11°1´B (xã Lộc Giang, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An) cực Nam ở 8°33´B (huyện Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Ngoài ra còn có các đảo xa bờ của Việt Nam như đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, hòn Khoai.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậubán đảo Cà Mau.

Cách đây khoảng 8.000 năm, vùng ven biển cũ trải rộng dọc theo triền phù sa cổ thuộc trầm tích Pleistocen từ Hà Tiên đến thềm bình nguyên Đông Nam Bộ. Sự hạ thấp của mực nước biển một cách đồng thời với việc lộ ra từng phần vùng đồng bằng vào giai đoạn cuối của thời kỳ trầm tích Pleistocen. Một mẫu than ở tầng mặt đất này được xác định bằng C14 cho thấy nó có tuổi tuyệt đối là 8.000 năm (Ngộ, 1988). Sau thời kỳ băng hà cuối cùng, mực mước biển dâng cao tương đối nhanh chóng vào khoảng 3–4 m trong suốt giai đoạn khoảng 1.000 năm (Blackwelder và những người khác, 1979), gây ra sự lắng tụ của các vật liệu trầm tích biển ở những chỗ trũng thấp của châu thổ; tại đây những sinh vật biển như hàu (Ostrea) được tìm thấy và việc xác định tuổi tuyệt đối của chúng bằng C14 cho thấy trầm tích này được hình thành cách đây khoảng 5.680 năm (Ngộ, 1988).

Đồng cỏ ở Đồng Tháp Mười

Dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, thực vật rừng ngập mặn dày đặc đã bao phủ toàn vùng này, chủ yếu là những cây đước (Rhizophora sp.) và mắm (Avicennia sp.). Những thực vật chịu mặn này đã tạo thuận lợi cho việc giữ lại các vật liệu lắng tụ, làm giảm sự xói mòn do nước hoặc gió, và cung cấp sinh khối cho trầm tích châu thổ (Morisawa M., 1985), và rồi những đầm lầy biển được hình thành. Tại vùng này, cách đây 5.500 năm trước công nguyên, trầm tích lắng tụ theo chiều dọc dưới điều kiện mực nước biển dâng cao đã hình thành những cánh đồng rộng lớn mang vật liệu sét. Sự lắng tụ kéo dài của các vật liệu trầm tích bên dưới những cánh rừng Đước dày đặc đã tích lũy dần để hình thành một địa tầng chứa nhiều vật liệu sinh phèn (pyrit).

Mực nước biển dâng cao, bao phủ cả vùng như thế hầu như hơi không ổn định và bắt đầu có sự giảm xuống cách đây vào khoảng 5.000 năm (Pons L. J. và những người khác, 1982). Sự hạ thấp mực nước biển dẫn đến việc hình thành một mực nước biển mới, sau mỗi giai đoạn như thế thì có một bờ biển mới được hình thành, và cuối cùng hình thành nên những vạt cồn cát chạy song song với bờ biển hiện tại mà người ta thấy ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một cồn cát chia cắt vùng Đồng Tháp Mười và vùng trầm tích phù sa được xác định bằng C14 cho thấy có tuổi tuyệt đối vào khoảng 4.500 năm (Ngộ, 1988).

Sự hạ dần của mực nước kèm theo những thay đổi về môi trường trong vùng đầm lầy biển, mà ở đây những thực vật chịu mặn mọc dày đặc (Rhizophora sp., Avicinnia sp.) được thay thế bởi những loài thực vật khác của môi trường nước ngọt như tràm (Melaleuca sp.) và những loài thực thực vật hoang dại khác (Fimbristylis sp.,Cyperus sp.). Sự ổn định của mực nước biển dẫn đến một sự bồi lắng trầm tích ven biển khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp hơn (Pons L. J. và những người khác, 1989).

Ghe chở chôm chôm trên sông cửu long

Sự tham gia của sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình hình thành vùng châu thổ. Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp vào khoảng 4.000 tỷ m³ nước và vào khoảng 100 triệu tấn vật liệu phù sa (Morgan F. R., 1961), những mảnh vỡ bị bào mòn từ lưu vực sông, mặc dù một phần có thể dừng lại tạm thời dọc theo hướng chảy, cuối cùng được mang đến cửa sông và được lắng tụ như một châu thổ (Morisawa, 1985). Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có chiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích pyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dày tầng đất vùng và không gian vùng (Pons L. J. và csv., 1982). Các con sông nằm được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùng rộng lớn mang vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùng đầm lầy biển (Moormann, 1961). Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong vùng phụ cận của những nhánh sông gần cửa sông mà tại đây ảnh hưởng rửa bởi thủy triều khá mạnh. Ngược lại, vùng châu thổ sông Sài Gòn, nằm kế bên hạ lưu châu thổ sông Mekong, được biểu thị bởi một tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm do lượng vật liệu phù du trong nước sông khá thấp và châu thổ này bị chia cắt bởi nhiều nhánh sông thủy triều và do bởi những vành đai thực vật chịu mặn thì rộng lớn hơn vành đai này ở vùng châu thổ sông Mekong, và kết quả là trầm tích của chúng chứa nhiều axít tiềm tàng (Moormann và Pons, 1974).

Theo công bố của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam), khoảng 40% vùng đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập trong nước do biến đổi khí hậu.[2]

Lịch sử hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Nguyễn độc lập[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Bộ xưa được gọi là xứ Đồng Nai. Năm 1698, xứ Đồng Nai được thiết lập phủ huyện. Phủ Gia Định bao gồm toàn thể đất Nam Bộ và tồn tại suốt từ đó đến năm 1802 thì đổi thành trấn Gia Định.

Năm 1808, vua Gia Long nhà Nguyễn đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (sau chia ra Vĩnh LongAn Giang), Vĩnh Tường (sau này là Định Tường) và Hà Tiên.

Vua Minh Mạng năm 1832 đã đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay Lục tỉnh[3]. Đó là các tỉnh: Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn), Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông; Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây.

Trong số 6 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ thì có 4 tỉnh ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (miền Tây Nam Bộ) ngày nay, bao gồm : Định Tường, Vĩnh Long, An GiangHà Tiên.

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn.

Lúc đầu Pháp gọi département thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện. Khoảng năm 1868, Nam Kỳ có hai mươi bảy inspection (lúc này tiếng Việt gọi là "hạt thanh tra", "địa hạt thanh tra", "khu thanh tra" hay "tiểu khu thanh tra", do Thanh tra cai trị). Từ ngày 5 tháng 6 năm 1871 inspection đổi thành arrondissement (lúc này tiếng Việt gọi là "hạt tham biện.", "địa hạt tham biện.", "khu tham biện. hay "hạt"). Đứng đầu arrondissementadministrateur, tiếng Việt gọi là Chánh tham biện. Dinh hành chánh gọi là tòa tham biện nhưng dân cũng quen gọi là tòa bố (giống như dinh quan bố chánh của nhà Nguyễn cũ). Tham biện dưới quyền Thống đốc đóng ở Sài Gòn. Giúp việc Chánh tham biện là hai phó tham biện; thư ký địa hạt cũng gọi là bang biện tức là secrétaire d’arrondissement. Đến năm 1871 giảm còn 18 hạt, năm 1876 thì tăng lên 19 hạt.

Năm 1876, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, gọi là circonscription administrative, mỗi khu vực lại được chia nhỏ thành các "hạt" hay "tiểu khu" (arrondissement). Ngoại trừ khu vực Sài Gòn là ở miền Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long lúc bấy giờ có 3 khu vực hành chính như sau :

Năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ lập thêm một hạt (tiểu khu) mới là hạt Bạc Liêu thuộc khu vực Bát Xắc từ đất của 2 tổng của hạt Sóc Trăng và 3 tổng của hạt Rạch Giá.

Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi tên gọi "hạt" hay "hạt tham biện" thành "tỉnh" (province) kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Như vậy ở miền Tây Nam Kỳ lúc bấy giờ có 14 tỉnh như sau : Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu.

Đầu thập niên 1900 thực dân Pháp lập thêm cấp quận (circonscription) và cơ sở phái viên hành chánh (délégation administrative), cấp hành chính trung gian giữa tỉnh và tổng; đứng đầu là viên Chủ quận (Chef de la circonscription) và vị Phái viên hành chánh (Délégué administratif) tương ứng.

Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 có ba tỉnh bị giải thể và sáp nhập vào tỉnh khác như sau :

Đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Gò Công, Tỉnh Hà Tiêntỉnh Sa Đéc được tái lập trở lại.

Ngày 18 tháng 12 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập các thành phố : Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch GiáMỹ Tho có Ủy ban thành phố, thị trưởng do chủ tỉnh bổ nhiệm và có ngân sách riêng.

Giai đoạn 1945-1954[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền kháng chiến của Việt Minh do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lãnh đạo ban đầu vẫn duy trì tên gọi của 14 tỉnh ở miền Tây Nam Bộ như trên. Đồng thời, cấp tổng cũng được bãi bỏ, các quận gọi là huyện, các làng gọi là xã.

Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), lúc bấy giờ có sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốctỉnh Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu TiềnLong Châu Hậu như sau :

  • Tỉnh Long Châu Hậu nằm ở phía bờ phải (hữu ngạn) sông Hậu

Đến tháng 10 năm 1950 tỉnh Long Châu Hậu hợp nhất với tỉnh Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà. Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa.

Năm 1951, chính quyền kháng chiến đã thay đổi sắp xếp hành chính nhiều tỉnh ở miền Tây Nam Bộ như sau :

Tuy nhiên, những việc thay đổi hành chính này lại không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại lúc bấy giờ công nhận. Đến năm 1954, chính quyền Việt Minh đều khôi phục lại tất cả các tỉnh có từ năm 1945 trở về trước.

Giai đoạn 1956-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Việt Nam Cộng hòa (1954-1975), khu vực miền Tây Nam Bộ được gọi là Tây Nam Phần. Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Đến năm 1965, tất cả các tổng cũng đều được giải thể.

Ngày 17 tháng 2 năm 1976, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành các Sắc lệnh về việc thành lập các tỉnh mới ở miền Tây Nam Phần có tên như sau : Tam Cần, Phong Thạnh, Mộc Hóa.

Đến ngày 9 tháng 3 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại cho thành lập thêm tỉnh Cà Mau, trên cơ sở tách đất từ tỉnh Bạc Liêu trước đó. Tỉnh lỵ đặt tại Cà Mau.

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143-NV để ” thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam”. Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh, riêng ở miền Tây Nam Phần bao gồm 11 tỉnh có tên như sau : An Xuyên, Ba Xuyên, An Giang, Kiên Giang, Phong Dinh, Vĩnh Long, Kiến Hòa, Vĩnh Bình, Kiến Phong, Kiến Tường, Định Tường. Các tỉnh mới này được thành lập trên cơ sở đổi tên tỉnh hoặc do hợp nhất 2 tỉnh lại với nhau, cụ thể như sau :

Riêng tỉnh Long An thì thuộc khu vực Đông Nam Phần. Tỉnh Long An được thành lập do hợp nhất tỉnh Chợ Lớntỉnh Tân An trước đó. Tỉnh lỵ vẫn giữ nguyên tên cũ là Tân An.

Tên các tỉnh lỵ lúc bấy giờ cũng bị thay đổi như sau :

  • Bến Tre đổi tên thành Trúc Giang (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Hòa)
  • Trà Vinh đổi tên thành Phú Vinh (tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình)
  • Sóc Trăng đổi tên thành Khánh Hưng (tỉnh lỵ tỉnh Ba Xuyên)
  • Cà Mau đổi tên thành Quản Long (tỉnh lỵ tỉnh An Xuyên)

Riêng tên các tỉnh lỵ sau đây thì vẫn được giữ nguyên và không bị thay đổi : Mỹ Tho (tỉnh lỵ tỉnh Định Tường), Cần Thơ (tỉnh lỵ tỉnh Phong Dinh), Rạch Giá (tỉnh lỵ tỉnh Kiên Giang), Long Xuyên (tỉnh lỵ tỉnh An Giang), Mộc Hóa (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Tường), Vĩnh Long (tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Long), Cao Lãnh (tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong).

Ngày 21 tháng 1 năm 1961, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thành lập thêm tỉnh Chương Thiện trên cơ sở tách một phần đất đai từ các tỉnh Phong Dinh, Kiên GiangBa Xuyên. Tỉnh lỵ có tên là Vị Thanh.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, chính quyền Đệ nhất Cộng hòa của Việt Nam Cộng hòa bị lật đổ, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát. Chính phủ mới của Việt Nam Cộng hòa được thành lập, tiến hành trả lại tên các tỉnh đã bị mất trước đây, cụ thể như sau :

Năm 1970, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho thành lập ở miền Tây Nam Phần 3 thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, tương đương cấp tỉnh lúc bấy giờ, cụ thể như sau :

Chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Cộng hoà miền Nam Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hầu như không công nhận tên gọi các tỉnh mới ở miền Tây lúc bấy giờ, mà thay vào đó vẫn sử dụng các tên gọi tỉnh cũ trước đây. Riêng tên gọi các tỉnh An Giang, Kiến PhongKiến Tường thì vẫn được chính quyền Cách mạng sử dụng. Cụ thể như sau :

Tháng 8 năm 1968, tái lập tỉnh Gò Công trên cơ sở tách ra từ tỉnh Mỹ Tho. Năm 1971, thành lập tỉnh Châu Hà trên cơ sở tách đất từ tỉnh An Giangtỉnh Rạch Giá. Tháng 11 năm 1973, tái lập tỉnh Bạc Liêu trên cơ sở tách ra từ tỉnh Sóc Trăng.

Tháng 5 năm 1974, giải thể các tỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong để tái lập các tỉnh có tên là Long Châu Hà, Long Châu TiềnSa Đéc. Tỉnh Sa Đéc lúc này cũng nhận lại phần đất đã bị sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long từ năm 1957.

Năm 1967, Trung ương Cục miền Nam quyết định tách thị xã Mỹ Tho ra khỏi tỉnh Mỹ Tho để thành lập thành phố Mỹ Tho trực thuộc Khu 8. Năm 1969, tách thị xã Cần Thơ ra khỏi tỉnh Cần Thơ để thành lập thành phố Cần Thơ trực thuộc Khu 9.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ vẫn duy trì Khu 8 và Khu 9 ở miền Tây Nam Bộ với các tỉnh, thành phố trực thuộc như sau :

Từ năm 1976 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định về việc giải thể Khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Các tỉnh ở miền Tây Nam Bộ lúc này được hợp nhất như sau :

  • Tỉnh Long An (gồm tỉnh Long An và tỉnh Kiến Tường cũ). Tỉnh lỵ : thị xã Tân An
  • Tỉnh Tiền Giang (gồm tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho cũ). Tỉnh lỵ : thành phố Mỹ Tho
  • Tỉnh Cửu Long (gồm tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh cũ). Tỉnh lỵ : thị xã Vĩnh Long
  • Tỉnh Hậu Giang (gồm tỉnh Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và thành phố Cần Thơ cũ). Tỉnh lỵ : thành phố Cần Thơ
  • Tỉnh Đồng Tháp (gồm tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Phong cũ). Tỉnh lỵ : thị xã Sa Đéc
  • Tỉnh An Giang (gồm một số huyện của tỉnh Long Châu Hà, hai huyện của tỉnh Long Châu Tiền, một huyện của tỉnh Sa Đéc và toàn bộ tỉnh An Giang cũ trước chia ra nay nhập lại giữ tên An Giang). Tỉnh lỵ : thị xã Long Xuyên
  • Tỉnh Kiên Giang (gồm tỉnh Rạch Giá và ba huyện của tỉnh Long Châu Hà cũ). Tỉnh lỵ : thị xã Rạch Giá
  • Tỉnh Minh Hải (gồm tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu cũ). Tỉnh lỵ : thị xã Minh Hải (tên gọi mới của thị xã Bạc Liêu)
  • Tỉnh Bến Tre. Tỉnh lỵ : thị xã Bến Tre

Ngày 17 tháng 5 năm 1984, thị xã Minh Hải lấy lại tên cũ là thị xã Bạc Liêu. Ngày 17 tháng 12 năm 1984, tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải được dời từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau. Từ đó, tỉnh lỵ tỉnh Minh Hải đặt tại thị xã Cà Mau cho đến cuối năm 1996.

Ngày 29 tháng 4 năm 1994, tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp được dời từ thị xã Sa Đéc về thị xã Cao Lãnh.

Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc Hội Việt Nam ban hành Nghị quyết về việc chia lại một số tỉnh trong cả nước nói chung và miền Tây Nam Bộ nói riêng, cụ thể như sau :

  • Chia tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Tỉnh lỵ tỉnh Cần Thơ đặt tại thành phố Cần Thơ. Tỉnh lỵ tỉnh Sóc Trăng đặt tại thị xã Sóc Trăng.
  • Chia tỉnh Cửu Long thành 2 tỉnh, lấy tên là tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh. Tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Long đặt tại thị xã Vĩnh Long. Tỉnh lỵ tỉnh Trà Vinh đặt tại thị xã Trà Vinh.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc Hội Việt Nam lại ban hành Nghị quyết về việc chia tỉnh Minh Hải thành 2 tỉnh có tên là tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu. Tỉnh lỵ tỉnh Bạc Liêu đặt tại thị xã Bạc Liêu. Tỉnh lỵ tỉnh Cà Mau đặt tại thị xã Cà Mau.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc Hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11, về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang. Tỉnh lỵ tỉnh Hậu Giang đặt tại thị xã Vị Thanh.

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đa số là người Kinh. Khu vực này trước đây từng là một phần của Đế quốc Khmer, do đó là vùng tập trung người Khmer nhiều nhất bên ngoài nước Campuchia. Người Khmer sống chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăngngười Chăm theo đạo Hồi sống ở Tân Châu, An Giang. Một lượng trung bình người Hoa sống ở Kiên Giang và Trà Vinh. Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17,33 triệu người vào năm 2011.[4]

Dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng chậm trong những năm gần đây, chủ yếu do di cư đi nơi khác. Dân số vùng tăng 471.600 người từ năm 2005 đến 2011, trong khi đó 166.400 người di cư chỉ trong năm 2011. Tương tự như vùng duyên hải miền Trung, đây là một trong những nơi tăng dân số chậm nhất nước. Tỷ lệ tăng dân số trong khoảng 0,3% đến 0,5% từ năm 2008 đến 2011, trong khi đó tỷ lệ tăng dân số vùng Đông Nam Bộ lân cận là 2%.[4] Tỷ lệ tăng dân số cơ học trong vùng là âm trong những năm này. Tỷ lệ sinh của vùng cũng khá thấp, ở mức 1,8 trẻ em trên mỗi người phụ nữ vào năm 2010 và 2011, giảm từ 2,0 năm 2005.[4]

Các tỉnh và thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn: Tổng Cục Thống kê Việt Nam.[1][5]
Tỉnh Tỉnh lỵ Thành phố Quận Thị xã Huyện Dân số Diện tích Mật độ dân số BS xe Mã ĐT
An Giang Thành phố Long Xuyên 2 1 8 2.151.000 03.536,7 km² 0.608 người/km² 67 076
Bạc Liêu Thành phố Bạc Liêu 1 6 0.873.300 02.468,7 km² 0.354 người/km² 94 0781
Bến Tre Thành phố Bến Tre 1 8 1.257.800 02.360,6 km² 0.533 người/km² 71 075
Cà Mau Thành phố Cà Mau 1 8 1.214.900 05.294,9 km² 0.229 người/km² 69 0780
Cần Thơ Quận Ninh Kiều 5 4 1.200.300 01.409,0 km² 0.852 người/km² 65 0710
Đồng Tháp Thành phố Cao Lãnh 2 1 9 1.673.200 03.377,0 km² 0.495 người/km² 66 067
Hậu Giang Thành phố Vị Thanh 1 1 5 0.769.200 01.602,5 km² 0.480 người/km² 95 0711
Kiên Giang Thành phố Rạch Giá 1 1 13 1.714.100 06.348,5 km² 0.270 người/km² 68 077
Long An Thành phố Tân An 1 1 13 1.449.600 04.492,4 km² 0.323 người/km² 62 072
Sóc Trăng Thành phố Sóc Trăng 1 1 9 1.303.700 03.311,6 km² 0.394 người/km² 83 079
Tiền Giang Thành phố Mỹ Tho 1 1 8 1.682.600 02.508,3 km² 0.671 người/km² 63 073
Trà Vinh Thành phố Trà Vinh 1 7 1.012.600 02.341,2 km² 0.433 người/km² 84 074
Vĩnh Long Thành phố Vĩnh Long 1 1 6 1.028.600 01.496,8 km² 0.687 người/km² 64 070

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng bằng sông Cửu Long nhìn từ không gian, tháng 2 năm 1996

Đây là vùng có khí hậu cận xích đạo vùng nên thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp (mưa nhiều, nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương thực.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực có các triển vọng về dầu khí trong thềm lục địa như bể trầm tích Nam Côn Sơn khoảng 3 tỉ tấn dầu quy đổi,[cần dẫn nguồn] Thổ Chu – Mã Lai. Ngoài ra đồng bằng còn có các khoáng sản vật liệu xây dựng như sét gạch ngói, cát sỏi....

Các khoáng sản khác không giàu.

Tài nguyên rừng cũng giữ những vai trò quan trọng, đặc biệt là hệ thống rừng ngập mặn ven biển, trong đó hệ thống rừng ngập mặn Mũi Cà Mau được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, bên cạnh đó là những cánh rừng tràm ở U Minh Cà Mau, Đồng Tháp với một hệ thống sinh học vô cùng đa dạng.

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp và thủy sản chưa tới 30% của cả nước nhưng miền Tây đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản của cả nước.[6] Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang. Diện tích và sản lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước. Bình quân lương thực đầu người gấp 2.3 lần so với lương thực trung bình cả nước. Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả đất nước. Ngoài ra cây ăn quả còn đặc sản nổi tiếng của vùng, với sự đa dạng về số lượng, cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao

Nghề nuôi vịt đàn phát triển mạnh, nuôi nhiều ở Đồng Tháp, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà MauSóc Trăng.

Thủy sản[sửa | sửa mã nguồn]

Sản lượng thủy sản chiếm 50% cả nước, nhiều nhất ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên GiangAn Giang. Kiên Giang là tỉnh có sản lượng thủy sản săn bắt nhiều nhất, 239.219 tấn thủy sản (năm 2000). An Giang là tỉnh nuôi trồng thủy sản lớn nhất vùng với sản lượng 80.000 tấn thủy sản (năm 2000). Nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản đang phát triển mạnh, theo quy mô công nghiệp.

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành công nghiệp phát triển rất thấp, chủ yếu là ngành chế biến lượng thực. Cần Thơ là trung tâm công nghiệp của cà vùng bao gồm các ngành nhiệt điện, chế biến lương thực, luyện kim đen, cơ khí, hóa chất, dệt mayvật liệu xây dựng.

Dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực dịch vụ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các ngành chủ yếu: xuất nhập khẩu, vận tải thủy và du lịch. Xuất khẩu gạo chiếm 80% của cả nước. Giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng nhất.

Du lịch sinh thái bắt đầu khởi sắc như du lịch trên sông nước, vườn, khám phá các cù lao. Du lịch bền vững bước đầu hình thành với sự thành công của khu nghỉ dưỡng bền vững Mekong Lodge tại Tiền Giang và nhiều địa phương khác như Bến Tre, Vĩnh Long. Tuy nhiên chất lượng và sức cạnh tranh của các khu du lịch không đồng đều và còn nhiều hạn chế.

Vùng Kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long là tên gọi khu vực phát triển kinh tế động lực ở miền Tây Nam Bộ Việt Nam, gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau. Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm này đã được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 16 tháng 4 năm 2009 bằng Quyết định số 492/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009.

Theo Quyết định này, đến năm 2020, vùng kinh tế trọng điểm này sẽ là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước. Ngoài ra, vùng kinh tế này còn đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu Cần Thơcầu dây văng bắt ngang qua Sông Hậu, được hoàn thành vào ngày 12 tháng 4 năm 2010. Trước đó ba năm, một tai nạn lúc xây dựng đã làm 54 người chết và làm bị thương hơn 100 người. Cầu được xây dựng để thay thế cho phà và kết nối quốc lộ 1A. Cầu Cần Thơ bắt ngang qua hai tỉnh Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ. Chi phí xây dựng ước tính là 4.842 tỷ đồng (khoảng 342,6 triệu đô la Mỹ), và là cây cầu mắc nhất Việt Nam lúc mới hoàn thành.[7]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển dựa trên sông nước. Nhiều xóm làng có thể chỉ tới được bằng đường thủy thay vì đường bộ.

Vùng này là nơi cải lương được sinh ra.

Văn học và phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều bộ phim được sản xuất ở vùng này để miêu tả nền văn minh của Đồng bằng sông Cửu Long. Một số phim nổi tiếng có thể kể ra như Mùa len trâuCánh đồng bất tận.

Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn ở Cà Mau đã viết nhiều quyển sách nổi tiếng về cuộc sống ở vùng Đồng bằng.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Steffen Gebhardt, Juliane Huth, Nguyen Lam Dao, Achim Roth, Claudia Kuenzer: A comparison of TerraSAR-X Quadpol backscattering with RapidEye multispectral vegetation indices over rice fields in the Mekong Delta, Vietnam. In: International Journal of Remote Sensing. 33(24) 2012, 7644-7661.
  • Claudia Kuenzer, Huadong Guo, Patrick Leinenkugel, Juliane Huth, Xinwu Li, Stefan Dech: Flood and inundation dynamics in the Mekong Delta: an ENVISAT ASAR based time series analyses. In print at: Remote Sensing. 2012.
  • Patrick Leinenkugel, Thomas Esch, Claudia Kuenzer: Settlement detection and impervious surface estimation in the Mekong delta using optical and SAR data. In: Remote Sensing of Environment. 115(12) 2011, 3007-3019.

Tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Võ Thị Thu Vân và Lê Phát Quới, Đánh giá mối quan hệ các yếu tố tự nhiên và thảm thực vật vùng đất ngập nước của VQG Tràm Chim, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân, Khoa Môi Trường, Đại Học Bách Khoa Tp. HCM, 2006.
  • Lê Phát Quới, Formation of Acid Sulphate Soils in the Lower Mekong Delta, Vietnam. Viện Địa chất, Đại học Ghent, Bỉ, 1995.
  • Lê Phát Quới, Study on Degarded Grey Soil (Plinthosols) in the Plain of Reeds, Lower Mekong Delta, Vietnam. Luận văn Thạc sĩ, Đại học Ghent, Bỉ, 1995.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ Mất 40% đồng bằng Cửu long nếu nước biển dâng một mét
  3. ^ Theo Nguyễn Q. Thắng, nhà Nguyễn đặt tên lục tỉnh dựa theo 6 từ cuối của một câu thơ cổ: Khoái mã gia biên vĩnh định an hà (nghĩa: Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước). Do đó, các tỉnh có tên: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên. (Trịnh Hoài Đức, một trong Gia Định tam gia, Nam Bộ xưa và nay, NXB TP. HCM, 2005, tr.147)
  4. ^ a ă â General Statistics Office (2012): Statistical Yearbook of Vietnam 2011. Statistical Publishing House, Hanoi
  5. ^ “Số đơn vị hành chính có đến 31/12/2009 phân theo địa phương”. Tổng Cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2011. 
  6. ^ Đồng bằng sông Cửu Long kêu cứu
  7. ^ “SE Asia’s longest cable-stayed bridge underway in Can Tho”. 28 tháng 9 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2007. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]