Mỏ Cày

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mỏ Cày
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 10°06′56″B 109°19′40″Đ / 10,11556°B 109,32778°Đ / 10.11556; 109.32778Tọa độ: 10°06′56″B 109°19′40″Đ / 10,11556°B 109,32778°Đ / 10.11556; 109.32778
Diện tích 354,08 km²
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 276.049 người[1]
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Bến Tre
Phân chia hành chính 1 thị trấn và 27 xã
Mã hành chính 833

Mỏ Cày là tên một huyện cũ thuộc tỉnh Bến Tre, Việt Nam.Nổi tiếng với truyền thống chống giặc ngoại xâm, là quê hương đồng khởi với 3 xã Định Thuỷ, Phước Hiệp, Bình Khánh.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm ở phía nam tỉnh Bến Tre, phía Bắc và Đông Bắc là sông Hàm Luông ngăn cách với huyện Giồng Trômthị xã Bến Tre, phía tây là huyện Chợ Lách, phía nam là sông Cổ Chiên ngăn cách với huyện Càng Long (Trà Vinh) và huyện Vũng Liêm (Vĩnh Long), phía đông là huyện Thạnh Phú.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Mỏ Cày là huyện đông dân nhất tỉnh Bến Tre. Với dân số hiện tại khoảng 275.000 người. Diện tích là 352km2. Mật độ dân số: 781người/km2

Chùa[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có chùa Tuyên Linh, thuộc địa phận ấp Tân Quới Đông B (ấp 7), xã Minh Đức được dựng vào năm 1861. Năm 1907, hòa thượng Khánh Hòa cho tu sửa. Năm 1924, chùa mang tên chùa Tuyên Linh. Trong các năm 19411983, chùa lại tiếp tục được trùng tu và mở rộng. Chùa có pho tượng Hộ pháp bằng đồng cao 0,70 m, ngoài vườn chùa có tháp cổ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời chúa Nguyễn, Mỏ Cày nằm trong tổng Tân An, châu Định Viễn. Khi Gia Long lên ngôi (1802), tổng Tân An được thăng lên thành huyện, mỗi cù lao trở thành một tổng (cù lao Minh thành tổng Tân Minh, cù lao Bảo thành tổng An Bảo) thuộc phủ Định Viễn.[2]

Năm 1832, phủ Định Viễn cải thành phủ Hoằng An có hai huyện, Tân Minh và Bảo An, phần đất của Mỏ Cày thuộc huyện Tân Minh.[2]

Đến năm 1837, phủ Hoằng An (phần trên cù lao Minh) chia thành hai huyện: Tân Minh, lỵ sở đặt tại Ba Vát và Duy Minh, lỵ sở đặt tại Cái Quao. Phần đất của Mỏ Cày ngày nay tương ứng với 7 tổng của cù lao Minh trong số 10 tổng lúc bấy giờ.[2]

Năm 1867, Pháp chia cù lao Bảo và cù lao Minh (của tỉnh Vĩnh Long cũ) thuộc tham biện Hoằng Trị, lỵ sở đặt tại Mỏ Cày (nay thị trấn), nhưng đến cuối năm này, Hoằng Trị lại chia thành 2 sở tham biện: sở tham biện Mỏ Cày (tức cả phần đất cù lao Minh) và sở tham biện Bến Tre.[2]

Năm 1918, tỉnh Bến Tre chia làm 4 quận. Trong đó Quận Mỏ Cày và quận Thạnh Phú nằm ở Cù lao Minh.[2]

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, huyện Mỏ Cày gồm thị trấn Mỏ Cày và 24 xã: An Định, An Thạnh, An Thới, Bình Khánh, Cẩm Sơn, Đa Phước Hội, Định Thủy, Hòa Lộc, Hương Mỹ, Khánh Thạnh Tân, Minh Đức, Ngãi Đăng, Nhuận Phú Tân, Phước Hiệp, Phước Mỹ Trung, Tân Bình, Tân Phú Tây, Tân Thành Bình, Tân Thạnh Tây, Tân Trung, Thành An, Thạnh Ngãi, Thanh Tân, Thành Thới.[2]

Ngày 14 tháng 3 năm 1984, chia xã Bình Khánh thành hai xã Lấy tên là xã Bình Khánh Đông và xã Bình Khánh Tây; chia xã Thành Thới thành hai xã lấy tên là xã Thành Thới A, và xã Thành Thới B.

Từ đó, huyện Mỏ Cày có thị trấn Mỏ Cày và 26 xã: An Định, An Thạnh, An Thới, Bình Khánh Đông, Bình Khánh Tây, Cẩm Sơn, Đa Phước Hội, Định Thủy, Hòa Lộc, Hương Mỹ, Khánh Thạnh Tân, Minh Đức, Ngãi Đăng, Nhuận Phú Tân, Phước Hiệp, Phước Mỹ Trung, Tân Bình, Tân Phú Tây, Tân Thành Bình, Tân Thạnh Tây, Tân Trung, Thành An, Thạnh Ngãi, Thanh Tân, Thành Thới A, Thành Thới B.

Huyện Mỏ Cày được chia tách thành huyện Mỏ Cày BắcMỏ Cày Nam vào ngày 9 tháng 2 năm 2009[3]:

  • Huyện Mỏ Cày Bắc có 13 xã: Hòa Lộc, Hưng Khánh Trung A, Khánh Thạnh Tân, Nhuận Phú Tân, Phú Mỹ, Phước Mỹ Trung, Tân Bình, Tân Phú Tây, Tân Thành Bình, Tân Thanh Tây, Thành An, Thạnh Ngãi, Thanh Tân.
  • Huyện Mỏ Cày Nam có thị trấn Mỏ Cày và 16 xã: An Định, An Thạnh, An Thới, Bình Khánh Đông, Bình Khánh Tây, Cẩm Sơn, Đa Phước Hội, Định Thủy, Hương Mỹ, Minh Đức, Ngãi Đăng, Phước Hiệp, Tân Hội, Tân Trung, Thành Thới A, Thành Thới B.

Như vậy huyện này không còn tồn tại nữa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]