Mỏ Cày Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Mỏ Cày Nam là một đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam chính thức được thành lập vào ngày 25 tháng 3 năm 2009 theo Nghị định số 08/CP ngày 9 tháng 2 năm 2009 của Chính phủ Việt Nam.[1] Huyện này thuộc tỉnh Bến Tre.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời chúa Nguyễn, vùng đất Mỏ Cày nằm trong tổng Tân An, châu Định Viễn. Khi Gia Long lên ngôi vua (1802), tổng Tân An được thăng lên thành huyện, mỗi cù lao trở thành một tổng (cù lao Minh thành tổng Tân Minh, cù lao Bảo thành tổng An Bảo) thuộc phủ Định Viễn.

Năm 1832, phủ Định Viễn cải thành phủ Hoằng An có hai huyện, Tân Minh và Bảo An, phần đất của Mỏ Cày thuộc huyện Tân Minh.

Đến năm 1837, nghĩa là sau khi lập xong Địa bạ Minh Mạng, phủ Hoằng An (phần trên cù lao Minh) lại chia thành hai huyện: Tân Minh, lỵ sở đặt tại Ba Vát và Duy Minh, lỵ sở đặt tại Cái Quao. Phần đất của Mỏ Cày ngày nay tương ứng với 7 tổng của cù lao Minh trong số 10 tổng lúc bấy giờ.

Năm 1867, Pháp chiếm xong cả Nam Kỳ Lục tỉnh, phân định lại địa giới hành chính, thì cù lao Bảo và cù lao Minh (của tỉnh Vĩnh Long cũ) thuộc tham biện Hoằng Trị, lỵ sở đặt tại Mỏ Cày (thị trấn ngày nay), nhưng đến cuối năm này, Hoằng Trị lại chia thành 2 sở tham biện: sở tham biện Mỏ Cày (tức cả phần đất cù lao Minh) và sở tham biện Bến Tre (tức cả phần đất cù lao Bảo).

Ngày 1-1-1900, nghị định của Toàn quyền Paul Doumer ký ngày 20-12-1899 bắt đầu thi hành, các sở tham biện và đại lý (délégation) đổi thành tỉnh (province). Tỉnh Bến Tre được thành lập gồm cù lao Bảo và cù lao Minh, có 21 tổng (bỏ cấp huyện).

Năm 1918, chính quyền thuộc địa phục hồi chế độ hành chính cấp quận (thay cho huyện làm trung gian giữa tỉnh và tổng), lúc bấy giờ tỉnh Bến Tre chia làm 4 quận.

- Cù lao Bảo: Quận Châu Thành và quận Ba Tri.

- Cù lao Minh: Quận Mỏ Cày và quận Thạnh Phú.

Quận Mỏ Cày lúc bấy giờ gồm 8 tổng, 27 thôn.

Sau Cách mạng tháng Tám-1945, quận Mỏ Cày có 29 xã và một thị trấn. Đầu năm 1946, sau khi hai tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long bị giặc Pháp chiếm, để tiện việc chỉ đạo và việc đi lại hoạt động của cán bộ, tỉnh Vĩnh Long đã cắt giao 5 xã ở phía tây nam cù lao Minh về Bến Tre, để sáp nhập vào huyện Mỏ Cày. Đến đầu năm 1947, 14 xã phía bắc Mỏ Cày được cắt ra, sáp nhập cùng 5 xã do tỉnh Vĩnh Long giao trước đó, lập thành một huyện mới lấy tên là Chợ Lách trực thuộc tỉnh Bến Tre.

Trong thời chống Mỹ, để việc chỉ đạo được sát, kịp thời và thuận tiện cho việc đi lại hoạt động, Mỏ Cày được chia thành 2 huyện: Mỏ Cày Bắc (gồm 16 xã) và Mỏ Cày Nam (gồm 13 xã), lấy con sông Mỏ Cày làm ranh giới. Trong khi đó (1956), chính quyền Sài Gòn chủ trương đổi tên tỉnh Bến Tre thành tỉnh Kiến Hòa gồm 3 cù lao và chia thành 10 quận: Châu Thành, Bình Đại (cù lao An Hóa), Hàm Long, Giồng Trôm, Ba Tri (cù lao Bảo), Chợ Lách, Đôn Nhơn, Mỏ Cày, Hương Mỹ, Thạnh Phú (cù lao Minh) và thị xã Bến Tre được đổi thành Trúc Giang.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975), tỉnh chủ trương tách 5 xã Hưng Khánh Trung, Vĩnh Thành, Vĩnh Hòa, Phú Mỹ, Phú Sơn của Mỏ Cày, sáp nhập vào huyện Chợ Lách. Các xã còn lại của Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam hợp thành huyện Mỏ Cày với tổng số xã là 26 và một thị trấn. Đó là các xã Đa Phước Hội, An Thạnh, An Thới, Thành Thới A, Thành Thới B, Cẩm Sơn, Ngãi Đăng, Hương Mỹ, Minh Đức, Tân Trung, An Định, Bình Khánh Đông, Bình Khánh Tây, Phước Hiệp, Định Thủy, Hòa Lộc, Thành An, Thanh Tân, Phước Mỹ Trung, Tân Phú Tây, Tân Thanh Tây, Khánh Thạnh Tân, Nhuận Phú Tân, Tân Thành Bình, Thạnh Ngãi, Tân Bình và thị trấn Mỏ Cày.

Mỏ Cày Nam vốn là một phần của huyện Mỏ Cày. Ngày 25 tháng 3 năm 2009, sau khi phần phía Bắc của huyện Mỏ Cày và một phần nhỏ của huyện Chợ Lách hợp lại thành huyện Mỏ Cày Bắc. Phần còn lại của huyện Mỏ Cày được lập thành Mỏ Cày Nam.

Đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Mỏ Cày Nam gồm 17 đơn vị hành chính

  1. An Định
  2. An Thạnh
  3. An Thới
  4. Bình Khánh Đông
  5. Bình Khánh Tây
  6. Cẩm Sơn
  7. Đa Phước Hội
  8. Định Thuỷ
  9. Hương Mỹ
  10. Minh Đức
  11. Ngãi Đăng
  12. Phước Hiệp
  13. Tân Hội
  14. Thành Thới A
  15. Thành Thới B
  16. Tân Trung

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Mỏ Cày Nam rộng 219,8895 km2 và có 166.474 dân (tính tại thời điểm có nghị định thành lập huyện). Mật độ dân số 757 người/km2.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Về địa giới hành chính, Mỏ Cày Nam có phía Đông giáp huyện Giồng Trôm; Tây giáp tỉnh Trà Vinh; Bắc - Đông Bắc giáp huyện Mỏ Cày Bắc và huyện Giồng Trôm; Nam - Tây Nam giáp huyện Thạnh Phú và tỉnh Trà Vinh.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thu nhập bình quân đầu người 23 triệu đồng/năm 2013, và tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 13,3%.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]