Bình Đại

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bình Đại
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 10°11′12″B 106°42′9″Đ / 10,18667°B 106,7025°Đ / 10.18667; 106.70250 (Thị trấn Bình Đại)Tọa độ: 10°11′12″B 106°42′9″Đ / 10,18667°B 106,7025°Đ / 10.18667; 106.70250
Diện tích 401 km²
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 132.193 người
 Mật độ 330 người/km²
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Tỉnh Bến Tre
Huyện lỵ Thị trấn Bình Đại

Huyện Bình Đại thuộc tỉnh Bến Tre, đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm trên cù lao An Hoá, so với các huyện khác trong tỉnh Bến Tre thì Bình Đại có phần cô lập, nằm lẻ loi trên một dãy cù lao:

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Bình Đại có 20 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 01 thị trấn huyện lỵ và 19 :

  1. Bình Thắng
  2. Bình Thới
  3. Châu Hưng
  4. Đại Hòa Lộc
  5. Định Trung
  6. Lộc Thuận
  7. Long Định
  8. Long Hòa
  9. Phú Long
  10. Phú Thuận
  11. Phú Vang
  12. Tam Hiệp (cù lao Tam Hiệp)
  13. Thạnh Phước
  14. Thạnh Trị
  15. Thới Lai
  16. Thới Thuận
  17. Thừa Đức
  18. Vang Quới Đông
  19. Vang Quới Tây

Giáo dục y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bình Đại là một trong ba huyện ven biển của Bến Tre, nhưng không được nhiều thuận lợi như Ba TriThạnh Phú. Bình Đại thường xuyên chịu sự xâm nhập của nước mặn vào tận các xã ở giữa cù lao như Lộc Thuận, Vang Quới Đông, biến nơi đây thành khu vực hoang vu mà người dân gọi là đồng Bưng Lớn.

Người dân Bình Đại làm vườn, làm ruộng, trồng giồng và đánh cá biển, chế biến những sản phẩm của biển.

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc sản dưa hấu mà Nguyễn Liên Phong từng ca ngợi trong Nam Kỳ phong tục, nhân vật diễn ca: “Tư bề Thừa Đức nội thôn. Đất trồng dưa hấu ngọt ngon quá chừng”, chính là dưa hấu Cửa Đại. Dưa Cửa Đại từng được bằng khen trong hội chợ đấu xảo canh nông Nam Kỳ do Pháp tổ chức vào đầu những năm ba mươi của thế kỷ này. Ngoài ra, bí đỏ Giồng Giếng (Thạnh Phước), mãng cầu Thới Thuận cũng là đặc sản có tiếng trong vùng.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân Bình Đại ngoài nghề làm vườn, làm ruộng còn có nghề trồng giồng và nghề đánh cá biển, chế biến những sản phẩm của biển. Ở các xã Thừa Đức, Thới Thuận, Thạnh Phước có những gia đình chuyên sống bằng nghề trồng giồng.[1]

Nghề đánh cá[sửa | sửa mã nguồn]

Nghề đánh cá ở Bình Đại là một nghề có truyền thống lâu đời và có những nét độc đáo riêng. Chuyên khảo tỉnh Mỹ Tho ghi nghề cá tỉnh Mỹ Tho gồm có bốn làng: Thừa Đức, Thới Thuận, Thọ Phú, Phước Thuận (tức các xã Thừa Đức, Thới Thuận, Thạnh Phước hiện nay).[1]

Một nghề đáng lưu ý nữa của ngư dân Bình Đại là nghề câu kiều. Dụng cụ của nghề này là một giàn lưỡi câu to, rất bén nhưng không có ngạnh (có giàn tới cả ngàn lưỡi câu), phao câu được tra vào những sợi dây giềng với khoảng cách và chiều dài theo một quy tắc nhất định. Sóng và dòng nước chảy làm dao động dàn phao, chuyển thành làn xoáy, khiến các loài cá như cá mập, cá đuối, cá đao... phải lặn xuống sâu để vượt qua giàn lưỡi câu, chúng bị lưỡi câu sắc bén ấy móc vào thịt. Lúc ấy, ngư dân dùng dao đâm chết cá rồi trục lên ghe đem về.[1]

Nghề đóng ghe[sửa | sửa mã nguồn]

Gắn liền với nghề đánh bắt hải sản ở Bình Đại là nghề đóng ghe nổi tiếng của cánh thợ vùng Thới Thuận. Ghe của vùng biển Bình Đại thường được gọi là ghe cửa. Đặc điểm của loại ghe này là mũi cao vừa phải, lườn rộng, thân vững chắc, bánh lái dẹp và dài, hai buồm, trục cuốn và buồm đan bằng lá buông.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm ở vị trí bốn bên là sông và biển bao bọc, Bình Đại có nhiều lợi thế về giao thông thủy. Ghe tàu đi đánh cá ngoài biển, khi về thường đổ ở bến Bình Thắng để đưa sản phẩm lên chợ Bà Khoai, chợ lớn nhất của huyện. Tỉnh lộ 883 dài 58,33 km, chạy từ đầu huyện đến cuối huyện, một đầu nối với quốc lộ 60.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Nguyễn (1802-1945), Bình Đại không nằm trong địa giới tổng Tân An như huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Mỏ Cày (1779) và huyện Tân An (1808). Khi chính quyền thuộc địa Pháp bỏ danh từ sở tham biện (inspection) lập tỉnh Bến Tre (1900), thì Bình Đại vẫn là vùng đất nằm ngoài ranh giới tỉnh Bến Tre hiện nay. Địa giới hành chính Bình Đại thay đổi theo các giai đoạn lịch sử như sau:

  • Năm 1779 thuộc dinh Phiên Trấn, trong địa giới của huyện Kiến Khương, tổng Kiến Hòa.
  • Năm 1806, huyện Kiến Khương đổi thành huyện Kiến An.
  • Năm 1808, tổng Kiến Hòa được nâng thành huyện. Dinh Phiên Trấn đổi thành dinh Trấn Định, phần đất Bình Đại thuộc tổng Hòa Bình của huyện này.
  • Năm 1831, vua Minh Mạng chia đất huyện Kiến Hòa, lập thêm huyện Tân Hòa. Huyện Kiến Hòa khi ấy có 5 tổng, 162 thôn. Sau năm 1832, huyện này thuộc tỉnh Định Tường, phần đất Bình Đại nằm trong địa giới hai tổng Hòa Hằng và Hòa Thịnh. Triều Tự Đức, tổng Hòa Hằng đổi tên là tổng Hòa Quới, vẫn thuộc huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường.
  • Khi tỉnh Mỹ Tho được thành lập (1 tháng 1 năm 1900), hai tổng Hòa Quới, Hòa Thinh thuộc tỉnh này. Năm 1902, địa giới huyện Bình Đại hiện nay thuộc tổng Hòa Thinh và một phần tổng Hòa Quới. Vào thập niên 1930, Pháp lập quận An Hóa, bao gồm đất của hai tổng Hòa Quới, Hòa Thinh và một phần tổng Thuận Trị, nghĩa là toàn bộ cù lao An Hóa.
  • Giai đoạn 1945–1954, theo địa giới đơn vị hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, quận An Hóa (trong đó có huyện Bình Đại ngày nay) thuộc tỉnh Mỹ Tho. Về phía Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, huyện An Hóa sáp nhập vào tỉnh Bến Tre từ 1948.
  • Năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tỉnh Bến Tre thành tỉnh Kiến Hòa. Tháng 6 năm 1956, quận Bình Đại được thành lập, thuộc tỉnh Kiến Hòa, gồm các xã từ phía đông kênh An Hóa ra đến biển. Địa danh quận Bình Đại chính là lấy từ tên làng Bình Đại, nơi đặt lỵ sở của quận. Về phía Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, cuối năm 1956, nhập quận Bình Đại vào tỉnh Bến Tre.
  • Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, Kiến Hòa lấy lại tên cũ Bến Tre và Bình Đại là một trong 7 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bến Tre. Ngày 1 tháng 10 năm 1979, theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), huyện Bình Đại gồm 19 xã và 01 thị trấn, với diện tích 38.572 ha.[2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]