Định Tường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản đồ hành chính Việt Nam Cộng hòa, cho thấy địa giới tỉnh Định Tường vào năm 1967.
Bản đồ hành chính Việt Nam Cộng hòa, cho thấy địa giới tỉnh Định Tường vào năm 1967.

Định Tường là một tỉnh cũ ở Tây Nam Bộ Việt Nam.

[sửa] Lịch sử vùng đất cổ

Vùng đất Định Tường trước đây thuộc nước Chân Lạp, nay thuộc địa bàn các tỉnh Tiền Giang, Bến TreĐồng Tháp ngày nay.

Vào thế kỉ 17, các chúa Nguyễn ra lệnh khai phá, đặt thành đất Vũng Cù và Mỹ Tho. Năm 1679, viên tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch cùng thuộc hạ vượt biển xin cư trú tại đây, chúa Nguyễn cho họ lập làng, ấp ở Mỹ Tho cùng với người Việt di dân khẩn hoang. Năm 1772, vùng này được lập thành đạo Trường Đồn; đến năm 1781, đổi là dinh Trấn Định; năm 1808, đổi là trấn, thuộc Gia Định. Sau đó lập tỉnh Định Tường vào năm 1832.

[sửa] Tỉnh Định Tường thời nhà Nguyễn

Tỉnh được thành lập năm Minh Mạng thứ 13 (1832) và là một trong 6 tỉnh của Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh).

Theo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862, Định Tường cùng với Biên HòaGia Định bị cắt nhượng cho Pháp. Năm 1876, tỉnh Định Tường bị Pháp giải thể và biến thành 2 tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) là Mỹ Tho và Gò Công, thuộc khu vực hành chính (circonscription) Mỹ Tho. Sau này 2 hạt Mỹ Tho và Gò Công trở thành 2 tỉnh Mỹ ThoGò Công.

[sửa] Tỉnh Định Tường thời Việt Nam Cộng Hòa

Tỉnh Định Tường được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 trên phần đất tỉnh Mỹ Tho (trừ vùng nằm phía nam sông Tiền Giang là quận An Hóa thì đổi tên thành quận Bình Đại và nhập vào tỉnh Kiến Hòa) và là một trong 22 tỉnh của Nam Phần lúc đó. Tỉnh Định Tường bắc giáp tỉnh Kiến Tường, đông bắc giáp tỉnh Long An, đông giáp tỉnh Gò Công, tây nam và nam giáp hai tỉnh Vĩnh LongKiến Hòa, tây giáp tỉnh và Kiến Phong, tây nam giáp tỉnh Sa Đéc khi tỉnh này được tái lập. Ranh giới phía nam của tỉnh Định Tường là sông Tiền Giang (đoạn này còn gọi là sông Mỹ Tho). Tỉnh lị là Mỹ Tho. Định Tường có diện tích khoảng 1.900 km². Dân số năm 1965 là 514.146 người.

Gồm 5 quận ban đầu: Bến Tranh, Cái Bè (năm 1961 đổi thành quận Sùng Hiếu sau khi tách quận Giáo Đức ra, đến năm 1964 lại quay lại tên cũ), Cai Lậy (năm 1961 đổi thành quận Khiêm Ích, đến năm 1964 lại quay lại tên cũ), Châu Thành, Chợ Gạo. Năm 1960 quận Châu Thành cũ đổi thành quận Long Định, đến năm 1964 lại tách quận Châu Thành mới ra từ quận Long Định. Lập quận Giáo Đức năm 1961, tách ra từ quận Cái Bè. Quận Long Định đến năm 1969 đổi thành quận Sầm Giang. Ngày 12 tháng 7 năm 1974, lập quận mới Hậu Mỹ, do tách một phần đất của các quận Cái Bè, Giáo Đức, Cai Lậy cùng tỉnh và của quận Kiến Bình (tỉnh Kiến Tường) và của quận Mỹ An (tỉnh Kiến Phong) nhưng chưa sắp xếp xong thì chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ.

Tuy nhiên chính quyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tỉnh này và vẫn giữ tỉnh cũ là Mỹ Tho.

Ngày 20 tháng 12 năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập tỉnh Gò Công, tách từ tỉnh Định Tường.

Tháng 2 năm 1976, tỉnh Định Tường sáp nhập với tỉnh Gò Công thành tỉnh Tiền Giang.

Công cụ cá nhân