Chân Lạp
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Lịch sử Campuchia |
|---|
|
|
| Buổi đầu lịch sử |
| Cuộc di cư của người Kamboja |
| Phù Nam (1-630) |
| Chân Lạp (550-802) |
| Đế quốc Khmer (802-1432) |
| Thời kỳ suy thoái (1432-1863) |
| Thời thuộc địa (1863-1953) |
| Sau độc lập (từ 1954) |
| Nội chiến (1967-1975) |
| Khmer Đỏ (1975-1979) |
| Cộng hòa nhân dân Kampuchea (1979-1993) |
| Thời hiện đại (1993-hiện tại) |
Chân Lạp (tiếng Khmer: ចេនឡា, tiếng Trung: 真腊) là một quốc gia cổ được các tộc người Môn-Khmer thành lập và tồn tại ở trung tâm bán đảo Đông Dương trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802.
Triều đại các vị vua của Chân Lạp theo truyền thuyết có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Từ "campu" cũng bắt nguồn cho tên gọi của Campuchia sau này.
Các vương quốc láng giềng xung quanh vào thời kỳ ban đầu là Chăm Pa ở phía đông, Phù Nam ở phía nam và Pyu (thuộc Myanma ngày nay) ở về phía tây bắc.
Ban đầu như là một nhà nước chư hầu của Phù Nam (khoảng cho tới năm 550)[1], trong vòng 60 năm sau đó nhà nước này đã giành được độc lập và dần dần lấn lướt Phù Nam. Đến thế kỷ 6 thì họ đã xâm chiếm được miền bắc của Phù Nam. Cuối cùng, trong thế kỷ 7 (khoảng giai đoạn 612-628), nhà nước này đã xâm chiếm toàn bộ Phù Nam, chiếm toàn bộ dân cư của nhà nước đó nhưng lại hấp thu nền văn hóa của họ. Sự suy yếu của Phù Nam vào thời gian đó có thể được giải thích chủ yếu bởi các sự kiện xảy ra ở nơi cách đó rất xa: sự sụp đổ của đế quốc La Mã và vì thế là hành trình thương mại trên biển giữa vùng Địa Trung Hải với Trung Quốc đi qua vùng biển của Phù Nam. Năm 613, Ishanapura trở thành kinh đô đầu tiên của đế quốc mới[1].
Mục lục |
[sửa] Lịch sử
Người Khmer, mà ban đầu quốc gia của họ là một nước chư hầu của Phù Nam, đã tiến tới sông Mê Kông từ phía bắc sông Mê Nam thông qua thung lũng sông Mun. Lãnh thổ ban đầu của nó tương ứng với phần đất là miền trung và nam Lào cùng với vùng đông bắc Thái Lan ngày nay. Các ghi chép sử học Trung Hoa cổ đại đề cập tới hai vị vua, Shrutavarman (trị vì 435-495) và Shreshthavarman (trị vì 495-530), những người trị vì tại kinh đô Shreshthapura nằm ở miền nam Lào ngày nay[2], có lẽ trong khu vực cận kề Wat Phu gần Bassac[3]. Chuẩn bị có tầm quan trọng lớn cho sự ra đời của đế quốc Chân Lạp rộng lớn là thời kỳ vua Bhavavarman I (550-598) với kinh đô đặt tại Bhavapura (ngày nay có lẽ là khu vực Sambor Prei Kuk, tỉnh Kampong Thom, Campuchia) với một số chiến dịch chống lại Phù Nam. Sau khi Bhavavarman I chết năm 598, người anh em của ông là Citrasena (tên gọi khi trị vì là Mahendravarman, thực tế cầm quyền từ năm 590) đã tiếp tục công việc xâm chiếm Phù Nam. Ishanavarman I, con trai của Citrasena, đã hoàn thành công cuộc xâm chiếm vương quốc Phù Nam trong giai đoạn 612-628. Ông đổi tên kinh đô từ Bhavapura thành Ishanapura[2].
Sau khi vua Bhavavarman II chết năm 656, phần lớn Chân Lạp bị chia tách thành các tiểu quốc nhỏ độc lập. Vua Jayavarman I đã có những cố gắng để thống nhất đất nước và ông đã giành lại phần lớn phần lãnh thổ được vua Ishanavarman I cai trị trước đó.
Sau khi vua Jayavarman I chết năm 700, rối loạn trong vương quốc lại xảy ra và vương quốc lại bị chia nhỏ giữa nhiều thế lực cát cứ. Các sử liệu Trung Hoa thì cho rằng trong thế kỷ 8, Chân Lạp bị chia thành hai tiểu quốc là Lục Chân Lạp (với trung tâm của Lục Chân Lạp khi đó là tỉnh Champasak ngày nay của Lào) và Thủy Chân Lạp (tương ứng với khu vực đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam và miền nam Campuchia ngày nay). Từ hai quốc gia này có lẽ lại tách ra thành một vài tiểu quốc khác, tiếp tục làm suy yếu Chân Lạp. Các tiểu quốc chủ yếu tại Thủy Chân Lạp là Shambupura, Vyadhapura, Souht Prei Veng, Bhavapura, với trung tâm tại Sambor Prei Kuk. Năm 716, Pushkaraksha, người cai trị Shambhupura (khu vực Kratie ngày nay) tuyên bố mình là vua của toàn bộ Kambuja. Cũng trong khoảng thời gian này, Shambhuvarman, con trai của Pushkaraksha, đã kiểm soát phần lớn Thủy Chân Lạp cho tới khi (cũng trong thế kỷ 8) người Mã Lai và người Java thống trị trên nhiều tiểu quốc Khmer. Cổ sử còn đề cập tới Rjendravarman I, con trai của Sambhuvarman và Mahipativarman, con trai của Rjendravarman I. Ông này có lẽ là vị vua bị người Java chặt đầu[2].
[sửa] Các vị vua
| Vua | Tên | Trị vì | Thụy hiệu |
| Bhavavarman I | Bhavavarman | 550-598 | không |
| Mahendravarman | Citrasena/Chet Sen | 590-610 | không |
| Ishanavarman I | Ishanavarman | 611-628 | không |
| Bhavavarman II | Bhavavarman | 638-656 | Shivaloka |
| Jayavarman I | Jayavarman | 657-700 | ? |
| Nữ hoàng: Jayavedi | Jayavedi | 713 | |
| Hai vương quốc Chân Lạp: Lục Chân Lạp (bắc) và Thủy Chân Lạp (nam): 706-802 | |||
| Đế quốc Java xâm chiếm: 774-802 | |||
[sửa] Ghi chú
- ^ a b “"Chenla (Pre-Angkor Era)". History of Cambodia”. Truy cập 21 tháng 6 năm 2004.
- ^ a b c Chronology of Khmer Kings - Chenla
- ^ Rise of Kambuj
[sửa] Liên kết ngoài
- “"The State of Zhenla" History of the Khmer People.”. Truy cập 20-4-2006.
- The Treasures of Angkor. ISBN 88-544-0117-X

