Khmer
ខ្មែរ
|
|
|
|
| Tổng dân số |
|
16 million (2008 est.)
|
| Khu vực đông người sinh sống |
Campuchia |
14.2 million[1] |
|
Thái Lan |
1.4 million |
|
Việt Nam |
1.3 million |
|
Hoa Kỳ |
241,025[2] |
|
Pháp |
68,000 |
|
Úc |
25,710[3] |
|
Canada |
25,000 |
|
Malaysia |
11,381 |
|
Hàn Quốc |
10,000 |
|
New Zealand |
6,918[4] |
|
Đài Loan |
5,219[5] |
|
Lào |
5,200 |
|
Bỉ |
3,500 |
|
Đức |
3,000 |
|
Nhật Bản |
331 |
|
Nga |
110[6] |
|
|
| Ngôn ngữ |
| tiếng Khmer, tiếng Khmer Bắc, tiếng Pháp |
| Tín ngưỡng |
Thượng tọa bộ |
| Nhóm dân tộc liên quan |
| Mon, Wa, và một số nhóm dân tộc Mon–Khmer khác |
Người Khmer là dân tộc chiếm 90% dân số tại Campuchia.[cần dẫn nguồn] Dân tộc này nằm trong nhóm các dân tộc dùng ngôn ngữ Mon-Khmer sống trên khắp Đông Nam Á. Ngôn ngữ của người Khmer là tiếng Khmer. Đa số người Khmer là tín đồ Phật giáo Khmer - một kiểu Phật giáo hòa trộn nhiều thành phần của Ấn Độ giáo, thuyết vật linh (tục thờ cúng thần sông núi, cây cỏ...), và tục thờ cúng tổ tiên[7].Cụ thể hơn Phật giáo của người Khmer là Phật giáo nguyên thủy, tên phổ thông là Phật giáo Nam tông. Phật giáo Nam tông là Phật giáo gốc mà đức Phật Thích ca khai sinh và các quan niệm Phật giáo, giáo lý cũng được người Khmer bảo tồn nguyên vẹn. Nhiều người Khmer định cư ở các vùng lân cận tại Thái Lan (Khmer Lơ), và đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (Khmer Krom). Người Khmer thường có bề ngoài điển hình của người Đông Nam Á, trông gần giống người Thái và người Lào. Tuy nhiên, người Khmer không thuần chủng, bề ngoài có nhiều nét khác nhau, đó là do kết quả của nhiều thế kỉ pha trộn với người Ấn Độ, người Mã Lai và người Trung Quốc. Các lễ hội chính của người Khmer - Cambodian là:
- Đôn ta (lễ báo hiếu ông bà)
- Đua bò
- Chôl-chnam-thmay (lễ hội Năm mới)
- Óc-om-bok (lễ cúng trăng)
Các lễ hội Phật giáo:
- Song-ka-tun
- Ka-thin
- Songkran
Chú thích[sửa]
Liên kết ngoài[sửa]
|
Các dân tộc tại Thái Lan theo ngôn ngữ
|
|
|
|
|