Nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Ngữ tộc Môn-Khmer)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ngữ tộc Môn-Khmer
Khu vực Đông Dương
Ngữ hệ Hệ ngôn ngữ Nam Á
  • Ngữ tộc Môn-Khmer
Phân nhánh
Mã ngôn ngữ
ISO 639-2639-5 mkh

Ngữ tộc Môn-Khmer là một nhóm ngôn ngữ bao gồm khoảng 150 ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á đa số tập trung tại Đông Nam Á.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loại trong bài này dựa trên bài viết của Gérard Diffloth năm 1974 trên Encyclopedia Britannica được nhiều người trích dẫn. Theo đó, ngữ tộc này được chia ra làm các nhánh sau đây:

Đông[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ba Na: bao gồm vào khoảng 30 ngôn ngữ tại Campuchia, Lào và Việt Nam với khoảng 700.000 người sử dụng.
  • Cơ Tu (Ka Tu): bao gồm vào khoảng 14 ngôn ngữ tại miền trung Lào và Việt Nam, đông bắc Thái Lan. Có khoảng 1,3 triệu người sử dụng.
  • Khmer tại Campuchia và đông bắc Thái Lan. Khoảng 15 triệu người sử dụng.
  • Pacoh tại miền trung Lào và có lẽ cả ở Tây Nguyên của Việt Nam[1]
  • Nhánh Pear: bao gồm vài ngôn ngữ tại miền nam Campuchia, mặc dù một số nhà ngôn ngữ[2] nghi ngờ việc đưa các ngôn ngữ Pear vào gần với tiếng Khmer.
  • Việt (hay Việt-Mường): bao gồm khoảng 15 ngôn ngữ tại Lào và Việt Nam, trong đó tiếng Việt là tiếng quan trọng nhất trong hệ Nam Á vì số người dùng. Khoảng 76-83 triệu người sử dụng.

Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Không phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Ba ngôn ngữ tại miền nam Trung Quốc chưa được xếp loại.

Tuy nhiên, phân chia này cũng chỉ là tương đối. Ngữ chi Việt (Việt-Mường) nhiều khi được cho vào Nhánh phía Bắc nhưng thường cũng hay được xếp riêng; nhiều nhà ngôn ngữ học lại cho nhánh Việt-Mường vào Nhánh phía Đông và xếp nhánh Pear ra một mình; nhiều người lại không công nhận sự hiện diện của Nhánh phía Nam.... Tóm lại, sự phân loại của nhóm ngôn ngữ này vẫn còn là đề tài cho các nhà ngôn ngữ học bàn cãi.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]