Meghalaya

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
  ?Meghalaya
Ấn Độ
Bản đồ chỉ vị trí của Meghalaya
Bản đồ thu nhỏ của Ấn Độ với Meghalaya được tô sáng
Vị trí của Meghalaya ở Ấn Độ
Vị trí của Meghalaya
Tọa độ: 25°34′B 91°53′Đ / 25,57°B 91,88°Đ / 25.57; 91.88
Múi giờ IST (UTC+5:30)
Diện tích 22.429 km² (8.660 sq mi)
Thủ phủ Shillong
Thành phố lớn nhất Shillong
Số quận 7
Dân số
Mật độ
2.306.069 (23rd)
• 103người/km² (267người/sq mi)
Ngôn ngữ Garo, Khasi, Anh
Thống đốc Banwari Lal Joshi
Thủ hiến D.D. Lapang
Tên tắt ISO IN-ML
Website: meghalaya.nic.in

Meghalaya là một bang tại Đông Bắc Ấn Độ. Năm 2011, dân số của bang là 2.964.007, đứng thứ 27 về dân số tại Ấn Độ.[1][2] Meghalaya có diện tích khoảng 22.430 km², tỷ lệ chiều dài so với chiều rộng là 3:1.[3]

Bangladesh bao quanh Meghalaya ở phía tây và nam, còn bang Assam bao quanh Meghalaya ở phía bắc và đông. Thủ phủ của bang là Shillong, đô thị được mệnh danh là "Scotland của phương Đông".[4] Meghalaya nguyên là bộ phận của Assam, song đến ngày 21 tháng 1 năm 1972 thì các huyện Khasi, Garo và Jaintia hợp thành bang mới mang tên Meghalaya. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Meghalaya, các ngôn ngữ chủ yếu khác được nói gồm có Khasi, Pnar và Garo. Không giống như nhiều bang khác tại Ấn Độ, xã hội Meghalaya về mặt lịch sử theo một hệ thống mẫu hệ, theo đó dòng dõi và thừa kế được xác định theo nữ giới; con gái út thừa kế toàn bộ gia sản và sẽ chăm sóc cha mẹ mình.[4]

Meghalaya là khu vực mưa nhiều nhất tại Ấn Độ, với trung bình 1.200 cm mỗi năm.[3] Khoảng 70% diện tích bang có rừng che phủ.[5] Khu vực sinh thái rừng cận nhiệt đới Meghalaya bao phủ bang; những khu rừng núi của bang khác biệt với những khu rừng nhiệt đới đất thấp ở phía bắc và phía nam. Các khu rừng tại Meghalaya có tính đa dạng sinh học cao với các loài thú, chim, và thực vật.

Nông nghiệp chi phối kinh tế Meghalaya, với một ngành lâm nghiệp thương mại đáng kể. Các cây trồng quan trọng là khoai tây, lúa, ngô, dứa, chuối, đu đủ, cây gia vị. Lĩnh vực dịch vụ gồm có bất động sản và bảo hiểm. Về mặt địa chất, Meghalaya giàu khoáng sản, song không có những ngành quan trọng.[4] Meghalaya là một trung tâm hậu cần lớn trong mậu dịch giữa Ấn Độ và Bangladesh.[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Loài người sinh sống tại Meghalaya từ thời đại đồ đá mới. Các di chỉ thời đại đồ đá mới phát hiện được cho đến nay nằm tại các khu vực có cao độ lớn như tại vùng đồi Khasi, vùng đồi Garo và các bang lân cận. Phương thức jhum hay du canh từ thời đại này vẫn được tiến hành cho đến ngày nay. Các cao nguyên có lượng mưa phong phú song an toàn trước nạn lụt và thổ nhưỡng phì nhiêu.[6] Khu vực có khả năng có vai trò trong lịch sử nhân loại thông qua việc thuần hóa lúa, Ian Glover cho rằng Đông Bắc Ấn Độ là khu vực thuận lợi nhất về nguồn gốc của lúa thuần.[7]

Các bộ lạc Khasi, Garo, và Jaintia có những vương quốc tiêng của họ cho đến khi nằm dưới quyền cai trị của Anh Quốc trong thế kỷ 19. Sau đó, người Anh hợp nhất Meghalaya vào Assam vào năm 1835.[4] Khu vực được trao tình trạng bán độc lập theo một hiệp định với Vương thất Anh. Khi Bengal bị phân chia vào ngày 16 tháng 10 năm 1905, Meghalaya trở thành một bộ phận của tỉnh Đông Bengal và Assam. Tuy nhiên, khi phân chia bị đảo nghịch vào năm 1912, Meghalaya trở thành một bộ phận của tỉnh Assam. Ngày 3 tháng 1 năm 1921, ngoại trừ các quốc gia của người Khasi thì các khu vực nay thuộc Meghalaya được tuyên bố là "những miền lạc hậu." Đến năm 1935, chính quyền thuộc địa nhóm các miền lạc hậu thành hai hạng: các khu vực "bị loại trừ" và "bị loại trừ một phần".

Thời điểm Ấn Độ được độc lập vào năm 1947, khu vực nay là Meghalaya gồm hai huyện của Assam và được hưởng quyền tự trị hạn chế bên trong bang Assam. Một phong trào yêu cầu lập bang riêng bắt đầu vào năm 1960.[8] Đạo luật Tái tổ chức Assam (Meghalaya) năm 1969 dành một quy chế tự trị cho Meghalaya. Đạo luật có hiệu lực vào ngày 2 tháng 4 năm 1970, bang tự trị Meghalaya hình thành từ Assam.

Năm 1971, Quốc hội Ấn Độ thông qua Đạo luật (Tái tổ chức) các khu vực Đông-Bắc, 1971, trao đầy đủ quy chế bang cho bang tự trị Meghalaya. Meghalaya lập bang vào ngày 21 tháng 1 năm 1972, có một nghị hội riêng.[8]

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Người Khasi là dân tộc lớn nhất tại Meghalaya

Đa số dân cư Meghalaya là người thuộc các bộ lạc, người Khasi là nhóm đông nhất, tiếp theo là người Garos và người Jaintia. Họ nằm trong nhóm mà người Anh gọi là "các bộ lạc sơn địa." Các nhóm khác gồm có Koch, Biates và Jowai, Rajbongshi, Boro, Hajong, Dimasa, Hmar, Paite, Kuki, Lakhar, Karbi, Rabha và Nepali.

Theo báo cáo điều tra nhân khẩu tạm thời năm 2011, Meghalaya có tăng trưởng dân số nhanh nhất trong bảy bang Đông Bắc trong một thập niên, với 27,82%. Dân số Meghalaya vào năm 2011 được ước tính là 2.964.007, trong đó có 1.492.668 nữ và 1.471.339 nam. Theo điều tra nhân khẩu Ấn Độ năm 2011, tỷ suất giới tính trong ban là 986 nữ trên 1.000 nam, cao hơn mức trung bình toàn quốc là 940. Tỷ suất giới tính tại đô thị là 985, còn ở nông thôn là 972.[1]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tôn giáo tại Meghalaya (2001)[10]
Tôn giáo Tỷ lệ
Cơ Đốc giáo
  
70.25%
Ấn Độ giáo
  
13.27%
Tôn giáo khác (thuyết vật linh)
  
11.53%
Hồi giáo
  
4.27%
Sikh giáo, Jaina giáo, và Phật giáo
  
0.37%

Meghalaya là một trong ba bang tại Ấn Độ có đa số dân cư là tín đồ Cơ Đốc giáo. Khoảng 70% dân số bang tin theo Cơ Đốc giáo, Trưởng LãoCông giáo La Mã là hai giáo phái phổ biến nhất. Tôn giáo của nhân dân tại Meghalaya có liên hệ chặt chẽ với tính dân tộc của họ. Gần 90% thành viên của bộ lạc Garo và gần 80% thành viên của bộ lạc Khasi là tín đồ Cơ Đốc giáo, trong khi trên 97% người Hajong, 98,53% người Koch là tín đồ Ấn Độ giáo.

Chuyển đối từ các tôn giáo vật linh bộ lạc sang Cơ Đốc giáo bắt đầu vào thế kỷ 19 dưới sự cai trị của người Anh. Ngay từ thập niên 1830, Hội truyền giáo ngoại quốc Baptist Hoa Kỳ hoạt động tại vùng Đông Bắc nhằm cải đạo cho các bộ lạc theo thuyết vật linh sang Cơ Đốc giáo.[11] Sự phát triển của Cơ Đốc giáo một phần bắt nguồn từ việc các Nhà thờ điều hành trên 900 trường tiểu học, trên 200 trường trung học sơ cấp, trên 70 trường trung học cao cấp và 3 trường cao đẳng. Tôn giáo nằm trong chương trình giảng dạy.[12]

Ngôn ngữ tại Meghalaya[13]
Ngôn ngữ Ngữ hệ Tỷ lệ
Khasi Nam Á 45,05%
Garo Tạng-Miến 21,41%
Nepal Ấn-Arya 8,26%
Bengal Ấn-Arya 18,04%
Hindi Ấn-Arya 5,17%
Marath Ấn-Arya 1,67%
Assam Ấn-Arya 1,58%
Maram Tạng-Miến 1,53%
Hajong Ấn-Arya 1,06%
Rabha Tạng-Miến 0,97%
Koch Tạng-Miến 0,90%

Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức và được nói rộng rãi trong bang.[14] Các ngôn ngữ chính khác tại Meghalaya là KhasiGaro.

Tiếng Khasi thuộc ngữ hệ Nam Đảo và theo điều tra nhân khẩu năm 2001, có khoảng 1.128.575 người nói tiếng Khasi cư trú tại Meghalaya. Nhiều từ trong tiếng Khasi được vay mượn từ các ngôn ngữ thuộc ngữ chi Ấn-Arya như tiếng Nepal, tiếng Bengaltiếng Assam. Tiếng Khasi là một trong số ít ngôn ngữ Nam Á còn lại tại Ấn Độ. Tiếng Garo có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ Koch và Bodo, có nhiều phương ngôn. Một số ngôn ngữ khác cũng được nói tại Meghalaya. Tiếng Nepal được nói rải rác tại hầu như mọi nơi trong bang.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên census2011.co.in
  2. ^ “Meghalaya Population Sex Ratio in Meghalaya Literacy rate data”. Census2011.co.in. Census Organization of India. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ a ă â Meghalaya IBEF, India (2013)
  4. ^ a ă â b Arnold P. Kaminsky and Roger D. Long (2011), India Today: An Encyclopedia of Life in the Republic, ISBN 978-0313374623, pp 455-459
  5. ^ Meghalaya and Its Forests Government of Meghalaya (2012); Quote - total forest area is 69.5%
  6. ^ MANJIL HAZARIKA, Neolithic Culture of Northeast India: A Recent Perspective on the Origins of Pottery and Agriculture, Ancient Asia 1:25-44
  7. ^ Glover, Ian C. (1985), Some Problem Relating to the Domestication of Rice in Asia, In Recent Advances in Indo-Pacific Prehistory (Misra, VN. and P. Bellwood Eds.), ISBN 978-8120400153, Oxford Publishing, pp 265-274
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên meghis
  9. ^ “Census Population” (PDF). Census of India. Ministry of Finance India. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2008. 
  10. ^ “Census of India – Religious Composition”. Government of India, Ministry of Home Affairs. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2012. 
  11. ^ Johnson, R. E. (2010), A Global Introduction to Baptist Churches, Cambridge University Press, ISBN 978-0521877817
  12. ^ Amrit Kumar Goldsmith, THE CHRISTIANS IN THE NORTH EAST INDIA: A HISTORICAL PERSPECTIVE, Regional Organizer of Churches’ Auxiliary of Social Action, Regional Headquarters at Mission Compound, Satribari, Guwahati
  13. ^ Percentages for the India's 2001 census
  14. ^ “Department of Tourism Government of Meghalaya -About Meghalaya”. Megtourism.gov.in. 21 tháng 1 năm 1972. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2010. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]