Rắn hổ mang chúa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Rắn hổ mang chúa
King-Cobra (1).jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Reptilia
Bộ (ordo) Squamata
Họ (familia) Elapidae
Chi (genus) Ophiophagus
Loài (species) O. hannah
Danh pháp hai phần
Ophiophagus hannah
  Bản đồ phân bố của loài
  Bản đồ phân bố của loài
Danh pháp đồng nghĩa

Genus-level:

Rắn hổ mang chúa (Danh pháp khoa học: Ophiophagus hannah) là loài rắn nằm trong họ Rắn hổ được tìm thấy chủ yếu trong các khu rừng nhiệt đới trải dài từ Ấn Độ đến Đông Nam Á. Đây là loài rắn độc dài nhất thế giới, với chiều dài tối đa được ghi nhận ở loài này trong tự nhiên là 7 m.[2]

Mặc dù danh từ rắn hổ mang nằm trong tên gọi thông thường của loài rắn này nhưng chúng không thuộc chi Naja (chi rắn hổ mang thật sự). Đây là loài duy nhất thuộc chi Ophiophagus. Con mồi của loài rắn này chủ yếu là các loài rắn khác và một vài loài có xương sống như thằn lằn, gặm nhấm. Rắn hổ mang chúa được đánh giá là loài nguy hiểm và đáng sợ trong phạm vi sinh sống của mình[3][4][5], mặc loài rắn này không chủ động tấn công loài người[3]. Hổ mang chúa được tôn sùng trong nhiều tín ngưỡng văn hóa khác nhau, đặc biệt trong văn hóa Hindu giáotiểu lục địa Ấn Độ[6].

Ngoại hình[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều dài trung bình của cá thể trưởng thành khoảng 3 - 4 m (9,8 - 13,1 ft) và cân nặng trung bình khoảng 6 kg. Các mẫu vật lâu đời nhất được cất giữ tại sở thú London ghi nhận chiều dài lên đến 18,5-18,8 ft (5,6-5,7 m) trước khi bị phá hủy trong Thế chiến II. Vào năm 1951, các mẫu vật hoang dã nặng nhất thuộc Câu lạc bộ hoàng gia quốc đảo Singapore ghi nhận là nặng 12 kg (26 lb) và dài 4,8 m (15,7 ft), mặc dù có một mẫu vật khác nặng hơn được lưu giữ tại Sở thú Bronx nặng 12,7 kg (28 lb) và dài 4,4 m (14,4 ft) (ghi nhận năm 1972).[7] Thậm chí chiều dài tối đa được ghi nhận ở loài rắn này trong tự nhiên là 7 m, con số được ghi nhận tại dãy núi Western Ghats ở Ấn Độ. Rắn hổ mang chúa lưỡng hình giới tính trong kích thước, con đực đạt kích thước lớn hơn so với con cái. Chiều dài và khối lượng của loài rắn này phụ thuộc vào môi trường sống và một số yếu tố khác. Mặc dù có kích thước to lớn, rắn hổ mang chúa rất nhanh nhẹn và linh hoạt[8]. So với một số loài rắn độc khác, chẳng hạn như rắn chuông kim cương phương đôngrắn Gaboon, thường ngắn hơn nhiều so với hổ chúa nhưng cơ thể khá cồng kềnh, những con số cạnh tranh với rắn hổ mang chúa về trọng lượng trung bình và là báo cáo đúng nhất về trọng lượng tối đa[7].

Hình ảnh phân tích vùng đầu

Da ờ phần đầu và lưng có màu vàng lục, nâu xám, hoặc đen chì, và các vạch màu vàng mờ nhạt chạy dọc theo chiều dài của cơ thể. Bụng có màu kem hoặc vàng nhạt, vảy mịn. Tùy theo môi trường sinh sống mà da rắn có màu sắc khác nhau, thông thường cá thể sống vùng sông hồ có da sáng hơn cá thể sống vùng rừng sâu.

Rắn con còn nhỏ da sáng bóng với màu đen và các vạch màu vàng hẹp (có thể bị nhầm lẫn với loài rắn cạp nong, nhưng dễ dàng xác định nhờ vùng mang đầu khá rộng của loài). Phần đầu của cá thể rắn trưởng thành khá to lớn và đồ sộ, mặc dù giống như tất cả các loài rắn khác, loài này có thể mở rộng quay hàm nuốt mồi lớn. Với cấu trúc xương răng proteroglyph, nghĩa là có 2 răng nanh cố định phía trước miệng kèm theo hệ thống tiết nọc độc vào con mồi. Tuổi thọ trung bình của một cá thể hổ mang chúa hoang dã khoảng 20 năm[9]. Tuổi thọ tối đa được ghi nhận là 30 năm.

Vảy lưng dọc theo trung tâm của cơ thể hổ chúa khoảng 15 hàng. Con đực có 235 đến 250 vảy bụng, trong khi con cái có 239 đến 265 vảy. Vảy đuôi đơn lẻ hoặc ghép cặp trong mỗi hàng, khoảng 83 đến 96 ở con đực và 77 đến 98 ở con cái[8].

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn con và các vạch chữ V trên cổ

Ophiophagus hannah là loài đại diện duy nhất thuộc chi Ophiophagus, thuộc họ Elapidae (họ rắn hổ).

Hổ mang chúa là thành viên duy nhất của chi Ophiophagus, trong khi hầu hết các loài hổ mang khác là thành viên của chi Naja. Loài này được phân biệt với các loài hổ mang khác theo kích thước và mang đầu. Hổ chúa thường lớn hơn so với các loài hổ mang khác, và các vạch sọc trên cổ có hình chữ V thay vì hình dạng mắt kép hoặc đơn thường thấy trên hầu hết các loài rắn hổ mang châu Á khác. Hơn nữa, mang đầu của hổ chúa là hẹp hơn và dài hơn[3]. Một phương pháp hết sức rõ ràng để nhận dạng, nhìn thấy rõ trên đầu, là sự hiện diện của một cặp vảy lớn được gọi là xương chẩm, nằm ở mặt sau đỉnh đầu. Đây là cách sắp xếp chín mảng xương dẹt phía sau, đặc trưng của họ Rắn nướchọ Rắn hổ, và là vẻ độc đáo của loài rắn hổ mang chúa.

Loài rắn này được miêu tả lần đầu bởi nhà sinh vật học người Đan Mạch Theodore Edward Cantor năm 1836.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn hổ mang chúa phân bố tại tiểu lục địa Ấn Độ, Đông Nam Á, và các khu vực phía nam của Đông Á (nơi mà không phổ biến). Rắn hổ mang chúa được tìm thấy ở các nước Bangladesh, Bhutan, Myanmar, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Nepal, Philippines, Singapore, Thái LanViệt Nam[1]. Chúng sống trong các vùng rừng núi cao rậm rạp[2][10], khu vực ưa thích của chúng hồ nướcdòng suối. Quần thể rắn hổ mang chúa đã giảm trong một vài khu vực phân bố, do nạn phá rừng và đang bị săn bắt trái phép phục vụ cho việc buôn lậu động vật quốc tế. Loài rắn này được liệt kê trong phụ lục II trong Công ước CITES[11].

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ mang chúa.

Một cá thể hổ chúa, giống như những loài khác, tiếp nhận tín hiệu hóa học thông qua chiếc lưỡi chẻ đôi, cảm thụ phân tử mùi hương và chuyển đến giác quan tiếp nhận đặc biệt (gọi bộ phận Jacobson), nằm trong vòm miệng[2]. Giác quan này cũng giống như là khứu giác con người. Khi mùi vị con mồi được rắn phát hiện, co giật nhẹ ở lưỡi để nhận biết vị trí con mồi (các nhánh song song của lưỡi phát ra âm thanh); rắn cũng sử dụng thị giác quan tâm (rắn có thể phát hiện con mồi di chuyển cách nó 100 m [330 feet]), một cách linh hoạt[12], và nhạy cảm với rung động mặt đất nhằm theo dõi con mồi.

Sau cắn vào con mồi, rắn sẽ bắt đầu nuốt con mồi đang giãy giụa trong khi nọc độc bắt đầu quá trình tiêu hóa mồi. Hổ mang chúa, giống như tất cả các loài rắn, có quay hàm linh hoạt. Bộ xương hàm được kết nối bởi các dây chằng mềm dẻo, cho phép xương hàm dưới di chuyển độc lập. Điều này cho phép rắn nuốt cả con mồi của nó, cũng như cho phép chúng nuốt con mồi lớn hơn nhiều so với phần đầu rắn[2].

Rắn hổ mang chúa sống trên mặt đất, nhưng leo cây và bơi rất giỏi. Rắn có thể săn mồi suốt cả ngày, hiếm khi nhìn thấy chúng vào ban đêm, ngành bò sát học phân loại hổ mang chúa là loài động vật hoạt động ban ngày[2][13].

Một cá thể tại sở thú St. Louis Zoo

Khẩu phần[sửa | sửa mã nguồn]

Một cá thể đang vươn cao đầu (mẫu vật trưng bày tại Bảo tàng hoàng gia Ontario).

Loài này thuộc chi Ophiophagus, một danh từ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "ăn thịt rắn", và chế độ ăn uống của hổ chúa chủ yếu là các loài rắn khác, bao gồm cả rắn chuột, trăn nhỏ và thậm chí các loài rắn độc khác ví dụ như những loài thuộc chi Naja (chi hổ mang thật sự), và chi Bungarus (chi cạp nia)[13][14]. Khi thức ăn khan hiếm, chúng cũng có thể ăn các loài có xương sống nhỏ khác, chẳng hạn thằn lằn, chimgặm nhấm. Trong một số trường hợp, rắn có thể "siết chặt" con mồi của nó, chẳng hạn như các loài chim và động vật gặm nhấm lớn hơn, sử dụng các cơ thịt của rắn, mặc dù những trường hợp này không phổ biến[2][14]. Sau một bữa ăn lớn, con rắn có thể sống trong nhiều tháng mà không săn mồi nhờ có một tỷ lệ trao đổi chất chậm chạp trong cơ thể nó[2]. Thức ăn phổ biến nhất rắn hổ chúa là loài rắn chuột; hành trình đuổi bắt mồi thường đưa hổ mang chúa đến gần khu dân cư.

Phòng vệ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi gặp nguy hiểm, hổ chúa sẽ cố gắng trốn thoát nhanh chóng và tốn tránh đối đầu[5][15]. Tuy nhiên, nếu tiếp tục bị khiêu khích, hổ mang chúa trở nên rất hung dữ[5][9].

Khi đối mặt, rắn ngẩng đầu lên về phía trước (thường là một phần ba) của cơ thể lúc mở rộng cổ, lộ rõ cặp răng nanh và huýt lên ầm ĩ[3][9]. Hổ chúa có thể dễ dàng bị kích động bởi các đối tượng tiếp cận gần hay những chuyển động đột ngột. Khi nâng cơ thể lên cao, hổ mang chúa vẫn có thể di chuyển về phía trước để tấn công ở khoảng cách dài[9] và loài người có thể đánh giá sai về khoảng cách an toàn. Rắn có khả năng cắn nhiều vết trong một lần tấn công[4] nhưng con trưởng thành biết cách cắn và giữ chặt. Đó là cách thức phòng vệ của loài rắn này khi sống ở vùng rừng ít dân cư và những cánh rừng nhiệt đới rậm rạp[3][9], và những loài bị hổ chúa cắn thường là rắn thuộc loài khác[3].

Một số nhà khoa học tin rằng tính khí hung hãn của loài này đã được phóng đại mức. Trong hầu hết các cuộc tiếp xúc với những cá thể rắn hoang dã, những con rắn khá điềm tĩnh, và chúng thường kết thúc bằng cách bị giết hoặc khuất phục với bất kỳ kích động mạnh. Những ủng hộ quan điểm cho rằng rắn hổ chúa hoang dã thông thường có tính khí ôn hòa, mặc dù những sự cố xảy ra với rắn khiến chúng bối rối nhưng hổ chúa rất giỏi trong việc tránh con người. Nhà sinh vật học Michael Wilmer Forbes Tweedie cảm thấy rằng "khái niệm này được dựa trên các xu hướng chung để làm lắng dịu tất cả các thuộc tính của loài rắn mà ít quan tâm đến sự thật về chúng. Phản ánh tại một thời điểm cho thấy rằng điều này phải được như vậy, đối với loài hổ chúa không phải là hiếm, thậm chí trong khu vực dân cư, và có ý thức hay vô thức, người dân phải gặp rắn hổ mang chúa khá thường xuyên. Nếu con rắn thực sự hung hăng thì nó cắn người thường xuyên;... do đó cực kỳ hiếm trường hợp rắn hổ chúa hung hăng"[16][17].

Nếu con rắn gặp một kẻ thù tự nhiên, ví dụ như chồn mangut, loài chồn có khả năng kháng nọc độc thần kinh[18], con rắn thường cố gắng chạy trốn. Nếu không thể làm như vậy, chúng sẽ phồng mang và phát ra một tiếng huýt, đôi khi giả vờ ngậm chặt miệng. Những nỗ lực này thường chứng minh rất hiệu quả, đặc biệt đối với kẻ thù nguy hiểm hơn nhiều so với loài chồn, cũng như các loài động vật có vú nhỏ có khả tiêu diệt rắn một cách dễ dàng.

Một cách phòng vệ an toàn khi con người tình cờ gặp rắn hổ mang chúa là từ từ tháo bỏ áo sơ mi hoặc mũ và quăng nó xuống đất trong khi đi lùi lại[19].

Tiếng huýt gầm gừ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng huýt của rắn hổ chúa có cường độ thấp hơn nhiều so với nhiều loài rắn khác. Nhiều người cho ằng âm thanh mình nghe được từ rắn giống như một "tiếng gầm" hơn là một tiếng huýt. Trong khi tiếng huýt của hầu hết các loài rắn có tần số khoảng từ 3.000 đến 13.000 Hz với tần số vượt trội gần 7.500 Hz, tiếng gầm gừ của rắn hổ mang chúa có tần số khoảng dưới 2500 Hz, với tần số vượt trội gần 600 Hz, thấp hơn nhiều so với tần số giọng nói người. So sánh hình thái phân tích giải phẫu học đã dẫn đến một phát hiện rằng túi thừa khí quản có chức năng cộng hưởng tần số thấp trong tiếng gầm của rắn và con mồi, loài rắn chuột vùng rừng ngập mặn, cả hai đều có thể phát ra những tiếng gầm gừ tương tự như nhau[20].

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Rắn con đang trong tư thế phòng thủ

Rắn hổ mang chúa giao phối và đẻ trứng vào khoảng tháng 4-5. Rắn cái đảm nhận nhiệm vụ nuôi rắn con. Rắn cái làm cho một chiếc tổ và đẻ trứng, mảnh lá và mảnh vụn của đất gò được sử dụng để đắp tổ, và ở trong tổ cho đến khi trứng nở. Rắn cái thường đẻ khoảng 20-40 trứng vào gò tổ, hoạt động như một chiếc lò ấp trứng. Rắn cái ở lại với trứng và bảo vệ gò đất 1 cách kiên trì, canh giữ đề phòng các mối đe dọa từ các loài động vật lớn đến gần, trong khoảng 60 đến 90 ngày[21]. Bên trong gò, những quả trứng được ấp ở nhiệt độ ổn định khoảng 28 ° C ( 82 ° F). Khi trứng nở, bản năng thúc đẩy rắn cái rời khỏi tổ và tìm mồi để ăn vì thế rắn cái không ăn thịt rắn con. Các cá thể rắn non, với chiều dài trung bình từ 45 đến 55 cm (18-22 in), có đầy đủ tuyến nọc độc như cá thể trưởng thành. Da rắn con có các vạch màu sáng, nhưng những vạch màu sẽ nhạt dần hoặc biến mất khi chúng trưởng thành. Chúng thường cảnh báo và dễ bị kích thích, chúng sẽ rất hung dữ nếu bị quấy rầy[3].

Nọc độc[sửa | sửa mã nguồn]

Hộp sọ rắn hổ mang chúa với 2 răng nanh

Nọc độc của rắn hổ mang chúa chủ yếu là độc tố thần kinh, gọi là haditoxin[22], và một vài hợp chất khác[13][23]. Liều lượng LD50 tiêm vào tĩnh mạch khoảng 1,31 mg / kg[24] và trong bụng khoảng 1,644 mg / kg[24] đến dưới da khoảng 1,7-1,93 mg / kg.[25][26][27]

Loài rắn này hoàn toàn có thể giết chết một người chỉ bằng một vết cắn và nạn nhân bị tiêm vào thân một lượng lớn nọc độc với liều khoảng 200 đến 500 mg[3][28][29] hoặc thậm chí lên đến 7 ml[9]. Engelmann và Obst (1981) liệt kê liều lượng nọc độc trung bình là khoảng 420 mg (trọng lượng thô)[26]. Theo đó, một lượng lớn chất kháng nọc độc có thể cần thiết để đảo ngược sự tiến triển các triệu chứng trúng độc khi bị rắn cắn[4] . Nọc độc tấn công hệ thần kinh trung ương của nạn nhân, dẫn đến đau nhức, mờ mắt, chóng mặt, buồn ngủ, và cuối cùng tê liệt. Nếu tình trạng nghiêm trọng, chất độc tiến đến hệ tuần hoàn, và nạn nhân rơi vào trạng thái hôn mê. Chết sớm sau do bị suy hô hấp. Hơn nữa, nạn nhân còn có thể suy thận theo một số quan sát vài vết rắn cắn thí nghiệm mặc dù trường hợp này không phổ biến[30]. Vết cắn của rắn hổ mang chúa có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng[3][4] chỉ sau 30 phút[4][31]. Độc rắn hổ chúa thậm chí được ghi nhận có khả năng giết chết một con voi trường thành trong vòng vài giờ[32].

Có hai loại huyết thanh kháng độc được sử dụng để điều trị rắn cắn. Hội Chữ thập đỏ Thái Lan sản xuất một loại, và Viện Nghiên cứu Trung ương ở Ấn Độ sản xuất loại còn lại; tuy nhiên, cả hai được sử dụng với số lượng nhỏ, và trong khi luôn sẵn sàng để đặt hàng, không được dự trữ rộng rãi[33]. Ohanin, một thành phần protein của nọc độc, gây ra hội chứng hypolocomotion và hyperalgesia ở động vật có vú[34]. Các thành phần khác có cardiotoxic (gây suy tim)[35], cytotoxic (hủy hoại tế bào) và neurotoxic (hủy hoại thần kinh)[36]. Tại Thái Lan, hỗn hợp pha chế của alcoholrễ của củ nghệ dùng uống, đã được chứng minh lâm sàng có khả năng phục hồi mạnh mẽ cơ thể, chống lại nọc độc của hổ mang chúa và nọc độc thần kinh của các loài rắn khác[37]. Phương pháp điều trị thích hợp và trực tiếp sẽ rất quan trọng để cứu sống nạn nhân. Tiền lệ thành công được ghi nhận là một nạn nhân hồi phục và xuất viện sau 10 ngày nhờ được điều trị bằng huyết thanh hợp lý và sự chăm sóc đúng đắn[31].

Trường hợp bị loài rắn này cắn khá hiếm và hầu hết các nạn nhân là thực sự điều khiển được con rắn[3]. Không phải tất cả vết cắn đều chứa độc nhưng thường được xem là có tầm quan trọng y tế[38]. Tỷ lệ tử vong giữa các vùng miền là khác nhau và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như tiến bộ của y tế địa phương. Một cuộc khảo sát tại Thái Lan báo cáo có 10 trường hợp tử vong trong tổng số 35 nạn nhân bị hổ chúa cắn, có tỷ lệ tử vong khi bị cắn (28%) cao hơn so với các loài rắn hổ mang khác[39]. Một báo cáo sáu năm được công bố của một Bệnh viện miền Nam Ấn Độ cho thấy 2/3 số nạn nhân bị rắn hổ chúa cắn được phân vào loại "nghiêm trọng", mặc dù cuối cùng không tử vong do phương pháp điều trị y tế thích hợp[30]. Bộ phận nghiên cứu độc tố lâm sàng tại Đại học Adelaide chỉ ra tỷ lệ tử vong do hổ chúa cắn khi không được điều trị là khoảng 50 - 60%, có nghĩa là khoảng một nửa vết cắn không chứa độc[25].

Bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Ophiophagus hannah (1).jpg

Tại Ấn Độ, rắn hổ mang chúa được bảo vệ tại mục II của Luật bảo vệ động vật hoang dã (1972) (đã sửa đổi) và ai giết rắn hổ mang chúa sẽ bị phạt tù đến 6 năm.[40]

Tại Việt Nam, rắn hổ chúa được cho là một món ăn có nhiều giá trị dinh dưỡng nên hay bị săn bắt. Đây là loài khá quý hiếm, đang được bảo vệ. Pháp luật Việt Nam cấm buôn bán, sở hữu loài rắn này. Tuy nhiên nó vẫn được nuôi lậu tại các làng nuôi rắn.

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Rắn trong biểu tượng văn hóa.

Tại Myanmar, rắn hổ mang chúa thường được thôi miên bởi các nữ nghệ nhân múa rẳn[14]. Thành viên của tộc người Pakkoku xăm mình bằng mực trộn với nọc độc rắn hổ chúa trên cơ thể trong một tuần, điều này có khả năng bảo vệ họ khỏi những con rắn, mặc dù không có bằng chứng khoa học xác thực[41]. Người thôi miên thường xăm ba chữ tượng hình[14]. Họ còn hôn đỉnh đầu rắn khi kết thúc biểu diễn[14].

Tại tiểu lục địa Ấn Độ, theo văn hóa tín ngưỡng, rắn hổ mang được cho là liên kết của 2 vị thần ShivaVishnu. Shiva, là chiến binh "hủy diệt" khổ hạnh, quấn 1 con rắn xung quanh cổ của thần. Vishnu được bảo vệ khỏi ánh nắng mặt trời bởi một con rắn hổ mang khổng lồ năm đầu được gọi là Kaliya, con vật đã từng là kẻ thù của thần. Cư dân rắn của thế giới ngầm, được gọi là naga, cũng chủ yếu là giống rắn hổ mang. Theo thần thoại, rắn hổ mang chúa được cho là trí nhớ đặc biệt, những hình ảnh kẻ giết rắn nằm trong mắt của con rắn đó, về sau khi điều tra, tìm kiếm thủ phạm giết rắn thần nhằm trả thù chỉ cần nhìn vào mắt. Bởi vì tin vào thần thoại này, bất cứ khi nào một con rắn hổ chúa bị giết, đặc biệt là ở Ấn Độ, phần đầu rắn hoặc là nghiền nát hoặc đốt để phá hủy đôi mắt hoàn toàn.[6].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Stuart, B., Wogan, G., Grismer, L., Auliya, M., Inger, R.F., Lilley, R., Chan-Ard, T., Thy, N., Nguyen, T.Q., Srinivasulu, C. & Jelić, D. (2012). Ophiophagus hannah. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2014.3.
  2. ^ a ă â b c d đ Mehrtens, John (1987). Living Snakes of the World. New York: Sterling. ISBN 0-8069-6461-8. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g O'Shea, Mark. Venomou snakes of the world. ISBN 978-0-691-15023-9. “Average venom yield is 200–500 mg;an adult king cobra is not only the most impressive of all snakes but also one of the most dangerous.” 
  4. ^ a ă â b c Davidson, Terence. “IMMEDIATE FIRST AID”. University of California, San Diego. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2011. 
  5. ^ a ă â Young, D. (1999). “Ophiophagus hannah”. Animal Diversity Web. ‘the King Cobra is undoubtedly a very dangerous snake ("Behavior" section)’ 
  6. ^ a ă Taylor, David (1997). King Cobra. National Geographic Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2007. 
  7. ^ a ă Wood, The Guinness Book of Animal Facts and Feats. Sterling Pub Co Inc (1983), ISBN 978-0-85112-235-9
  8. ^ a ă Venomous Land Snakes, Dr.Willott. Cosmos Books Ltd. ISBN 988-211-326-5. 
  9. ^ a ă â b c d “National geographic- KING COBRA”. “They are fiercely aggressive when cornered (line 28–29); average life span in the wild: 20 years (fast facts)” 
  10. ^ Miller, Harry (tháng 9 năm 1970). “The Cobra, India's 'Good Snake'”. National Geographic 20: 393–409. 
  11. ^ “CITES List of animal species used in traditional medicine”. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2007. 
  12. ^ Philadelphia Zoo – King cobra. philadelphiazoo.org
  13. ^ a ă â Capula, Massimo; Behler (1989). Simon & Schuster's Guide to Reptiles and Amphibians of the World. New York: Simon & Schuster. ISBN 0-671-69098-1. 
  14. ^ a ă â b c Coborn, John (tháng 10 năm 1991). The Atlas of Snakes of the World. TFH Publications. tr. 30, 452. ISBN 978-0-86622-749-0. 
  15. ^ Cornett, Brandon (2012). King Cobra – Ophiophagus hannah. Reptile Knowledge
  16. ^ Greene, HW (1997). Snakes: The Evolution of Mystery in Nature. California, USA: University of California Press. ISBN 0520224876. [cần số trang]
  17. ^ Tweedie, MWF (1983). The Snakes of Malaya. Singapore: Singapore National Printers Ltd. OCLC 686366097. [cần số trang]
  18. ^ Takacs, Zoltan. “Why the cobra is resistant to its own venom”. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2007. 
  19. ^ Hauser, Sjon. King Cobras, the largest venomous snakes. sjonhauser.nl
  20. ^ Young, Bruce A. (1991). “Morphological basis of "growling" in the king cobra, Ophiophagus hannah”. Journal of Experimental Zoology 260 (3): 275–87. doi:10.1002/jez.1402600302. PMID 1744612. 
  21. ^ Piper, Ross (2007). Extraordinary Animals: An Encyclopedia of Curious and Unusual Animals. Westport, Connecticut: Greenwood Press. ISBN 0-313-33922-8. 
  22. ^ “King Cobra venom may lead to a new drug”. United Press International. 10 tháng 3 năm 2010. 
  23. ^ Roy, A; Zhou, X; Chong, MZ; d'Hoedt, D; Foo, CS; Rajagopalan, N; Nirthanan, S; Bertrand, D; Sivaraman, J; Kini, R. M. (2010). “Structural and Functional Characterization of a Novel Homodimeric Three-finger Neurotoxin from the Venom of Ophiophagus hannah (King Cobra)”. The Journal of biological chemistry 285 (11): 8302–15. doi:10.1074/jbc.M109.074161. PMC 2832981. PMID 20071329. 
  24. ^ a ă Séan Thomas & Eugene Griessel – Dec 1999. “LD50 (Archived)”. 
  25. ^ a ă “Ophiophagus hannah”. University of Adelaide. 
  26. ^ a ă Engelmann, Wolf-Eberhard (1981). Snakes: Biology, Behavior, and Relationship to Man. Leipzig; English version NY, USA: Leipzig Publishing; English version published by Exeter Books (1982). tr. 222. ISBN 0-89673-110-3. 
  27. ^ Handbook of clinical toxicology of animal venoms and poisons 236. USA: CRC Press. 1995. ISBN 0-8493-4489-1. 
  28. ^ Snake of medical importance. Singapore: Venom and toxins research group. ISBN 9971-62-217-3. 
  29. ^ Carroll, Sean B. (25 tháng 10 năm 2010). “science-the king cobra”. The New York Times. 
  30. ^ a ă “Snake-bite Envenomation: A Comprehensive Evaluation of Severity, Treatment and Outcome in a tertiary Care South Indian Hospital”. The Internet Journal of Emergency Medicine 5. 2009. doi:10.5580/11c0. 
  31. ^ a ă PMID 1754675 (PubMed)
    Citation will be completed automatically in a few minutes. Jump the queue or expand by hand
  32. ^ Dr Debra Bourne MA VetMB PhD MRCVS. “Snake Bite in Elephants and Ferrets”. Twycross Zoo. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2014. 
  33. ^ “Munich AntiVenom Index: Ophiophagus hannah”. Munich Poison Center. MAVIN (Munich AntiVenom Index). 1 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2007. 
  34. ^ Pung, Y.F., Kumar, S.V., Rajagopalan, N., Fry, B.G., Kumar, P.P., Kini, R.M. (2006). “Ohanin, a novel protein from king cobra venom: Its cDNA and genomic organization”. Gene 371 (2): 246–56. doi:10.1016/j.gene.2005.12.002. PMID 16472942. 
  35. ^ Rajagopalan, N., Pung, Y.F., Zhu, Y.Z., Wong, P.T.H., Kumar, P.P., Kini, R.M. (2007). “β-Cardiotoxin: A new three-finger toxin from Ophiophagus hannah (King Cobra) venom with beta-blocker activity”. The FASEB Journal 21 (13): 3685. doi:10.1096/fj.07-8658com. 
  36. ^ Chang, L.-S., Liou, J.-C., Lin, S.-R., Huang, H.-B. (2002). “Purification and characterization of a neurotoxin from the venom of Ophiophagus hannah (king cobra)”. Biochemical and biophysical research communications 294 (3): 574–8. doi:10.1016/S0006-291X(02)00518-1. PMID 12056805. 
  37. ^ Ernst, Carl H. and Evelyn M. (2011). Venomous Reptiles of the United States, Canada, and Northern Mexico: Heloderma, Micruroides, Micrurus, Pelamis, Agkistrodon, Sistrurus. JHU Press. tr. 44–45. ISBN 978-0-8018-9875-4. 
  38. ^ Mathew, Gera, JL, T. “Ophitoxaemia (Venomous snakebite)”. MEDICINE ON-LINE. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2013. 
  39. ^ Norris MD, Robert L.,. “Cobra Envenomation”. Medscape. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013. 
  40. ^ Sivakumar, B (2 tháng 7 năm 2012). “King cobra under threat, put on red list”. The Times of India – Chennai (Bennett, Coleman & Co. Ltd.). 
  41. ^ John C. Murphy (2010). Secrets of the Snake Charmer: Snakes in the 21st Century. iUniverse. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]