Rắn ráo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ptyas korros
ZamenisKorrosRooij.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

(không phân hạng) Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Cận ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass) Tetrapoda
Lớp (class) Reptilia
Phân lớp (subclass) Diapsida
Cận lớp (infraclass) Lepidosauromorpha
Liên bộ (superordo) Lepidosauria
Bộ (ordo) Squamata
Phân bộ (subordo) Serpentes
Cận bộ (infraordo) Caenophidia
Liên họ (superfamilia) Colubroidea
Họ (familia) Colubridae
Phân họ (subfamilia) Colubrinae
Chi (genus) Ptyas
Loài (species) P. korros
Danh pháp hai phần
Ptyas korros
(Schlegel, 1837)
Danh pháp đồng nghĩa

Rắn ráo hay rắn lải (danh pháp hai phần: Ptyas korros) là một loài rắn thuộc họ Rắn nước (Colubridae). Đây là một loài rắn không có nọc độc sinh sống trong các khu vực đồng bằng và rừng núi có môi trường ẩm ướt, có thể tới độ cao 3.000 m (Cox và những người khác, 1998, quan sát tại Thái Lan). Chúng săn bắt chuột, ếch, nhái và các loài động vật có xương sống nhỏ khác nhưng không thấy ăn như rắn nước. Chúng là loài kiếm ăn ban ngày và chủ yếu là bò trên mặt đất, trong các bụi cây hay bãi cỏ rrậm, mặc dù bơi lội cũng như leo trèo cây khá tốt.

Loài rắn này phân bổ rộng khắp trong khu vực Ấn Độ, Trung QuốcĐông Nam Á, kéo dài tới một vài đảo thuộc Indonesia.

Tại Việt Nam, người ta thường bắt Rắn giáo để ngâm rượu cùng một số loài rắn như hổ mang, rắn lục, cạp nong, cạp nia hay các vị thuốc khác trong các loại rượu tam xà, ngũ xà v.v.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Đuôi có màu ôliu và các vảy có màu sẫm ở phần rìa, trên các phần dày nhất của thân có các dải màu nâu nhạt mờ, nhưng mất dần đi khi chúng lớn. Mắt tương đối lớn. Chiều dài khoảng 1,6 m-3,5 m (5,2-11,5 ft).

Rắn đực có hai dương hành, khi giao phối rắn đực chỉ sử dụng một dương hành. Con đực có thể giao phối với nhiều con cái, trái lại con cái chỉ giao phối một lần. Thời gian giao phối có thể kéo dài từ nửa giờ đến vài giờ hay hơn nữa. Sau khi giao phối, tinh trùng nằm trong ống dẫn trứng của rắn cái trong nhiều tháng đến vài năm.

Mùa sinh sản thay đổi tùy theo địa phương, nhưng nói chung trong phạm vi từ tháng 5 tới tháng 8, thường đẻ trứng trong các tổ mối nhằm đảm bảo nhiệt độđộ ẩm ổn định của một lò ấp trứng tự nhiên, và khi những con non nở ra chúng có thể tìm ngay mối và ấu trùng mối để ăn. Rắn giáo đẻ 4 lứa/năm.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Boulenger, G.A. 1893. Catalogue of the Snakes in the British Museum (Natural History). Volume I., Containing the Families...Colubridæ Aglyphæ, part. Trustees of the British Museum (Natural History). (Taylor and Francis, Printers). London. xiii + 448 pp. + Plates I.- XXVIII. (Zamenis korros, pp. 384-385.)
  2. ^ The Reptile Database. www.reptile-database.org.
  • Ahsan, M. Farid và Shayla Parvin, 2001. The first record of Ptyas korros (Colubridae) from Bangladesh. Asiatic Herpetological Research. 9: 23-24
  • Lazell J.D., 1998, Morphology and the status of the snake genus "Ptyas". Herpetological Review 29 (3): 134
  • Schlegel, H. 1837 Essai sur la physionomie des serpens. Partie Généralxxviii +251 S. + Partie Descriptiv606 S. + xvi. La Haye (J. Kips, J. HZ. et W. P. van Stockum)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Ptyas korros tại Wikimedia Commons (tiếng Việt)

(tiếng Anh)