Hổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hổ
At the pool (6166810239).jpg
Một con hổ
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Felidae
Chi (genus) Panthera
Loài (species) P. tigris
Danh pháp hai phần
Panthera tigris
(Linnaeus, 1758)[2]
Phân bổ trong lịch sử của hổ (vàng nhạt) và 2006 (xanh lá)[3]
Phân bổ trong lịch sử của hổ (vàng nhạt) và 2006 (xanh lá)[3]
Subspecies
Danh pháp đồng nghĩa
Felis tigris Linnaeus, 1758[2]

Tigris striatus Severtzov, 1858

Tigris regalis Gray, 1867

Hổ, còn gọi là cọp, hùm, ông ba mươi,chúa sơn lâm (danh pháp hai phần: Panthera tigris) là một loài động vật có vú thuộc họ Mèo (Felidae), một trong bốn loại "mèo lớn" thuộc chi Panthera[4]. Hổ là một loại thú dữ ăn thịt sống. Chúng là động vật to lớn nhất trong họ Mèo và là động vật lớn thứ ba trong các loài thú ăn thịt (sau gấu trắnggấu nâu)

Phần lớn các loài hổ sống trong rừng và đồng cỏ (là những khu vực mà khả năng ngụy trang của chúng phù hợp nhất). Trong số các loại mèo khổng lồ, chỉ có hổ và báo đốm Mỹ (jaguar) là bơi tốt, và thông thường người ta hay thấy hổ tắm trong ao, hồ và sông. Hổ kém mèo về khả năng leo trèo. Hổ đi săn đơn lẻ, thức ăn của chúng chủ yếu là các động vật ăn cỏ cỡ trung bình như hươu, nai, lợn rừng, trâu, v.v. Tuy nhiên chúng cũng có thể bắt các loại mồi cỡ to hay nhỏ hơn nếu hoàn cảnh cho phép. Hổ là một trong số nhiều loài động vật ăn thịt nằm ở mắt xích cuối cùng của các chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái tự nhiên.

Hổ thường bị săn bắt để lấy da, xương, hay các bộ phận khác. Nạn săn bắt, buôn bán hổ khiến số lượng loài động vật quý hiếm này giảm 95% so với đầu thế kỷ 20. Ngày nay trên thế giới chỉ còn khoảng 5.000 - 7.000 cá thể hổ hoang dã, trong đó có khoảng 200 ở Việt Nam và 1.500 ở Ấn Độ [5]. Loài hổ đã được đưa vào danh sách các loài đang gặp nguy hiểm. Hổ có tuổi thọ khoảng 20 năm.[6]

Các đặc trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước[sửa | sửa mã nguồn]

Các nòi khác nhau của hổ có một số đặc trưng khác nhau. Nói chung, hổ đực có khối lượng từ 150 đến 310 kilôgam (330 lb tới 680 lb) và hổ cái từ 100 đến 160 kg (220 lb và 350 lb). Hổ đực dài từ 2,6 đến 3,3 m (8'6" tới 10'9"), còn hổ cái từ 2,3 đến 2,75 mét (7'6" đến 9'). Hổ Siberi (Panthera tigris altaica) đực lớn có thể đạt chiều dài tổng cộng 3,5;m "trên các đường cong" (3,3 m "giữa các chốt") và cân nặng 306 kg[7]. Trong các nòi hổ phổ biến, hổ Sumatra là nhỏ nhất với những cá thể nhỏ nhất chỉ cân nặng 75–140 kg[7].

Mùa sắc[sửa | sửa mã nguồn]

Màu của chúng có thể là bất kỳ màu nào trong khoảng từ vàng đến đỏ-da cam, với những khu vực màu trắng trên ngực, cổ, cũng như phần bên trong của chân. Một vài biến thể về màu sắc của hổ được ghi nhận như[8]:

  • Hổ trắng (Bạch hổ) Một biến thể gen lặn phổ biến, có thể xuất hiện với sự tổ hợp phù hợp của bố mẹ chúng, chúng không phải là những con thú bạch tạng.
  • Hổ vàng hay hổ khoang vàng, hổ khoang chúng có màu vàng nhưng nhạt hơn màu của hổ bình thường, và các vằn là màu nâu. Biến thể về màu sắc này rất hiếm, chỉ có một nhóm nhỏ hổ khoang vàng tồn tại và đều trong tình trạng bị giam cầm (Hiện có khoảng 30 con hổ khoang vàng được nuôi dưỡng tại các vườn thú trên toàn thế giới)[9].
  • Hổ đen hay hổ nhiễm hắc tố hay hắc hổ cũng được thông báo là có, nhưng chưa có các mẫu sống kiểm chứng.
  • Hổ xám hay hùm xám, hổ lam (Thanh hổ): Trong các tài liệu có nhắc đến hổ lam, thực ra là có tông màu xám bạc, mặc dù chưa có chứng cứ thật đáng tin cậy.

Các vằn của phần lớn các nòi hổ dao động trong khoảng nâu/xám tới đen thuần, mặc dù hổ trắng có rất ít các vằn. Hình dạng và mật độ các vằn thay đổi theo từng nòi, nhưng phần lớn các nòi đều có trên 100 vằn. Hổ Java nay đã tuyệt chủng có thể có nhiều hơn. Các mẫu vằn là duy nhất cho từng cá thể, và vì thế có thể sử dụng để xác định từng cá thể giống như mẫu vân tay ở người. Tuy nhiên điều này không phải là phương pháp được ưa thích để xác định, vì sự khó khăn trong việc ghi chép các mẫu vằn của hổ hoang dã. Mục đích của các vằn có lẽ là để ngụy trang, giúp chúng coi là ẩn đối với các con mồi (có rất ít các loài thú có cảm giác màu như con người, vì thế màu sắc chưa hẳn đã là vấn đề quan trọng như người ta vẫn nghĩ).

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ đực và hổ cái sống với nhau có lãnh thổ có thể rông lên tới 160 km. Con mồi của hồ thường là nai, trâu, lợn... Một con hổ trung bình có thể ăn tới 27 kg một ngày và có thể nhịn ăn khoảng 2 hoặc 3 ngày. Răng nanh của hổ, có thể dài tới 7,5 cm, dùng để gặm xương một cách dễ dàng. Một con hổ ba tuổi có thể giao phối và sinh sản, hổ cái mang thai khoảng 102-106 ngày gần giống như loài người. Mỗi lứa sinh khoảng từ 2-3 con, khả năng tử vong của hổ con khi chào đời tương đối cao, khi sinh hổ con không thể nhìn.[10]

Nước miếng của hổ có thể khử trùng nên hổ thường liếm những chỗ bị thương. Hổ rất thính với mùi máu, chúng tỏ ra phát cuồng khi chúng ngửi mùi của một hợp chất hữu cơ trong máu, so với những loài ăn thịt khác, hổ tỏ ra hứng khởi nhất khi ngửi mùi hợp chất trans-4,5-epoxy-(E)-2-decenalc. Chúng còn hưng phấn hơn cả chó hoang châu Á và châu Phi, cũng như chó đồng cỏ Nam Mỹ[11]

Các loài hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ Siberia

Có chín nòi (phân loài) hổ khác nhau, ba trong số đó đã tuyệt chủng và một có thể cũng sẽ tuyệt chủng trong tương lai gần. Cụ thể như sau:

Khu vực sinh sống trong lịch sử của chúng (thu nhỏ một cách đáng kể ngày nay) chạy từ Nga, Siberi, Iran, Afghanistan, Ấn Độ, Trung QuốcĐông Nam Á, bao gồm cả quần đảo Indonesia. Dưới đây là các nòi còn sống sót, theo trật tự tăng dần của quần thể hoang dã:

  • Hổ Hoa Nam 华南虎 (Panthera tigris amoyensis, chữ amoyensis trong tên khoa học của nó xuất xứ từ tên địa danh Amoy, còn gọi là Xiamen tức Hạ Môn), là nòi đang nằm trong tình trạng nguy hiểm nhất, và gần như sẽ trở thành tuyệt chủng. Có thể là con hổ hoang cuối cùng được biết đến ở miền nam Trung Quốc đã bị bắn hạ vào năm 1994, và trong hai mươi năm gần đây nhất người ta không nhìn thấy một con hổ còn sống nào trong khu vực sinh sống của chúng. Năm 1959, Mao Trạch Đông tuyên bố rằng hổ là một con vật có hại, và số lượng của chúng đã nhanh chóng giảm từ khoảng 4.000 con xuống còn khoảng 200 con năm 1976. Năm 1977 chính phủ Trung Quốc sửa đổi lại luật, và cấm chỉ việc giết hổ hoang, nhưng điều này có lẽ đã quá muộn để có thể bảo vệ nòi này. Hiện tại còn 59 con còn đang bị nuôi nhốt, tất cả ở trong Trung Quốc, nhưng chúng chỉ sinh được có 6 con. Vì thế, tính đa dạng di truyền không được duy trì, làm cho khả năng tuyệt chủng vĩnh viễn trở nên rõ nét.
  • Hổ Sumatra (Panthera tigris sumatrae) tìm thấy ở đảo Sumatra (Indonesia). Quần thể hoang dã có khoảng 400 đến 500 con, nằm chủ yếu ở 5 vườn quốc gia trên đảo. Việc thử nghiệm gen gần đây đã phát hiện ra sự tồn tại của các dấu hiệu gen duy nhất, chỉ ra rằng nó có thể phát triển thành các loài riêng biệt, nếu nó không bị làm cho tuyệt chủng. Điều này dẫn tới giả thiết là hổ Sumatran có tầm quan trọng lớn hơn trong việc bảo tồn hơn bất kỳ một nòi nào khác. Sự phá hủy môi trường sống là mối đe dọa chính tới sự tồn tại của quần thể này (việc săn bắt thậm chí còn diễn ra trong các vườn quốc gia nằm dưới sự bảo vệ), 66 con đã bị bắn giết trong những năm từ 1998 tới 2000—gần 20% của tổng số hổ.
  • Hổ Siberi (Panthera tigris altaica), còn gọi là hổ Amur, hay hổ Mãn Châu(Trung Quốc gọi là hổ Đông Bắc 东北虎), gần như toàn bộ bị hãm trong những khu vực rất hạn chế của miền đông Nga, ở đó hiện nay chúng được bảo vệ. Trong tự nhiên có ít hơn 400 con (bây giờ đã tăng lên 540 con), và quần thể này về tương lai là khó tồn tại về mặt di truyền, do thảm họa tiềm ẩn của việc lai cùng dòng. Hổ Siberia là nòi hổ có kích thước lớn nhất với con đực thường dài trung bình 2,7 mét và nặng khoảng 290 kg, với bộ lông dày và những đường vằn lớn màu vàng nhạt.
  • Hổ Mã Lai (Panthera tigris jacksoni, đồng nghĩa: Panthera tigris malayensis), tiếng Mã Lai: Harimau Malaya), chỉ được tìm thấy tại khu vực phía nam của bán đảo Mã Lai. Cho đến tận năm 2004 nó đã không được công nhận là một phân loài hổ theo đúng nghĩa mà nó đáng được công nhận. Phân loại mới chỉ có sau khi diễn ra cuộc nghiên cứu của Luo S-J và ctv. từ Phòng thí nghiệm Đa dạng bộ Gen, một phần của Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ[12]. Hiện tại, người ta ước tính có khoảng 600-800 cá thể hổ Mã Lai trong tự nhiên, làm cho nó trở thành quần thể hổ lớn thứ ba, chỉ sau hổ Bengalhổ Đông Dương. Tuy nhiên, nó vẫn là phân loài đang nguy cấp. Về kích thước, trọng lượng và sức mạnh thì nó gần giống như hổ Đông Dương.
  • Hổ Đông Dương (Panthera tigris corbetti), được thấy ở Campuchia, Trung Quốc, Lào, Malaysia, Myanma, Thái LanViệt Nam. Quần thể ước tính của chúng là 1.200–1.800, có lẽ là ở mức thấp của khoảng này. Quần thể lớn nhất hiện nay ở Malaysia, là nơi việc săn bắn trộm bị kiểm soát chặt chẽ, nhưng tất cả các quần thể này nằm ở mức nguy hiểm cao do sự phân tán nơi sinh sống và lai cùng dòng. Tại Việt Nam, gần 3/4 lượng hổ đã bị giết để cung cấp nguồn cho y học Trung Quốc.
  • Hổ Bengal (Panthera tigris tigris) được tìm thấy trong rừng già và đồng cỏ của Bangladesh, Ấn Độ, Bhutan, Trung QuốcNepal[13]. Nó là con vật quốc gia của cả Bangladesh và Ấn Độ. Quần thể hoang dã ước tính của chúng là dưới 2.000 con[14], phần lớn sống ở Ấn Độ và Bangladesh. Hổ thuộc nòi này phải chịu nhiều áp lực từ việc thu nhỏ môi trường sống tới việc săn bắn trộm; một số loại biệt dược của y học cổ truyền Trung Quốc (đặc biệt trong điều trị bệnh liệt dương) cần các bộ phận của hổ. Dự án Hổ, một dự án bảo tồn của Ấn Độ bắt đầu từ năm 1972, đạt được những thành công không đáng kể trong việc bảo vệ nòi này.
  • Hổ Bali (Panthera tigris balica) đã có trên đảo Bali. Nòi hổ này bị săn bắn đến tuyệt chủng; con hổ Bali cuối cùng được cho là bị giết ở Sumbar Kima, tây Bali vào ngày 27 tháng 9, năm 1937; nó là một con hổ cái trưởng thành. Không có một con hổ Bali nào còn sống trong tình trạng nuôi nhốt. Hổ vẫn đóng một vai trò quan trọng trong tôn giáo của đạo Hindu ở Bali.
  • Hổ Java (Panthera tigris sondaica) đã tồn tại trên đảo Java của Indonesia. Nòi này có lẽ đã tuyệt chủng từ những năm thập niên 1980, như là hậu quả của việc săn bắn và phá hủy môi trường sống, nhưng sự tuyệt chủng của chúng có thể diễn ra từ những năm 1950 trở đi (khi đó người ta cho rằng chỉ còn ít hơn 25 con trong tự nhiên). Con hổ cuối cùng được nhìn thấy năm 1979.

Không có nhiều hoá thạch của loài hổ được tìm thấy, ngoại trừ những hoá thạch tìm thấy hầu hết ở Đông Nam Á thuộc kỷ Pleistocene. Tuy nhiên, có những phần hoá thạch 100.000 năm tuổi của hổ tìm thấy ở Alaska. Có lẽ thông qua đường nối giữa Siberia và Alaska trong kỷ Băng hà, con hổ này thuộc quần thể hổ Bắc Mỹ của nòi hổ Siberia. Ngoài ra, các nhà khoa học cũng phát hiện mối tương đồng giữa xương hổ với loài sư tử châu Mỹ: một loài họ mèo tuyệt chủng đã thống trị vùng Bắc Mỹ khoảng 10.000 năm trước. Những phát hiện mâu thuẫn này dẫn đến một giả thuyết rằng loài sư tử châu Mỹ có nguồn gốc là một loài hổ lục địa mới. Những hoá thạch của loài hổ được khai quật được ở Nhật Bản cho thấy loài hổ Nhật Bản không lớn hơn các nòi hổ thuộc các đảo cùng thời kỳ. Hiện tượng này có lẽ là do mối tương quan giữa kích thước cơ thể và khoảng không gian trống cũng như mật độ con mồi không nhiều.

Phương pháp săn mồi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tự nhiên, hổ là loài động vật thuộc nhóm động vật ăn thịt đầu bảng, với thân thể to lớn, tính hung hãn dữ tợn, bộ lông vằn vện, hàm răng khỏe, móng vuốt nguy hiểm, sức mạnh, bản lĩnh, tính kiên trì và tốc độ chạy khá tốt (cao nhất lên đến 65 km/h) nên hổ được mệnh danh là chúa tể sơn lâm và ít khi có kẻ thù tự nhiên. Hổ săn mồi có chiến thuật rõ ràng chứ không tấn công trực diện như sư tử, chúng săn mồi theo kiểu rình và vồ. Hổ chế ngự con mồi của chúng từ mọi góc, thông thường từ những cuộc tập kích và cắn cổ, thông thường là để làm gãy cột sống hay khí quản của con mồi, hay làm tổn thương tĩnh mạch hoặc động mạch chủ. Là một con thú bơi lội giỏi, hổ có khả năng giết chết con mồi ngay cả khi chúng đang bơi[15]. Một số con hổ thậm chí phục kích cả các con thuyền để bắt người hay cá của họ.

Nai, con mồi ưa thích của hổ

Hổ săn mồi thích nơi có lùm cây để ẩn nấp, tấn công bất ngờ, nhưng khi đùa giỡn, hành hạ con mồi thì nó tìm nơi đất trống[16] Khi săn mồi, hổ tiếp cận con mồi một cách rón rén, tận dụng những thân cây, bụi rậm, mỏm đá để ẩn mình và hiếm khi chúng rượt đuổi con mồi từ xa. Chúng di chuyển một cách cẩn trọng và nhẹ nhàng không gây ra tiếng động, ép sát thân xuống đất để con mồi khó phát hiện được. Khi áp sát con mồi thì hổ khống chế con mồi từ mọi góc độ, trong đó có hai phương pháp chính là tấn công từ đằng sau và cắn vào cổ để làm gãy cột sống hoặc cắn vào khí quản của con mồi, hoặc làm tổn thương tĩnh mạch, động mạch cảnh. Đối với những loài thú nhỏ, cân nặng chưa bằng một nửa trọng lượng cơ thể của con hổ, thì chúng giết con mồi bằng cách cắn vào gáy, chúng sẽ dùng răng nanh kẹp chặt đốt xương cổ, dùng sức mạnh của hàm bẻ gãy xương cổ, tách chúng ra khỏi tủy sống. Đối với những con mồi lớn hơn, chúng thường cắn vào cổ họng và ép chặt khí quản của con mồi làm nó ngẹt thở và chết nhanh hơn.

Đối với việc tấn công con người, hổ không thường xuyên xâm nhập vào khu định cư của con người mà thường chọn giải pháp phục kích [17][18] Hổ là loài cực kỳ tinh khôn, có khi nó nằm lỳ giả chết, cả ngày Đối với những con hổ còn non thì chúng lại hung hăng, liều lĩnh hơn, sẵn sàng săn mồi bất kỳ lúc nào, kể cả vào ban ngày nhưng trái ngược lại, những con hổ lớn lại tỏ ra đặc biệt tinh ranh, nan ngày, chúng nằm im bất động, chờ đến tối mới bắt đầu cuộc săn mồi. Những con mồi mà hổ chọn thường được theo dõi rất kỹ. Sau khi đã xác định được mục tiêu, với một cú vồ nhanh như chớp, con mồi đã bị hạ gục mà không kịp kêu lên tiếng nào. Thậm chí, dù bị tấn công thì những mục tiêu hổ đã lựa chọn thì nó sẽ bắt cho kỳ được[19].

Thông thường những con hổ cái khi chọn tấn công con người thường tập kích một cách lén lút nhất là khi con người đang cúi xuống làm việc hoặc khi đang cắt cỏ, nhưng có thể nó sẽ thôi ý định này khi một người đã đứng thẳng. Hổ thường tấn công bất ngờ nạn nhân từ phía bên hoặc từ phía sau hoặc là tiếp cận hướng gió hoặc nằm trong chờ đợi theo hướng gió.[20] nó sẽ tấn công người khi đơn độc, nó rất kiên nhẫn để chờ đợi điều này qua quá trình rình rập và đeo đuổi dai dẵng[20] Thông thường hổ sẽ tấn công bất ngờ từ đằng sau, nếu con người bỏ chạy nó sẽ đuổi theo vồ, hổ luôn luôn có những cú vồ đầy chết chóc[21]. Khi con người chống lại và đối mặt, nó sẽ gườm và thủ thế, lấy đà chụp mồi, nếu nó đập đuôi bên phải, sẽ phóng về bên trái, và ngược lại, vồ thẳng thì đuôi duỗi thẳng[22], khi hổ tấn công mục tiêu, chúng sẽ vọt tới vồ đối thủ hoặc vụt dậy tát mạnh bằng bàn chân trước, hổ sẽ thực hiện một cú tát, cú tát của hổ có thể hổ sẽ khiến cổ trâu, bò phải gãy, trẹo đi, hoặc làm vỡ sọ của một con gia súc, gãy lưng của một con gấu lười hay dễ dàng lấy mạng của một con sói lửa. Thường trước khi hổ tấn công, nó sẽ khom người xuống lấy tấn định phi tới[23], khi vồ hụt, chúng sẽ dừng ít giây chuẩn bị cho một cú vồ khác[24].

Khi giao đấu với người có mang theo vũ khí thì hổ luôn muốn đoạt vũ khí của người rồi mới dùng chân tát một cú chí mạng hay vồ đến cắn xé. Lúc muốn đoạt vũ khí, chúng sẽ giương vuốt và chồm lên[25], hổ thường tấn công theo kiểu lao lên không trung rồi phóng xuống chụp mồi, nên nó rất sợ có vật nhọn giương lên trời[26][27]. Trong khi chiến đấu hổ còn có một tuyệt chiêu mà giới võ học gọi là thế trâu vằng với việc con hổ khi chiến đầu thường nằm ngửa, chổng bốn chân lên trời để thế để lừa giết con mồi, nếu con người sơ ý nhảy vào tấn công là sẽ bị tấn công bằng một đòn chí mạng [28] Hổ còn táo tợn dám tấn công cả con người khi đang cưỡi voi. Mặc dù con hổ thường tránh voi, nhưng nó có thể nhảy vọt và phóc lên lưng voi để tấn công người quản tượng cưỡi trên lưng voi.[29] Hổ còn là mãnh thú hoang dã nguy hiểm nhất đối với các con vật khác cũng như với con người, một con hổ có thể tấn công, giết chết 3-4 người đang sức thanh niên như thường[24].

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Xem bài chính: Vòng đời của hổ (Cycle de vie du tigre)

Hổ là loài độc cư, chỉ đến thời kỳ giao phối chúng mới đến sống cùng nhau. Thông thường những hổ đực có tính trăng hoa, còn các con hổ cái thì lại khá chung tình nhưng rất kén chọn trong việc lựa chọn bạn tình. Độ tuổi phát dục của loài hổ tương đối giống nhau. Hổ cái khoảng 3 tuổi rưỡi, còn hổ đực thì muộn hơn. Thời kỳ động dục của hổ diễn ra từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Trong thời gian này, tiếng gầm của hổ rất vang, có thể đạt đến 2km, xa hơn bình thường gấp nhiều lần để có thể quyến rũ bạn tình. Một con hổ ba tuổi có thể giao phối và sinh sản, hổ cái mang thai khoảng 102-106 ngày gần giống như loài người. Mỗi lứa sinh khoảng từ 2-3 con, khả năng tử vong của hổ con khi chào đời tương đối cao, khi sinh hổ con không thể nhìn.

Quá trình làm quen và cặp đôi của hổ phức tạp và lâu. Trong suốt mấy tháng ròng, những con hổ đực phải lang thang khắp nơi để tìm cho được người bạn tình. Một hổ cái có thể có đến 4-5 hổ đực theo đuổi, do đó trong tự nhiên thường xảy ra những trận huyết chiến giữa những con hổ đực là đối thủ cạnh tranh giành hổ cái và con hổ nào thực sự đủ mạnh để chiến thắng các đối thủ cạnh tranh mới giành quyền giao phối với con cái, nhiều con hổ đực có thể bị thương nặng hoặc tử vong. Đây chỉ là một phần của cuộc chiến vì kẻ chiến thắng vẫn có thể bị từ chối bằng những phản ứng rất dữ dội từ con hổ cái vì chưa ưng ý. Để chiều lòng hổ cái, những con hổ đực còn phải săn mồi đem về cho con hổ cái ăn. Khi hai con hổ gặp nhau, rồi lại tách ra. Nếu hổ cái vẫn ăn uống, vui đùa, không có biểu hiện gì xảy ra, thì coi như nó không thích con hổ đực đó, còn nếu nó ngẩn ngơ, lầm lì, thậm chí bỏ ăn, thì đó là biểu hiện sự quyến luyến con hổ đực còn khi hổ cái lên cơn động dục, thì hổ đực cũng sẽ cảm thấy rất bức xúc, chúng gầm gừ dữ dội, đi loại loanh quanh và thòi hẳn dương vật hổ ra ngoài[30].

Một cặp hổ đang giao phối

Các con hổ cai khi động dục thường phát ra tiếng kêu hưng phấn, chủ động tiếp cận hổ đực. Các cặp tình nhân hổ cũng không bao giờ vội vàng. Trước khi làm tình, hổ đực và hổ cái bao giờ cũng có thói quen ngửi mùi của nhau, chúng phì phò gạ gẫm nhau. Sau khi hổ cái dụi má, cọ mông vào bạn tình, khi cơn động đực diễn ra thì con hổ cái đi tiểu bắn ra một thứ nước trắng đục như nước vo gạo và ngồi úp bụng xuống. Sau đó, hổ đực mới từ từ đi ra phía sau hổ cái và cuộc làm tình bắt đầu, hổ đực phi lên lưng, ngoạm vào gá, co chân và giao phối. Hổ cái thường có thói quen phát ra tiếng kêu hưng phấn và kích động trong khi đang ân ái với bất cứ chú hổ đực nào. Còn hổ đực lại có thói quen cắn nhẹ vào phần đầu và gáy của hổ cái, sau đó dù con hổ đực dũng mãnh nhất cũng ngay lập tức phải thối lui sau khi lần giao phối kết thúc vì con hổ cái rất dữ dằn[30].

Thông thường thì các cặp hổ thường làm tình với nhau vào buổi sáng sớm trong lành và yên tĩnh. Mỗi ngày, chúng gặp khoảng 2-3 lần, mỗi lần cách nhau khoảng 15 phút, cuộc tình giữa một cặp hổ kéo dài trong khoảng 3-5 ngày, cuộc giao phối giữa một cặp hổ kéo dài không quá một phút. Tổng cộng, mỗi ngày, 24 giờ, chúng quan hệ khoảng 30 lần trong 2 tiếng chúng chỉ quan hệ được với nhau 5-7 lần. Có thể thấy, loài hổ chưa bao giờ là loài vật mạnh mẽ trong chuyện sinh lý chúng chỉ giỏi nanh sắc vuốt nhọn, không hề có thế mạnh trong quan hệ[31] và trên phương diện này chúng thua xa sư tử.

Sau thời gian này, nếu hổ cái có biểu hiện gầm ghè đuổi con hổ đực đi thì có nghĩa là nó đã đậu thai và có mang[30]. Hổ cái 1-2 năm mới sinh nở một lần, mỗi lần mang thai kéo dài 105 ngày, mỗi lần mang thai từ 1-5 hổ con, thông thường thì chỉ có 2 con. Hổ mẹ chịu trách nhiệm nuôi nấng hổ con cho đến khi hổ con trưởng thành, thông thường khoảng thời gian này là 3 năm. Hổ đực sau cuộc tình thường trở về với lãnh địa của mình và tìm kiếm một con hổ cái mới. Cũng có trường hợp người ta thấy hổ đực cùng vợ và các con sống cùng nhau thành một gia đình hổ. Tuy nhiên, trường hợp này rất hiếm.

Quan hệ với con người[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ trong văn hóa đại chúng
Bengal Tiger d4617011x.jpg
Một họa phẩm về hổ trên tranh sơn dầu
Danh xưng
Vùng văn hóa ảnh hưởng
Ý nghĩa biểu tượng
Glasgow Tigers Logo.jpg
  • Sức mạnh, uy quyền, hung dữ
  • Vẻ đẹp, sự hoang dã, oai linh
  • Ác thú
Trong văn hóa, hình tượng con hổ - Chúa Sơn Lâm biểu tượng cho sức mạnh, sự hung dữ, táo tợn uy mãnh, vẻ đẹp và tâm linh nhưng cũng đồng thời là loài thú dữ hại người

Trong văn hóa đại chúng, hình tượng con hổ hay Chúa Sơn Lâm đã xuất hiện từ lâu đời và gắn bó với lịch sử của loài người. Trong nhiều nền văn hóa khác nhau thế giới, hình ảnh con hổ gợi lên những liên tưởng về sức mạnh, sự oai linh, vẽ đẹp rực rỡ nhưng đầy bí hiểm, sự uyển chuyển với cơ thể vằn vện thấp thoáng lượn sóng cũng tính hung hãn, thú tính của một động vật săn mồi hàng đầu và là một biểu tượng của đẳng cấp chiến binh[32] cũng như toát lên vẽ đẹp hùng vĩ và sức mạnh[33][34] Về bản chất tự nhiên, hổ là dã thú có sức mạnh, to khỏe, nhanh nhẹn, thuần thục về kỹ thuật chiến đấu, thành thạo về kỹ năng săn mồi, loài vật này còn đặc trưng bởi tính hung dữ, táo bạo, liều lĩnh, dám tấn công hay đối địch nhiều thú to khỏe khác cùng với tiếng gầm rống rung chuyển núi rừng gây khiếp đảm cho muôn loài và còn là động vật tinh khôn từ đó hổ được người ta tôn lên vị trí Chúa tể của rừng núi và coi hổ là con vật linh thiêng[35][36].

Đối với nhiều nước châu ÁChâu lục mà loài hổ phấn bố thì hổ còn là biểu tượng của sức mạnh, uy quyền và tâm linh. Tại đây, hổ được coi là có vị trí thống trị trong giới động vật nên nhân dân ở một số nước phương Đông đã thần thánh hóa loài này với tập tục thờ hổ hay thờ thần hổ đã đi vào tín ngưỡng dân gian của nhiều dân tộc, cộng đồng[37][38] nhất là ở những chốn rừng núi sâu thẳm thì hổ luôn được thờ phụng[39], một số dân tộc khác còn tôn thờ hổ như thần giám hộ, nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng hình ảnh con hổ là biểu tượng của đất nước, là vật tổ của dân tộc mình. Hình ảnh con hổ đã đi sâu vào văn hóa, lịch sử, nghệ thuật như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á.... Ở một số nơi khác, hổ cũng tượng trưng cho quyền uy, sức mạnh uy mãnh và ở một khía cạnh nào đó là biểu hiện cho nhiều phẩm chất cao quý, đẹp đẽ của con người như phẩm chất kiên trì theo một số quan niệm do với tập tính của nó, con hổ còn thể hiện phẩm chất kiên nhẫn và dũng cảm vì bản năng các con hổ biết khi nào nên nằm yên phục kích con mồi nhưng cũng biết vồ lấy cơ hội khi con mồi mất cảnh giác.

Các triều đại phong kiến ở các nước Phương Đông coi hổ cùng với rồng là biểu trưng cho vương quyền, trong quân sự, võ học và cho những thành đạt trong khoa cử, chính vì vậy mà hình ảnh con hổ xuất hiện khá phổ biến trong cung cấm, doanh trại và trong trường thi[40] Đứng hàng thứ ba trong thập nhị địa chi, hổ là vị vua mang nhiều ẩn dụ nhất trong các loài dã thú. Trong dân gian Việt Nam, hình ảnh con hổ phổ biến trong các kiến trúc đình, miếu, dưới chế độ quân chủ của triều đình phong kiến, hình ảnh Hổ được biểu tượng cho sức mạnh quân sự, cho các vị võ tướng và thường được thêu trên áo các võ quan hàng tứ phẩm[41] ở một khía cạnh khác, người ta thường kể nhiều chuyện dân gian, sự đồi thổi, vẽ tranh, tạc tượng về con hổ rất nhiều và khiến cho nó trở thành những nhân vật trung tâm của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật đại chúng[42].

Trong ngôn ngữ, nghệ thuật, người ta vẫn dùng đến hình ảnh con hổ với nhiều tác phẩm nổi tiếng có sự hiện diện của loài hổ. Trong một số lĩnh vực khác đặc biệt là lĩnh vực quân sự thời hiện đại lại có sự hiện diện rất lớn của hình ảnh con hổ với biểu tượng về sức mạnh của các đơn vị vũ trang, các loại vũ khí. Ngày nay, trong văn hóa đại chúng trên nhiều lĩnh vực như thể thao, kinh tế, quảng cáo đặc biệt là dùng để chỉ về tiềm lực hùng mạnh cũng như sự trổi dậy của nền kinh tế ở các quốc gia đặc biệt là ở châu Á như Bốn con hổ châu Á, bốn con hổ con kinh tế (Tiger Cub Economies), Những con hổ kinh tế mới [43] Những con Hổ kinh tế (Tiger economies) là cách nói hình tượng dành cho những nền kinh tế với tốc độ phát triển rất nhanh và mạnh, thường gắn liền với sự cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống[44]. Người ta cũng sử dụng hình tượng, biểu tượng, biểu trưng, phù hiệu, nhãn hiệu có thể hiện hình ảnh con hổ.

Trong thời hiện đại, hình tượng con hổ đã trở nên ngộ nghĩnh, đáng yêu hơn rất nhiều so với hình ảnh của một loài ác thú trước đó nhằm đề cao ý thức bảo vệ, bảo tồn loài hổ khi loài này đã trở thành một động vật quý hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng. Một cuộc thăm dò dư luận của kênh truyền hình Animal Planet cho kết quả hổ là con vật được yêu thích nhất trên thế giới với kết quả điều tra đối với hơn 50.000 người xem đến từ 73 quốc gia, theo kết quả bỏ phiếu thì hổ nhận được 21% số phiếu bầu và đứng hạng nhất, tiếp theo là chó với số phiếu sát sao 20%, cá heo đạt 13%, ngựa đạt 10%, sư tử chỉ đạt 9%, rắn được 8%, tiếp theo là voi, tinh tinh, đười ươicá voi[45][46][47] Ngày nay, cả thế giới đã dành riêng một ngày để kỷ niệm về loài hổ đó là Ngày quốc tế về bảo tồn hổ (nhằm ngày 29 tháng 7 hàng năm)[48][49][50] lần đầu tiên, ngày này đã diễn ra tại Việt Nam vào năm 2011, tại công viên Thống Nhất diễn ra mít tinh và hội thảo về tăng cường công tác bảo tồn hổ nhân Ngày quốc tế về Bảo tồn hổ nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề bảo tồn loài hổ.[51][52]

Tấn công con người[sửa | sửa mã nguồn]

Hổ vồ người hay hổ ăn thịt người, hổ cắn chết người, hổ vồ chết người là thuật ngữ chỉ những vụ hổ tấn công con người với nhiều nguyên nhân và các trường hợp khác nhau. Đây là một hình thức cực đoan và cực điểm của việc xung đột giữa con người và động vật hoang dã. Việc hổ tấn công người đã được ghi nhận từ lâu trong lịch sử đặc biệt là đối với các nước châu Á nơi phân bố của loài hổ. Nhiều sự kiện đã đi vào văn hóa dân gian của các nước như một nỗi ám ảnh khiếp đảm đến mức nhiều vùng miền có tục thờ hổ vì sợ bị hổ dữ làm hại. Ngày nay, nhiều vụ việc hổ tấn công con người do những sự cố, tai nạn xảy ra trong các vườn thú, rạp xiếc gây ra những vụ việc nổi cộm gây kinh hoàng trong dư luận.

Những thống kê cho thấy hổ là con vật tấn công và gây thiệt mạng cho loài người nhiều hơn bất kỳ loài mèo lớn nào khác. Người ta ước tính rằng ít nhất đã có 373.000 người bị thiệt mạng do hổ vồ từ giai đoạn năm 1800 đến năm 2009[53]. Phần lớn các cuộc tấn công xảy ra ở Nam ÁĐông Nam Á, ở Đông Nam Á, các cuộc tấn công giảm dần sau khi đạt đỉnh trong thế kỷ XIX, nhưng các cuộc tấn công ở Nam Á vẫn ở mức cao, đặc biệt là ở Sundarbans, tại đây hàng năm các con hổ đã vồ và giết chết khoảng 50 đến 250 người[54][55]. Chỉ tính riêng giữa năm 1876 và năm 1912, những con hổ giết chết 33.247 người ở Ấn Độ lúc này là thuộc địa của Anh.[56]

Săn hổ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Săn hổ

Săn hổ hay sắn bắt hổ là việc bắt giữ hay giết hại hổ. Ngày nay, với các quy định pháp luật về bảo vệ loài hổ thì phạm trù này còn được mở rộng ra với các hành vi như nuôi nhốt, tàng trữ, vật chuyển, giết mổ trái phép để lấy các sản phẩm từ hổ[57][58]. Mặc dùng trong môi trường tự nhiên hổ là động vật ăn thịt đầu bảng và không có nhiều kẻ thù dám đe dọa đến sinh mạng, nhưng con người là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sự tồn vong của con hổ bởi việc săn bắt bất hợp pháp. Hổ Bengal là phân loài phổ biến nhất của con hổ, chiếm khoảng 80% toàn bộ dân số hổ, và được tìm thấy ở Bangladesh, Bhutan, Myanmar, Nepal, Ấn Độ và đã bị săn bắt trong nhiều thế kỷ.

Tục săn hổ đã có từ lâu trong lịch sử và con hổ là một động vật phổ biến của những trò chơi chết chóc, chúng đã bị săn bắt để thể hiện uy danh, sức mạnh của con người cũng như những danh hiệu đạt được khi săn được hổ. Ngày nay, nạn săn bắt trộm vẫn tiếp tục lộng hành ngay cả sau khi việc săn bắn hổ đã trở thành hành vi bất hợp pháp và loài hổ đã được pháp luật bảo vệ. Điều này đã dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng cho loài hổ trên khắp thế giới[59]. So với sư tử thì hổ được coi là khó khăn hơn khi săn bắn vì thói quen sinh sống trong rừng rậm, các bụi cây rậm rạp và ít khi gầm rú ồn ào để khẳng định sự hiện diện của mình như sư tử[60].

Những con hổ hoang dã là một trong những loài bị đe dọa nhất trên hành tinh. Các yếu tố chính đe dọa sự tồn tại của những con hổ chính là con người để phục vụ cho nhu cầu, do niềm tin tín ngưỡng, thực hành nghi lễ và sự gia tăng dân số của con người cộng với va chạm giữa con người và khu vực sinh sống của hổ, mặc dù quần thể hổ chủ yếu bị ảnh hưởng bởi suy thoái môi trường sống và giảm mật độ con mồi. Hổ thường bị săn bắt để lấy da, xương, hay các bộ phận khác. Nạn săn bắt, buôn bán hổ khiến số lượng loài động vật quý hiếm này giảm 95% so với đầu thế kỷ XX. Ngày nay trên thế giới chỉ còn khoảng 5.000 - 7.000 cá thể hổ hoang dã, trong đó có khoảng 200 con ở Việt Nam và 1.500 con ở Ấn Độ [5]. Loài hổ đã được đưa vào danh sách các loài đang gặp nguy hiểm. Tổ chức động vật hoang dã Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) ước tính chỉ còn 3.200 con hổ sống trong môi trường hoang dã trên toàn thế giới, riêng tại Việt Nam chỉ còn 30 con [61]. Năm 2010, số lượng hổ ở Việt Nam chỉ còn vỏn vẹn 30 con và toàn khu vực sông Mê Kông chỉ còn khoảng 350 con hổ. Cả thế giới chỉ còn 3500 con hổ. Đối với Việt Nam năm 2010 cũng có thể là năm cuối cùng của hổ. Năm 2022, theo các dự đoán của Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (WWF) hổ sẽ biến mất ở vùng sông Mê Kông.[62]

Đông Y[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Cao hổ cốtPín hổ

Nhiều người Trung Quốc vẫn luôn tin rằng nhiều bộ phận của con hổ có tác dụng trong y học, bao gồm các tác dụng giảm đau và kích dục.[63] Đặc biệt quan niệm cho rằng hổ là động vật mạnh mẽ bậc nhất núi rừng nên khả năng tình dục của chúng là rất tốt và thể hiện qua pín hổ sẽ giúp cho người đàn ông tăng cường sinh lực, bổ thận tráng dương theo niềm tin ăn gì bổ nấy. Không có bất cứ một bằng chứng khoa học nào chứng minh điều này. Việc sử dụng các bộ phận của hổ trong y học đã bị cấm ở Trung Quốc, và chính phủ đã liệt một số tội liên quan đến việc săn trộm hổ vào loại có thể bị xử tử hình. Hơn nữa, tất cả việc buôn bán các bộ phận của hổ đều là trái phép dưới công ước về việc buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã và việc bán trong nước cũng đã bị cấm ở Trung Quốc năm 1993. Cho đến nay, vẫn tồn tại những trại chăn nuôi hổ để thu lội nhuận. Ước tính rằng có khoảng từ 5.000 đến 10.000 con được thuần hoá một phần và đang được nuôi nhốt trong các trại hổ hiện nay.[57][64][65]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cat Specialist Group (2002). Panthera Tigris. Sách đỏ 2006. IUCN 2006. Truy cập 10 tháng 5 năm 2006. Mục của cơ sở dữ liệu có kèm lý giải tại sao loài này đang nguy cấp.
  2. ^ a ă Linnaeus, Carolus (1758). Systema naturae per regna tria naturae:secundum classes, ordines, genera, species, cum characteribus, differentiis, synonymis, locis. 1 (ấn bản 10). Holmiae (Laurentii Salvii). tr. 41. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008. 
  3. ^ “Wild Tiger Conservation”. Save The Tiger Fund. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2009. 
  4. ^ “Encyclopaedia Britannica Online - Tiger (Panthera tigris)”. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2007. 
  5. ^ a ă VietnamNet, Việt Nam chỉ còn khoảng 200 con hổ, 26/06/2008
  6. ^ http://web.archive.org/web/20100213201931/vn.news.yahoo.com/vne/20100210/tsc-nhung-ieu-thu-vi-ve-ho-bd74575.html truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010
  7. ^ a ă (tiếng Đức) Vratislav Mazak: Der Tiger. Nachdruck der 3. Auflage von 1983. Westarp Wissenschaften Hohenwarsleben, 2004 ISBN 3 894327596
  8. ^ Điều đáng ghi nhận là những màu sắc của các nòi hổ trùng với bức tranh dân gian Đông Hồ Ngũ hổ của Việt Nam với các con hổ như Bạch hổ, Hoàng hổ, Hắc hổ, Thanh hổ, Xích hổ
  9. ^ http://kenh14.vn/kham-pha/10-loai-dong-vat-thuoc-hang-sieu-quy-hiem-tren-the-gioi-20110730102457670.chn
  10. ^ “Những điều thú vị về hổ”. VnExpress. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2010. 
  11. ^ Tìm ra chất khiến ma cà rồng thèm máu
  12. ^ “Laboratory of Genomic Diversity LGD”. 
  13. ^ EXPLORING MAMMALS, Marshall Cavendish, Marshall Cavendish Corporation, John L Gittleman
  14. ^ “Task force says tigers under siege”. Indianjungles.com. 5 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2009. 
  15. ^ http://vnexpress.net/tin-tuc/xa-hoi/nhieu-gia-thiet-vu-ho-song-chuong-can-chet-nguoi-2144503.html
  16. ^ http://vtc.vn/394-367192/phong-su-kham-pha/cuoc-dau-kinh-hoang-voi-con-ho-cuoi-cung-o-u-minh-ha.htm
  17. ^ Man-eaters. The tiger and lion, attacks on humans
  18. ^ Increasing tiger attacks trigger panic around Tadoba-Andhari reserve
  19. ^ Hổ dữ bắt người và ký ức kinh hoàng về cuộc huyết chiến "ông ba mươi" ngay trước sân nhà Duy Khánh – Văn Nhân 11/08/2013 14:00 (GMT+7)
  20. ^ a ă Perry, Richard (1965). The World of the Tiger. 260. ASIN: B0007DU2IU. 
  21. ^ http://vtc.vn/51-395065/phong-su-ky-su/vao-noi-tung-la-tam-diem-cua-ma-tranh-than-ho.htm
  22. ^ http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130407/theo-dau-nguoi-xua-ky-44-chua-dieu-quang-va-giai-thoai-danh-cop.aspx
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ReferenceA
  24. ^ a ă http://www.tin247.com/giai_thoai_ve_ky_nghe_san_chua_son_lam_thoi_phap_thuoc-11-22337654.html
  25. ^ http://kienthuc.net.vn/thien/chiec-so-cop-huyen-bi-o-chua-dieu-quang-241685.html
  26. ^ http://hcm.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/mot-minh-truy-lung-cop-chua-thanh-tinh-c46a567181.html
  27. ^ http://dantri.com.vn/xa-hoi/vua-san-ho-va-cai-chet-tham-545380.htm
  28. ^ http://www.nguoiduatin.vn/tran-da-ho-kinh-thien-dong-dia-cua-mon-phai-tan-khanh-ba-tra-a57409.html
  29. ^ Singh, Kesri. (1959) The tiger of Rajasthan. Hale
  30. ^ a ă â http://vtc.vn/394-240292/phong-su-kham-pha/chuyen-thu-vi-ve-tinh-truong-cua-ho.htm
  31. ^ 12:11:05. “"Ngũ xà", "pín hổ" cũng cần toa | aFamily”. Afamily.vn. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2013. 
  32. ^ “Con hổ trong văn hóa thế giới”. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Đ.T. 6 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  33. ^ “Tigers in Popular Culture”. Tigers-World.com. 15 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  34. ^ “Cuộc giành giật xác người với bầy hổ đói ở Mường Lát”. VTC News. Lê Quân. 5 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  35. ^ “Chuyện thú vị về lễ hội bắt hổ ở thung lũng Lòn Bon”. VTC News. Long Vân. 23 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  36. ^ “Bí mật về đàn mãnh thú rừng xanh ở Hà Nội”. VTC News. Phạm Ngọc Dương. 27 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  37. ^ “Tranh dân gian ngũ hổ”. VOV online. Phan Quán. 18 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  38. ^ “Xem bẫy hổ”. 24h. 17 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  39. ^ “'Vương quốc' của thần hổ và ma trành”. VTC News. Gia Linh. 20 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  40. ^ “Hình tượng con hổ trong văn hoá Việt Nam”. Tạp chí VH, TT & DL Vĩnh Phúc. Côn Giang. 15 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  41. ^ “Hình tượng chúa sơn lâm trong điệu múa cung đình "Long Hổi hội"”. NET Cố đô. Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế. 23 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  42. ^ “Ca dao, tục ngữ, thành ngữ về Hổ”. 24h. Hipteen Sinja. 7 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  43. ^ “Kinh tế Việt Nam có cơ hội thành một 'con hổ' mới”. VnExpress. Anh Quân. 21 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  44. ^ “Con Hổ Việt Nam và những tiếng gầm gừ”. Hội Doanh nhân. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  45. ^ “Tiger tops dog as world's favourite animal”. Independent Online. 6 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  46. ^ “CBBC Newsround | Animals | Tiger 'is our favourite animal'”. BBC News. 6 tháng 12 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  47. ^ “Endangered tiger earns its stripes as the world's most popular beast | Independent, The (London) | Find Articles at BNET.com”. Findarticles.com. 6 tháng 12 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  48. ^ “World's first tiger summit ends with £330m pledged amid lingering doubts”. The Guardian (London: Jonathan Watts). 24 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2011. 
  49. ^ “Vietnam observes International Tiger Day”. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2011. 
  50. ^ “International Tiger Conservation Forum”. Tiger Conservation Forum. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2011. 
  51. ^ “Ngày quốc tế về bảo tồn hổ tại Việt Nam”. TTXVN. M.P. 29 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  52. ^ “Lần đầu tiên Việt Nam tổ chức ngày quốc tế Hổ”. VnExpress. Hương Thu. 28 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2013. 
  53. ^ Nyhus, P. J.; Dufraine, C. E.; Ambrogi, M. C.; Hart, S. E.; Carroll, C.; Tilson, R. (2010). “Human–tiger conflict over time”. Trong Tilson, R.; Nyhus, P. J. Tigers of the world: The science, politics, and conservation of Panthera tigris (ấn bản 2). Burlington, MA: Academic Press. tr. 132–135. ISBN 978-0-8155-1570-8. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2013. 
  54. ^ www.bforest.gov.bd/highlights.php
  55. ^ http://www.dnaindia.com/report.asp?newsid=1180734&pageid=2
  56. ^ Compiled from official British records available at the Digital South Asia Library (University of Chicago and the Center for Research Libraries).
    1. "Number of persons and cattle killed in British India by wild beasts and snakes", Statistical abstract relating to British India from 1867–68 to 1876–77, (London: Her Majesty's Stationary Office): p. 132, 1878, retrieved 30 March 2013.
    2. "Number of persons and cattle killed in British India by wild beasts and snakes", Statistical abstract relating to British India from 1876–77 to 1885–86, (London: Her Majesty's Stationary Office): p. 240, 1887, retrieved 30 March 2013.
    3. "Number of persons and cattle killed in British India by wild beasts and snakes", Statistical abstract relating to British India from 1885–86 to 1894–95, (London: Her Majesty's Stationary Office): p. 268, 1896, retrieved 30 March 2013.
    4. "Number of persons and cattle killed in British India by wild animals and snakes", Statistical abstract relating to British India from 1894–95 to 1903–04, (London: Her Majesty's Stationary Office): p. 238, 1905, retrieved 30 March 2013.
    5. "Number of persons and cattle killed in British India by wild animals and snakes", Statistical abstract relating to British India from 1903–04 to 1912–13, (London: His Majesty's Stationary Office): p. 240, 1915, retrieved 30 March 2013.
  57. ^ a ă “Chinese tiger farms must be investigated”. WWF. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2009. [[]][liên kết hỏng]
  58. ^ Khoản 3, Điều 5 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ VỀ QUẢN LÝ THỰC VẬT RỪNG, ĐỘNG VẬT RỪNG NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM
  59. ^ Vital Statistics: More Information. Vitalstatistics.info. Retrieved on 26 February 2012.
  60. ^ Perry, Richard (1965). The World of the Tiger. p. 260. ASIN: B0007DU2IU.
  61. ^ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/08/110801_viet_tigers.shtml Việt Nam 'chỉ còn 30 cá thể hổ'
  62. ^ “Hành động ngay để cho loài hổ một đường sống”. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010. 
  63. ^ Harding, Andrew (23 tháng 9 năm 2006). “Programmes | From Our Own Correspondent | Bắc Kinh's penis emporium”. BBC News. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2009. 
  64. ^ “WWF: Breeding tigers for trade soundly rejected at cites”. Panda.org. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2009. [[]][liên kết hỏng]
  65. ^ Jackson, Patrick (29 tháng 1 2010). “Tigers and other farmyard animals”. BBC News. Truy cập 29 tháng 1 2010. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]