Bò tót
| Bò tót | ||||||||||||||||
Bò tót
|
||||||||||||||||
| Tình trạng bảo tồn | ||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Phân loại khoa học | ||||||||||||||||
|
||||||||||||||||
| Danh pháp hai phần | ||||||||||||||||
| Bos gaurus Smith, 1827 |
Bò tót (danh pháp khoa học: Bos gaurus, tên địa phương con min,[1], trước đây được gọi là Bibos gauris) hoặc minh, còn gọi là con gaur, là động vật thuộc bộ Guốc chẵn (Artiodactyla), họ Trâu bò (Bovidae) có lông màu sẫm và kích thước lớn, sinh sống chủ yếu ở vùng đồi của Ấn Độ và Đông Nam Á. Chúng có thể sinh sống ở dạng hoang dã hay đã được con người thuần hóa. Nó còn có tên gọi khác là bò rừng Mã Lai hay bò rừng bizon Ấn Độ. Trên thực tế, bò tót không có quan hệ gần với bò rừng bizon ở châu Âu và Bắc Mỹ.
Tại Việt Nam, bò tót được người dân tộc thiểu số gọi là con min, nghĩa là trâu rừng, do chúng có hình dáng tương tự loài trâu. Bò tót đã được các chuyên gia động vật học trên thế giới thừa nhận là một loài bò rừng lớn nhất trong tự nhiên, to lớn hơn cả trâu rừng châu Á và bò rừng bizon Bắc Mỹ. Một con bò đực trưởng thành thường nặng hàng tấn.
Các nhóm hoang dã và các nhóm đã được thuần hóa đôi khi được phân ra thành các nhóm riêng biệt, với bò tót hoang dã được gọi là Bibos gauris hay Bos gaurus và bò tót thuần hóa được gọi là Bos frontalis.
Mục lục |
Đặc điểm sinh học [sửa]
Bò tót nhìn giống như trâu ở phía trước và giống như bò ở phía sau. Bò tót là loài thú có tầm vóc khổng lồ. Tại Ấn Độ và Mã Lai, bò tót được xem là biểu tượng của sức mạnh và sự cường tráng.
Một con bò đực trưởng thành cao trung bình 1,8-1,9m, dài trung bình khỏang 3 m. Khối lượng trung bình của bò tót Ấn độ vào khoảng 1,3 tấn, bò tót Mã lai khoảng 1 tấn, và bò tót Đông Nam Á 1,5 tấn. Những con to có thể cao tới 2,1 - 2,2m, dài 3,6 - 3,8m và nặng hơn 1,7 tấn.
Với vóc dáng này, bò tót là loài thú lớn thứ hai trên cạn về tầm vóc và chiều cao, chỉ xếp sau voi; chúng cao hơn cả 5 loài tê giác. Về khối lượng, bò tót đứng thứ tư trên cạn, sau voi, tê giác trắng và tê giác Ấn Độ. Con cái thấp hơn con đực khoảng 20 cm và nặng khoảng 60 - 70% khối lượng con đực.
Bò đực có màu đen bóng, lông ngắn và và gần như trụi hết khi về già. Bò cái có màu nâu sẫm, những cá thể sống ở địa hình khô và thưa còn có màu hung đỏ.
Bò đực và cái đều có sừng. Sừng to, chắc, và uốn cong về phía trước. Chiều dài trung bình của sừng thường từ 80 – 85 cm ở bò đực, sừng bò cái ngắn, nhỏ hơn và uốn cong hơn. Trên trán, giữa 2 gốc sừng là 1 chỏm lông, thường có màu vàng. Mũi sừng có màu xanh xám, chuyền dần sang xám đen rồi đen bóng ở những chú bò già. Gốc sừng có màu xám đen, và có những lằn rãnh nằm ngang, gọi là răng. Phần giữa gốc sừng và mũi sừng có màu vàng nhạt.
Đuôi chỉ dài ngang đến khuỷu chân sau. Ở cả 4 chân, từ khuỷu chân trở xuống có màu trắng, trông giống như đi tất trắng. Con đực còn có 1 luống cơ bắp chạy dọc sống lưng đến quá bả vai, và một cái yếm lớn trước ngực, tạo ra một dáng vẻ rất kỳ vĩ.
Về mặt di truyền, trước đây người ta cho rằng chúng có quan hệ họ hàng gần với trâu, nhưng các phân tích gen gần đây cho thấy chúng gần với bò hơn, với bò chúng có thể sinh ra con lai có khả năng sinh sản. Người ta cho rằng họ hàng gần nhất của chúng là bò banteng và cho rằng chúng có thể sinh ra con lai có khả năng sinh sản.
Tập tính [sửa]
Trong tự nhiên, bò tót sống thành từng đàn từ 8-10 cá thể. Những con bò đực già thường sống đơn độc hoặc hợp với nhau thành từng nhóm nhỏ.
Bò tót thích ăn lá non, mầm tre non, cỏ non mới mọc ở nương rẫy cháy. Có thai khoảng 270 ngày, đẻ mỗi năm một lứa, mỗi lứa một con. So với bò rừng, bò tót dữ hơn, nguy hiểm cho người hơn. Khi bị bắn, bò rừng phân tán chạy trốn nhưng bò tót sẵn sàng tấn công kẻ thù.
Thiên địch [sửa]
Với vóc dáng khổng lồ và sức mạnh của mình, bò tót hầu như không có kẻ thù trong tự nhiên, ngoại trừ hổ. Hổ là loài thú săn mồi duy nhất có thể đánh hạ một con bò tót trưởng thành, tuy nhiên chỉ những con hổ trưởng thành có kích thước lớn và giàu kinh nghiệm mới dám đối đầu với chúng[2].
Các phân loài [sửa]
- Bos gaurus laosiensis hay Bos gaurus readei: Bò tót Đông Nam Á, (có mặt ở Myanma và Trung Quốc), Việt Nam, Lào và Campuchia. Đây là phân loài bò tót có tầm vóc to lớn nhất, nhưng đáng tiếc, cũng là giống bò tót bị tàn sát nhiều nhất. Một con đực to có thể cao tới 2,2 m và nặng trên 2 tấn. Hiện nay, tại Việt Nam chỉ còn khoảng 300 con bò tót, phân bố chủ yếu tại vườn quốc gia Mường Nhé (Lào Cai), vùng rừng núi Tây Nguyên, vườn quốc gia Chư Mom Rây (Kon Tum) và vườn quốc gia Cát Tiên (Lâm Đồng), sân bay Phú Bài (Huế)[2]. Tuy nhiên, những đàn bò tót này đang đứng trước hiểm họa diệt chủng cao do rừng bị chặt phá và nạn săn trộm thú quý.
- Bos gaurus gaurus (Ấn Độ, Nepal) còn gọi là "bò rừng bizon Ấn Độ", là phân loài phổ biến nhất. Phân bố tại Ấn Độ và Nepal, Bhutan. Rất to lớn, con đực có thể nặng tới 1,7 tấn, tuy nhiên vẫn nhỏ hơn bò tót Đông Nam Á. Sừng chúng cong hơn sừng bò tót Đông nam Á.
- Bos gaurus hubbacki (Thái Lan, Malaysia). Đây là phân loài bò tót nhỏ nhất. Bò đực không có yếm trước ngực.
- Bos gaurus frontalis, bò tót thuần hóa, có thể là con lai bò tót và bò nhà; có khả năng sinh sản.
Chú thích [sửa]
- ^ Bách khoa toàn thư Việt Nam
- ^ a b http://phunutoday.vn/xi-nhan/trai-hay-phai/201207/Tram-phan-tram-chung-ta-la-nhung-con-bo-tot-2173857/
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Bò tót. |
- Gaur fact sheet
- Bò tót khổng lồ của rừng Cát Tiên
- hãy cứu những con bò rừng cuối cùng của Việt Nam
- Bò tót Việt Nam bị kiểm lâm chặt đầu
- Gaur introduction
- Bò tót xuất hiện tại Phong Nha-Kẻ Bàng
- Đàn bò tót 13 con xuất hiện tại rừng Khe Kỷ, Quảng Trị
- Chu Mom Ray, he sinh thai dien hinh cua Dong Nam A
- Loài dễ thương tổn
- Sách đỏ Việt Nam
- Họ Trâu bò
- Bò
- Động vật có vú Ấn Độ
- Động vật có vú Bangladesh
- Động vật có vú Bhutan
- Động vật có vú Campuchia
- Động vật có vú Lào
- Động vật có vú Malaysia
- Động vật có vú Myanmar
- Động vật có vú Nepal
- Động vật có vú Thái Lan
- Động vật có vú Trung Quốc
- Động vật có vú Việt Nam
- Hoàng dã Vân Nam