Tê giác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tê giác
Thời điểm hóa thạch: 50–0Ma
Hậu Eocen-gần đây
Rhino-216.jpg
Tê giác đen, Diceros bicornis
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Phân lớp (subclass) Eutheria
Bộ (ordo) Perissodactyla
Họ (familia) Rhinocerotidae
Gray, 1821
Các chi sinh tồn

Ceratotherium
Dicerorhinus
Diceros
Rhinoceros

Các chi tuyệt chủng, xem văn bản

Tê giác là các loài động vật nằm trong số 5 chi còn sống sót của động vật guốc lẻ trong họ Rhinocerotidae. Tất cả 5 chi nói trên đều có nguồn gốc ở châu Phi hay châu Á. Đặc trưng nổi bật của động vật có sừng này là lớp da bảo vệ của chúng được tạo thành từ các lớp chất keo với độ dày tối ưu khoảng 4 inch được sắp xếp theo cấu trúc mắt lưới.

Họ[sửa | sửa mã nguồn]

Một số loài tê giác chỉ mới tuyệt chủng trong thời gian địa chất gần đây, nổi tiếng nhất là Kỳ lântê giác lông tơđại lục Á-Âu: nguyên nhân của sự tuyệt chủng này là do thay đổi khí hậu hay sự săn bắn của con người vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. Các chứng cứ hiện tại cho thấy chúng có lẽ đã sống sót qua nhiều thay đổi khí hậu cho đến khi người hiện đại xuất hiện.

Các động vật tương tự tê giác đã lần đầu tiên xuất hiện trong thế Eocen (34-56 triệu năm trước) như là các động vật có hình dáng ngoài thon thả, và vào thời kỳ cuối thế Miocen (5,3-23 triệu năm trước) đã tồn tại nhiều loài khác nhau. Phần lớn các loài này có bề ngoài đồ sộ. Một loài là Indricotherium đã cân nặng khoảng 30 tấn và (trong số các động vật đã biết) là một trong số các động vật lớn nhất trong số động vật có vú đã từng sống trên Trái Đất. Tê giác bị tuyệt chủng trong thời kỳ thế Pliocen (1,8-5,3 triệu năm trước) ở Bắc Mỹ, và trong thời kỳ thế Pleistocen (10.000 đến 1,8 triệu năm trước) ở Bắc Á và châu Âu.

Năm loài còn sống sót hiện nay thuộc về ba tông. Loài tê giác Sumatra đang ở tình trạng cực kỳ nguy cấp là đại diện duy nhất còn sống sót trong nhóm nguyên thủy nhất- Dicerorhinini- đã xuất hiện trong thế Miocen (khoảng 20 triệu năm trước). Loài tê giác lông tơ đã tuyệt chủng ở miền bắc châu Âu và châu Á cũng là thành viên của tông này. Còn hai loài thuộc tông Rhinocerotini vẫn đang sống sót là tê giác Ấn Độ (nguy cấp) và tê giác Java (cực kỳ nguy cấp), đã phân nhánh từ một gốc khác khoảng 10 triệu năm trước. Hai loài ở châu Phi là tê giác trắngtê giác đen, đã phân nhánh trong thời kỳ đầu thế Pliocen (khoảng 5 triệu năm trước) nhưng chúng vẫn thuộc về nhóm Dicerotini ở giữa thế Miocen (khoảng 14 triệu năm trước). Khác biệt chính giữa tê giác trắng và tê giác đen là hình dạng môi/miệng của chúng. Tê giác trắng có các môi rộng và phẳng để gặm cỏ còn tê giác đen có các môi dài đầu nhọn để ăn lá cây. Tên gọi tê giác trắng trên thực tế là một sai lầm phổ biến xuất phát từ từ đồng âm trong tiếng Anh chỉ cái môi rộng của chúng.

Con lai của các phân loài tê giác trắng (Ceratotherium simum simum x Ceratotherium simum cottoni) đã sinh nở tại vườn thú Dvur Kralove (vườn bách thú Dvur Kralove nad Labem) tại Tiệp Khắc năm 1977.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Tê giác ở Ý
Tê giác được nuôi ở Việt Nam

Phát sinhloài[sửa | sửa mã nguồn]

Rhinocerotoidea
  ├── Amynodontidae (†)
  └── Rhinocerotida
        ├── Hyracodontidae (†)
        └── Rhinocerotidae
              ├── Elasmotheriinae (†)
              └── Rhinocerotinae
                    ├── Aceratheriini (†)
                    └── N.N.
                          ├─ N.N.
                          │     ├── Dicerorhinini
                          │     └── Rhinocerotini
                          └── Dicerotini

Sừng tê giác[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc trưng phân biệt rõ nét nhất của tê giác là sừng lớn trên mũi. Trong tiếng Anh thì từ rhinoceros có nguồn gốc từ các từ tiếng Hy Lạp rhino (mũi) và keros (sừng). Sừng của tê giác, không giống như sừng của các động vật có vú có sừng khác, được cấu tạo từ keratin (chất sừng), tương tự như tóc rắn chắc.
Sừng tê giác được sử dụng trong y học cổ truyền châu Á (Trung Quốc và Việt Nam), và dùng làm đồ trang sức (cụ thể là cán dao găm) ở YemenOman. Sừng tê giác có thành phần cấu tạo cơ bản tương tự tóc và móng tay con người, hoàn toàn không có giá trị y học cũng như chưa bao giờ được chứng minh là có thể chữa bệnh. Tuy nhiên do quan niệm cổ truyền và sự đồn thổi, sừng tê giác vô tình bị tưởng lầm là thần dược có thể chữa bách bệnh, dẫn đến sự săn bắn điên cuồng khiến cho loài tê giác Java hoàn toàn tiệt chủng ở Việt Nam. Việt Nam cũng là nước tiêu thụ lậu sừng tê giác lớn nhấn thế giới. Cả 5 loài tê giác đều không có tương lai an toàn: Tê giác trắng có lẽ là ít nguy cấp nhất, tê giác Java hiện chỉ còn một số lượng rất nhỏ (khoảng 60 cá thể vào năm 2002) và là một trong hai hay ba loài động vật có vú lớn đang ở tình trạng nguy cấp nhất trên thế giới. Các chiến dịch bảo vệ tê giác được khởi động từ những năm thập niên 1970, nhưng quần thể tê giác vẫn tiếp tục suy giảm nghiêm trọng. Việc buôn bán các bộ phận cơ thể tê giác bị cấm theo các thỏa ước của CITES, nhưng việc săn bắn trộm vẫn là mối đe dọa nguy hiểm nhất cho tất cả các loài tê giác.

Người Việt buôn lậu sừng tê giác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 09 tháng 11 2008, bà Vũ Mộc Anh, Bí thư thứ nhất của đại sứ quán Nam Phi đã bị triệu hồi về nước. Báo Tuổi Trẻ trích lời đại sứ Việt Nam tại Pretoria Trần Duy Thi nói bà Vũ Mộc Anh chỉ nhận là bà đã "cầm hộ" sừng tê giác cho hai người Việt Nam. [2].
Hồi tháng Bảy 2007, hai công dân Việt Nam khác cũng đã bị bắt giữ tại Sân bay quốc tế OR Tambo cùng bốn chiếc sừng tê giác.
Đầu năm 2008, 18 kg sừng đã bị thu giữ khi được vận chuyển từ Nam Phi về tới Hà Nội.[3].
Hiện tại (2013) vẫn còn nhiều tê giác bị chết một cách đau đớn vì bị cắt mất sừng. Tại Nam phi năm 2012 ít nhất 668 con tê giác bị chết trong trường hợp này. Theo ông Bret Tolman, tổ chức bảo vệ thú vật TRAFFIC, trong chương trình "Tấm gương thế giới" (Weltspiegel), đa số những người buôn lậu hàng này bị bắt tại Nam Phi hay Mozambique là người Việt, ngay cả ở các phi trường Bangkok, Dubai hay Hongkong cũng vậy. 100g sừng tê giác tại một cửa hàng tại Hà Nội trị giá khoảng 2500 Dollar[4].

Nhà chữa cháy của tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng tê giác, trước tòa nhà khoa Sinh học, Đại học Harvard, Cambridge, Massachusetts.

Có nhiều truyền thuyết về việc tê giác dập tắt lửa. Những câu chuyện như thế dường như rất phổ biến ở MalaysiaMyanma.

Loại tê giác này thậm chí có tên riêng trong tiếng Mã Lai, 'badak api', trong đó badak có nghĩa là tê giác và api nghĩa là lửa. Động vật này sẽ chạy đến khi có lửa trong rừng và dập tắt nó.

Điều này đúng hay sai vẫn chưa được kiểm chứng, do chưa có tài liệu nào chứng kiến hay ghi nhận hiện tượng này trong thời gian gần đây. Điều này thiếu chứng cứ có thể là do thực tế là ngày nay tê giác rất hiếm khi được nhìn thấy ở Đông Nam Á, chủ yếu là do sự săn bắn bất hợp pháp rất phổ biến đối với loài động vật đang ở tình trạng cực kỳ nguy cấp này.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Anh)

  • Chapman, Jan. 1999. The Art of Rhinoceros Horn Carving in China. Christies Books, London. ISBN 0-903432-57-9.
  • Laufer, Berthold. 1914. "History of the Rhinoceros." In: Chinese Clay Figures, Part I: Prolegomena on the History of Defence Armor. Field Museum of Natural History, Chicago, pp. 73–173.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Haraamo, Mikko (15 tháng 11 năm 2005). “Mikko's Phylogeny Archive entry on "Rhinoceratidae"”. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2009. 
  2. ^ BBC (24/11/2008). “Triệu hồi nhân viên sứ quán”. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2013. 
  3. ^ BBC (19/11/2008). “Xác định danh tính nhân viên sứ quán”. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2013. 
  4. ^ Vietnam - Die blutige Spur der Nashornmafia ARD, 02.6.2013

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Việt)

(tiếng Anh)