Trâu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bubalus bubalis
Water buffalo bathing.jpg
Một đàn trâu ngâm mình trong đầm
Đài Loan
Tình trạng bảo tồn
Đã thuần hóa
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Bovinae
Tông (tribus) Bovini
Chi (genus) Bubalus
Loài (species) B. bubalis
Danh pháp hai phần
Bubalus bubalis
(Linnaeus, 1758)
Phân loài
  • river buffalo
  • swamp buffalo

Trâu là một loài động vật thuộc họ Trâu bò (Bovidae). Chúng sống hoang dã ở Nam Á (Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Bhutan) Đông Nam Á, miền bắc Úc. Trâu thuần dưỡng, tức trâu nhà được nuôi phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới châu Á. Một số nhỏ có mặt ở Nam Mỹ và Bắc Phi châu.

Tuy trâu rừng vẫn còn tồn tại trong thiên nhiên song số lượng trâu hoang dã không còn nhiều. Giới khoa học lo rằng trâu rừng thuần chủng không còn nữa vì đã lai với trâu nhà. Riêng tại Việt Nam số lượng trâu rừng còn rất ít, chủ yếu phân bố dọc dãy Trường Sơn, trong đó có khu vực miền tây Thanh Hóa giáp với Lào. Nhiều đàn trâu đã được thuần dưỡng và lai với trâu nhà.

Trâu trưởng thành nặng khoảng từ 250 đến 500 kg. Loài trâu rừng hoang dã lớn hơn thế rất nhiều; con cái có thể nặng 800 kg, con đực lên tới 1,2 tấn, và cao tới khoảng 1,8 m. Trâu rừng châu Á có cặp sừng dài nhất trong số các loài thú có sừng trên thế giới. Mới đây, tại Việt Nam, một bộ sừng trâu rừng lớn chưa từng thấy đã được phát hiện, ước đoán to hơn trâu rừng hiện nay rất nhiều[1]

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Hình dạng sừng khác biệt giữa trâu rừng Châu Phi (trên) và trâu nước (dưới)

Trên thế giới có hai nhóm trâu: trâu rừng Châu Phi (Cape buffalo) và trâu Châu Á, tức trâu nước. Đây là hai loài riêng biệt thuộc họ Syncerus (trâu Châu Phi) và Bubalus (trâu Châu Á) ở hai vùng địa lý cách biệt.

Về trâu Châu Á, các nhà chuyên môn chưa nhất trí về cách sắp xếp phân loài. Có người thì cho là trâu chỉ có một loài Bubalus bubalis với ba phân loài, tiếng Anh gọi là "river buffalo", trâu sông (B. bubalis bubalis) ở Nam Á, "swamp buffalo", trâu đầm (B. bubalis carabanesis) ở Đông Nam Á, và trâu rừng Á châu (B. bubalis arnee). Có người thì cho rằng cả ba là ba loài riêng biệt tuy cận chủng.

Trâu đầm có 48 nhiễm sắc thể trong khi trâu sông lại có 50 nhiễm sắc thể và hai loài này khó lai giống nhưng cũng có trường hợp thế hệ thứ nhất sanh đẻ được. Loài trâu và loài bò thì không thể lai giống được. Thí nghiệm khoa học cho ta biết phôi thai của trâu lai bò không phát triển để trưởng thành được.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Số trâu vào năm 2004. Chấm đỏ=1 triệu; chấm vàng=10 triệu; chấm lục=100 triệu.

Châu Á là bản địa của loài trâu với 95% tổng số trâu trên thế giới. Khoảng phân nửa số này sống ở Ấn Độ. Tính đến năm 1992 Á châu có 141 triệu con trâu. Trâu được nuôi lấy sức cày ruộng, lấy thịt và sữa. Sữa trâu có lượng mỡ béo cao nhất trong các loại sữa gia súc. Cả hai phân loài trâu nhà có mặt tại Á châu: trâu sông và trâu đầm. Trâu sông sống ở vùng cao như Nepal còn trâu đầm phổ biến khắp miền nhiệt đới.

Loài trâu sinh sống thành công vì có thể tận dụng thức ăn kém chất dinh dưỡng mà lại có sức sản xuất cao. Về việc đồng áng cày bừa thì trâu kéo cày khỏe hơn bò (Bos taurus) nhất là ở những vùng ruộng sâu nên ở Việt Nam có câu tục ngữ: yếu trâu hơn khỏe bò.

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trâu được đề cập đến nhiều trong văn hóa. Trong 12 cung hoàng đạo của phương Tây, có cung Kim Ngưu, trong 12 con giáp của phương Đông có con trâu (Sửu) ở vị trí thứ 2[2]. Trâu còn biết đến trong tín ngưỡng như: Đầu trâu, mặt ngựa (Ngưu đầu, Mã diện) là 2 sinh vật thuộc hạ của Diêm Vương chuyên thực hiện việc hành hạ, tra tấn người ở địa ngục. Trong Tây Du Ký có nhân vật Ngưu ma vương là vua của các loài trâu.

Trong văn hóa Việt thì con trâu là hình ảnh của bản chất hiền lành, cần cù của con người Việt, là nét đẹp tinh hoa văn hóa từ bao đời nay. Ở Việt Nam, trâu vàng là biểu tượng của Seagame 22 tổ chức tại Việt Nam. Danh từ trong tiếng Việt Trâu con gọi là nghé. Trâu giống cái gọi là trâu nái. Địa danh Bến Nghé nay vẫn lưu truyền vùng Sài Gòn.

Quang cảnh một cuộc chọi trâu ở xã Hải Lưu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Bài chi tiết: Lễ hội chọi trâu

Hội làng Đồ Sơn, Hải Phòng vào tháng Tám âm lịch có tục chọi trâu rất độc đáo. Làng Hải Lưu, Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc cũng có lệ chọi trâu khá quy mô.

  • Tục ngữ ca dao Việt Nam có câu:
Con trâu là đầu cơ nghiệp
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy ắt là khó thay

Vì giá trị của con trâu đối với nhà nông rất cao, khi làng phạt vạ, làng bắt nộp trâu như trong trường hợp người con gái chửa hoang thì gia đình phải nộp vạ:

Phình phình ở giữa phình ra
Mẹ ơi con chẳng ở nhà được đâu
Ở nhà làng bắt mất trâu!

Để nói lên sự sung túc, thành công của nhà nông thì có câu:

Ruộng sâu, trâu nái
Muốn giàu thì nuôi trâu nái
Muốn lụn bại thì nuôi bồ câu

Con trâu còn gắn liền với tuổi thơ của trẻ em nông thôn: chăn trâu thì gần gũi, vui đùa với trâu, tắm trâu, phơi áo trên lưng trâu, thả diều...

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn việc nông gia
Ta đâu trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cho lúa trổ (đơm) bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Con trâu còn dùng trong tục ngữ như

Trâu chậm uống nước đục
Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết
Trâu buộc ghét trâu ăn

Về tục chọi trâu ở một số địa phương thì có những câu nhắc nhở dân chúng về dự xem. Tục chọi trâu ở Đồ Sơn theo truyền thống tổ chức vào tháng 8 âm lịch nên mới có câu:

Dù ai buôn đâu, bán đâu
Mồng 9 tháng 8 chọi trâu thì về
Dù ai bận rộn trăm bề
Mồng 9 tháng 8 nhớ về chọi trâu

Những bài hát liên hệ con trâu gồm: Ca khúc Đường cày đảm đang của An Chung: Trời vừa tinh mơ, dọc bờ rộn tiếng trâu đi. Ta với trâu sương gió quản gì. Bừa kỹ xong gieo luống cho đều. Trâu ơi... Mai lúa khoai nhiều. Ca khúc Em bé quê của Phạm Duy, có mấy câu đầu nổi tiếng: Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ. Ca khúc Lý con trâu của Lư Nhất Vũ, phỏng theo dân ca Nam Bộ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(y học)