Cà đác

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cà đác
Tonkin snub-nosed monkeys (Rhinopithecus avunculus).jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primate
Họ (familia) Cercopithecidae
Phân họ (subfamilia) Colobinae
Chi (genus) Rhinopithecus
Loài (species) R. avunculus
Danh pháp hai phần
Rhinopithecus avunculus
(Dollman, 1912)
Khu vực phân bố
Khu vực phân bố
Danh pháp đồng nghĩa
Pygathrix avunculus

Cà đác còn gọi là voọc mũi hếch Bắc Bộ (danh pháp khoa học: Rhinopithecus avunculus) là một loài voọc có đuôi dài và lỗ mũi hếch ngược.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Bản địa cà đác là khu rừng tre nứa các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà GiangQuảng Ninh. Đây là những thửa rừng cận nhiệt đới dưới cao độ 1.500 m với nhiệt độ mát mẻ. Đây là loài đặc hữu của Việt Nam.

Hai khu bảo tồn thiên nhiên Nà HangChạm Chu tỉnh Tuyên Quang là hai khu vực chính còn lại có cà đác sinh sống. Riêng khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang được thành lập là với mục đích bảo vệ sinh thái cho loài cà đác. Năm 2002 phát hiện thêm một đàn cà đác ở khu bảo tồn thiên nhiên Du Già, tỉnh Hà Giang. Tháng Tư năm 2008 khoa học gia thuộc Fauna and Flora International (FFI, Động vật và thực vật Quốc tế) cũng phát hiện thêm nhóm cà đác nữa ở miền Tây Bắc, nâng tổng số lên khoảng 250 cá thể trên toàn thế giới.[2]

Vì bị đe dọa nghiêm ngặt cà đác được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam.

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Thức ăn cà đác khá đa dạng gồm trái cây tùy theo từng mùa. Cà đác sinh sống hoàn toàn trên cây, sống thành đàn khoảng 30 cá thể nhưng cũng có khi lên đến 100 con. Con đực cân nặng khoảng 13–14 kg còn con cái khoảng 8 kg. Lông cà đác sắc đen phần trên lưng nhưng phía ngực và bụng màu vàng nhạt. Mặt vượn màu trắng xanh chuyển sang xanh đen ở mõm. Môi cà đác ở tuổi trưởng thành sắc hồng tươi, xòe rộng giống như hề.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cà đác được phát hiện vào cuối thập niên 1860 khi giáo sĩ Armand David gửi cá thể đầu tiên sang Châu Âu nhưng mãi đến năm 1912 các khoa học gia mới đồng ý xếp cà đác vào chung với ba loài voọc Rhinopithecus roxellana, R. bietiR. brelichi, chủ yếu phân phối ở Hoa Nam thuộc các tỉnh Vân NamQuý Châu. Các nhà sinh vật học cũng cho rằng cà đác có quan hệ họ hàng gần với các loài chà vá (Pygathrix).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Xuan Canh, L., Khac Quyet, L., Thanh Hai, D. & Boonratana, R. (2008). Rhinopithecus avunculus. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 5-11-2008.
  2. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/7767360.stm

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Sterling, Eleanor, et al. Vietnam, A Natural History. New Haven, CT: Yale University Press, 172-5.

Đào Văn Tiến. "Tài nguyên thú rừng Việt Nam". Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-1995. Hà Nội: Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, 76-8.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]