Khỉ đầu chó Hamadryas

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Papio hamadryas
Baviaan2.JPG
Con đực, con cái và con non
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primatea
Họ (familia) Cercopithecidae
Chi (genus) Papio
Loài (species) P. hamadryas
Danh pháp hai phần
Papio hamadryas
(Linnaeus, 1758)[2]
Phạm vi phân bố khỉ đầu chó Hamadryas
Phạm vi phân bố khỉ đầu chó Hamadryas

Khỉ đầu chó Hamadryas (danh pháp hai phần: Papio hamadryas) là một loài khỉ đầu chó trong họ khỉ Cựu thế giới. Nó là loài khỉ đầu chó cực bắc nhất, là loài bản địa Sừng Châu Phi và mũi tây nam của bán đảo Ả Rập. Các khu vực này là nơi cư trú với lợi thế có ít loài kẻ thù tự nhiên ít hơn so với miền Trung hoặc miền Nam châu Phi, nơi cư trú của con khỉ đầu chó khác. Khỉ đầu chó Hamadryas là một con vật linh thiêng đối với Ai Cập cổ đại và xuất hiện trong các vai trò khác nhau trong tôn giáo Ai Cập cổ đại, do đó tên khác là 'khỉ đầu chó thiêng liêng'.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Con đực và con cái có kích cỡ và bộ lông khác nhau.

Ngoài sự khác biệt kích thước nổi bật giữa các con đực và con cái (con đực thường lớn gấp hai lần con cái), là đặc tính phổ biến cho tất cả các con khỉ đầu chó, loài này cũng cho thấy sự dị hình lưỡng tính trong màu sắc. Lông của con đực là màu trắng bạc màu và có một lớp lông bờm rõ rệt (bờm và lớp phủ) mà chúng phát triển khoảng 10 tuổi, trong khi những con cái không có lông bờm và có màu nâu. Khuôn mặt của chúng có màu sắc trong phạm vi màu từ đỏ sang nâu nhạt đến nâu sẫm. Con đực có thể dài đến 80 cm (31 in) và cân nặng 20–30 kg (44–66 lb); con cái nặng 10–15 kg (22–33 lb) và thân dài 40–45 cm (16–18 in)[3]. Đuôi dài thêm một 40–60 cm (16–24 in) cho chiều dài, và kết thúc trong một chùm nhỏ. Con non có màu tối tối và trở nên sáng sau khoảng một năm. Khỉ đầu chó Hamadryas trưởng thành tính dục tại khoảng 4-5 tuổi ở con cái và 5-7 tuổi đối với con đực[4].

Phạm vi sinh sống[sửa | sửa mã nguồn]

Khỉ đầu chó hamadryas ăn trái cây trong điều kiện nuôi nhốt, mặc dù trái cây không phải là một phần thường xuyên của chế độ ăn uống của nó trong tự nhiên. Phạm vi của khỉ đầu chó kéo dài từ Biển Đỏ ở Eritrea Ethiopia và Somalia. Khỉ đầu chó là nguồn gốc và sống ở tây nam Arabia, Yemen và Ả Rập Saudi[1] Khỉ đầu chó Hamadryas khỉ đầu chó sống ở khu vực bán sa mạc, thảo nguyên và các khu vực đá, cần có các vách đá để ngủ và tìm kiếm nguồn nước. Khỉ đầu chó hamadryas là loài ăn tạp và thích nghi với môi trường sống tương đối khô. Trong mùa mưa, khỉ đầu chó ăn nhiều loại thức ăn, hoa, hạt, cỏ, rễ hoang dã, và lá từ cây keo[5] Trong mùa khô, các con khỉ đầu chó ăn lá của lá glabra Dobera và sisal. Hamadryas khỉ đầu chó cũng ăn côn trùng, bò sát và các loài động vật có vú nhỏ. Một người thậm chí còn quan sát mang một dik dik[6] chết. Hoạt động uống của các con khỉ đầu chó cũng phụ thuộc theo mùa. Trong mùa mưa, những con khỉ đầu chó không phải đi xa để tìm vũng nước. Trong mùa khô, chúng thường xuyên đến ba hố nước lâu dài[6]. Khỉ đầu chó ngủ trưa tại hố nước. Khỉ đầu chó Hamadryas cũng đào hố để lấy nước uống ở vị trí chỉ là một khoảng cách ngắn từ hố nước tự nhiên[6].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Gippoliti, S. & Ehardt, T. (2008). Papio hamadryas. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 4 January 2009.
  2. ^ Linnaeus, Carl (1758). Systema naturæ. Regnum animale. (ấn bản 10). tr. 27. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ “Sacred Baboon (Papio hamadryas)”. World Association of Zoos and Acquariums. Truy cập tháng 7 năm 2011. 
  4. ^ Rowe, Noel. The Pictorial Guide to Living Primates, Pogonias Press (Charlestown, Rhode Island: 1996)
  5. ^ Swedell 2002:b
  6. ^ a ă â Kummer, 1968

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kummer, H. (1968) Social Organisation of Hamdryas Baboons. A Field Study. Basel and Chicago: Karger, and University Press.
  • Sigg, H, Stolba, A, Abegglen, J. -J. and Dasser, V. (1982) "Life history of hamadryas baboons: Physical development, infant mortality, reproductive parameters and family relationships". Primates, 23(4): 473-487.
  • Abegglen J. J. (1984) On Socialization in Hamadryas Baboons. Blackwell University Press.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]