Khỉ vòi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nasalis larvatus
Proboscis Monkey in Borneo.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primates
Họ (familia) Cercopithecidae
Phân họ (subfamilia) Colobinae
Chi (genus) Nasalis
É. Geoffroy, 1812
Loài (species) N. larvatus
Danh pháp hai phần
Nasalis larvatus
(Wurmb, 1787)
Nasalis larvatus range map.png

Khỉ vòi (danh pháp khoa học: Nasalis larvatus) hoặc còn gọi là khỉ mũi dài hay bekantan (tiếng Mã Lai), là một loài khỉ phân bố ở vùng Cựu thế giới và là loài đặc hữu của các hòn đảo Đông Nam ÁBorneo. Khỉ vòi thuộc về monotypic, mặc dù khỉ đuôi lợn theo truyền thống cũng được bao gồm trong chi này. Tiếng địa phương còn gọi nó là monyet belanda tức Khỉ Hà Lan thậm chí là belanda tức người Hà Lanngười Indonesia cho rằng những tên thực dân Hà Lan thường có cái bụng bự và cái mũi dài và to trông giống như loài khỉ này. Thực tế, Chiếc mũi to đùng với chiều dài lên tới 18 cm chính là công cụ để khỉ vòi tán tỉnh những con cái. Cũng nhờ chiếc mũi này mà khỉ vòi có thể phát ra những âm thanh vang xa hàng trăm dặm. Năm 2013, khỉ vòi được bình chọn là động vật xấu xí nhất hành tinh, nó đứng ở vị trí xấu thứ ba.[2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]