Cao Bằng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cao Bằng
Tỉnh
Thác Bản Giốc.jpg
Thác Bản Giốc nhìn từ Việt Nam
Địa lý
Tọa độ: 22°41′08″B 106°15′47″Đ / 22,685618°B 106,263084°Đ / 22.685618; 106.263084Tọa độ: 22°41′08″B 106°15′47″Đ / 22,685618°B 106,263084°Đ / 22.685618; 106.263084
Diện tích 6.707,9 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 515.000 người[1]
 Mật độ 77 người/km²
Dân tộc Tày, Nùng, H'Mông,
Dao, Việt, Sán Chay
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Tỉnh lỵ Thành phố Cao Bằng
 Chủ tịch UBND Nguyễn Hoàng Anh
 Chủ tịch HĐND Hà Ngọc Chiến
 Bí thư Tỉnh ủy Hà Ngọc Chiến
Phân chia hành chính 1 thành phố
12 huyện
Mã hành chính VN-04
Mã bưu chính 27xxxx
Mã điện thoại 26
Biển số xe 11
Website http://www.caobang.gov.vn/

Cao Bằng là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía tây giáp tỉnh Tuyên QuangHà Giang, phía nam giáp Bắc KạnLạng Sơn. Phía bắc và phía đông giáp các địa cấp thị Bách SắcSùng Tả của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc).

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 333.403 km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều Bắc- Nam là 80 km, từ 23°07'12" - 22°21'21" vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông- tây là 170 km, từ 105°16'15" - 106°50'25" kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang).

Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km², là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1.300 m so với mặt nước biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.

Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài ra còn có một số sông ngòi khác như sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông Nho Quế, sông Năng, sông Neo hay sông Hiến.

Môi Trường[sửa | sửa mã nguồn]

Đa số diện tích Cao Bằng được che phủ bởi rừng vì thế không khí khá trong sạch ở các vùng nông thôn, các khu dân cư và ở trung tâm thị xã. Tuy nhiên do sản lượng quặng lớn cùng với sự khai thác bừa bãi và quản lý không nghiêm ngặt, các tuyến đường chính của Cao Bằng có mức độ ô nhiễm bụi cao. Nguồn nước sông đang bị ô nhiễm khá nặng do ý thức vứt rác bữa bãi của người dân cùng với ngành công nghiệp khai khoáng và khai thác cát đã làm cho các dòng sông ở đây bị ô nhiễm thu hẹp dòng chảy, hệ sinh thái bị ảnh hưởng. Đặc biệt ở các khu vực chợ và khu dân cư, nước sông có hiện tượng bốc mùi hôi thối. Các phương tiện giao thông trong tỉnh chủ yếu là xe máy, phương tiện ít làm cho mức tiêu thụ nhiên liệu không cao, Cao Bằng không bị ô nhiễm bởi các khí thải nhà kính và nhiều khí độc khác. Tuy nhiên, so với các địa phương khác của Việt Nam, Cao Bằng là một trong những tỉnh có khí hậu trong lành và ít ô nhiễm nhất.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung Cao Bằng có khí hậu ôn hòa dễ chịu. Với khí hậu cận nhiệt đới ẩm, địa hình đón gió nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các đợt không khí lạnh từ phương bắc. Tuy nhiên nhiệt độ của Cao Bằng chưa bao giờ xuống thấp quá 0 °C, hầu như vào mùa đông trên địa bàn toàn tỉnh không có băng tuyết (trừ một số vùng núi cao có băng đá xuất hiện vào mùa đông).

Mùa hè ở đây có đặc điểm nóng ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 30 - 32 °C và thấp trung bình từ 23 - 25 °C, nhiệt độ không lên đến 39 - 40 °C. Vào mùa đông, do địa hình Cao Bằng đón gió nên nó có kiểu khí hậu gần giống với ôn đới, nhiệt độ trung bình thấp từ 5 - 8 °C và trung bình cao từ 15 - 28 °C, đỉnh điểm vào những tháng 12, 1 và 2 nhiệt độ có thể xuống thấp hơn khoảng từ 6 - 8 °C, độ ẩm thấp, trời hanh khô. Mùa xuân và mùa thu không rõ rệt, thời tiết thất thường; mùa xuân thường có tiết trời nồm, mùa thu mát, dễ chịu.

Dữ liệu khí hậu của Cao Bang
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 18
(64)
19
(66)
23
(73)
27
(81)
31
(88)
32
(90)
32
(90)
32
(90)
31
(88)
27
(81)
24
(75)
20
(68)
26.3
Trung bình thấp, °C (°F) 10
(50)
12
(54)
16
(61)
19
(66)
23
(73)
24
(75)
24
(75)
24
(75)
22
(72)
19
(66)
15
(59)
11
(52)
18
Lượng mưa, mm (inches) 22
(0.87)
26
(1.02)
39
(1.54)
91
(3.58)
174
(6.85)
229
(9.02)
224
(8.82)
249
(9.8)
150
(5.91)
91
(3.58)
44
(1.73)
20
(0.79)
1.359
(53,5)
Số ngày mưa TB 10 10 12 14 15 17 18 19 14 12 9 8 158
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 62 56 93 120 186 150 186 186 180 155 120 124 1.618
Nguồn: World Climate Guide

Dân số và các dân tộc thiểu số[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dân số toàn tỉnh là 507.183 người (theo điều tra dân số ngày 01/10/2009)[2]. Dân số trung bình năm 2009 là 510.884 người.
  • Các dân tộc ở Cao Bằng gồm Tày (chiếm 41,0% dân số), Nùng (31,1 %), H'Mông (10,1 %),
    Dao (10,1 %), Việt (5,8 %), Sán Chay (1,4 %)... Có 11 dân tộc có dân số trên 50 người[2].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Cao Bằng cùng với tỉnh Lạng Sơn thời nhà Lý-nhà Trần được gọi là châu Quảng Nguyên. Vùng đất này (Lạng Sơn và Cao Bằng) chính thức phụ thuộc vào Đại Việt từ năm 1039, đời vua Lý Thái Tông, sau khi nước này chiến thắng Nùng Trí Cao.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Một khu chợ tại tỉnh Cao Bằng
Dãy nhà bên Bằng Giang tại thành phố Cao Bằng

Những thay đổi và sáp nhập trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1950, tỉnh Cao Bằng có 10 huyện: Bảo Lạc, Hạ Lang, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Phục Hòa, Quảng Uyên, Thạch An, Trấn Biên, Trùng Khánh.
  • Năm 1958, huyện Trấn Biên đổi tên thành huyện Trà Lĩnh.
  • Năm 1963, thành lập thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc tỉnh Cao Bằng Quyết định số 26-CP ngày 14 tháng 3 năm 1963. Đến năm 1981, chuyển thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc huyện Nguyên Bình Quyết định số 44-HĐBT ngày 1 tháng 9 năm 1981.
  • Năm 1966, thành lập huyện Thông Nông trên cơ sở tách ra từ huyện Hà Quảng theo Quyết định số 67-CP ngày 7 tháng 4 năm 1966.[3]
  • Năm 1967, hai huyện Phục Hòa và Quảng Uyên hợp nhất thành huyện Quảng Hòa theo Quyết định số 27-CP ngày 8 tháng 3 năm 1967.
  • Năm 1969, giải thể huyện Hạ Lang, nhập vào hai huyện Quảng Hòa và Trùng Khánh theo Quyết định số 176-CP ngày 15 tháng 9 năm 1969.
  • Ngày 27 tháng 12 năm 1975, tỉnh Cao Bằng được sáp nhập với tỉnh Lạng Sơn thành tỉnh Cao Lạng.
  • Ngày 29 tháng 12 năm 1978 tái lập tỉnh Cao Bằng từ tỉnh Cao Lạng, đồng thời nhập hai huyện Ngân SơnChợ Rã của tỉnh Bắc Thái vào tỉnh Cao Bằng theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4, ngày 29 tháng 12 năm 1978. Lúc đó tỉnh Cao Bằng có tỉnh lị là thị xã Cao Bằng và 11 huyện: Bảo Lạc, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Quảng Hòa, Thạch An, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Ngân Sơn, Chợ Rã.
  • Ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được thị xã Cao Bằng và đã hủy diệt hầu như toàn thị xã, các công trình kiến trúc đã bị phá tan tành, kể cả chùa chiền đền miếu. Khu di tích chủ tịch Hồ Chi Minh tại hang Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng cũng bị chúng đặt bom mìn phá sập cửa hang và các di tích của Bác, bức bia đá Bác viết khi vừa trở về Tổ quốc cũng bị nứt làm đôi.
  • Năm 1981, tái lập huyện Hạ Lang từ các xã đã nhập vào hai huyện Quảng Hòa và Trùng Khánh theo Quyết định số 44-HĐBT ngày 1 tháng 9 năm 1981.[4]
  • Năm 1984, huyện Chợ Rã đổi tên thành huyện Ba Bể theo Quyết định số 144-HĐBT ngày 6 tháng 11 năm 1984.[5]
  • Năm 1996, trả hai huyện Ngân Sơn và Ba Bể về tỉnh Bắc Kạn mới tái lập.
  • Năm 2000, chia huyện Bảo Lạc thành huyện Bảo Lạc mới và huyện Bảo Lâm theo Nghị định số 52/2000/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2000.[6]
  • Năm 2001, tái lập hai huyện Phục Hòa và Quảng Uyên từ huyện Quảng Hòa ngày 13 tháng 12 năm 2001.[7]
  • Năm 2012, chuyển thị xã Cao Bằng thành thành phố Cao Bằng theo Nghị quyết 60/NQ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2012.[8]

Tỉnh Cao Bằng bao gồm 1 thành phố và 12 huyện:

Tên Loại hành chính Dân số 2003 Diện tíchkm² thị trấn (đậm)
Cao Bằng thành phố 51,386[9] 55[9] Phường: Hợp Giang, Tân Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Hoà Chung, Ngọc Xuân, Duyệt Chung, Đề Thám. :Hưng Đạo, Chu Trinh, Vĩnh Quang.
Bảo Lạc huyện 47,019[9] 919[9] Bảo Lạc, Sơn Lộ, Đình Phùng, Hưng Đạo, Huy Giáp, Hồng An, Xuân Trường, Khánh Xuân, Phan Thanh, Hồng Trị, Cô Ba, Bảo Toàn, Cốc Pàng, Thượng Hà, Hưng Thịnh, Sơn Lập, Kim Cúc.
Bảo Lâm huyện 107,279[9] 1457[9] Pác Miầu, Mông Ân, Thái Học, Thái Sơn, Nam Cao, Nam Quang, Tân Việt, Yên Thổ, Quảng Lâm, Thạch Lâm, Lý Bôn, Đức Hạnh, Vĩnh Quang, Vĩnh Phong
Hạ Lang huyện 26,330[9] 463[9] Hạ Lang, Thị Hoa, Thái Đức, Cô Ngân, Vinh Quý, Việt Chu, Quang Long, An Lạc, Kim Loan, Đức Quang, Thắng Lợi, Minh Long, Đồng Loan, Lý Quốc, Thanh Nhật
Hà Quảng huyện 34,113[9] 454[9] Sóc Hà, Trường Hà, Kéo Yên, Lũng Nặm, Vân An, Cải Viên, Tổng Cọt, Nội Thôn, Hồng SĨ, Sĩ Hai, Mã Ba, Hạ Thôn, Phù Ngọc, Đào Ngạn, Xuân Hoà, Quý Quân, Nà Sac, Thượng Thôn, Vần Dính
Hòa An huyện 72,104[9] 656[9] Nước Hai, Dân Chủ, Đức Long, Công Trừng, Trương Lương, Bình Long, Nam Tuấn, Đại Tiến, Đức Xuân, Ngũ Lão, Bế Triều, Hồng Việt, Hoàng Tung, Bình Dương, Bạch Đằng, Lê Chung, Hà Trì, Quang Trung, Nguyễn Huệ,
Nguyên Bình huyện 39,153[9] 837[9] Nguyên Bình, Tĩnh Túc, Thịnh Vượng, Hoa Thám, Lang Môn, Tam Kim, Hưng Đạo, Quang Thành, Thành Công, Phan Thanh, Mai Long, Ca Thành, Vũ Nông, Yên Lạc, Triệu Nguyên, Thể Dục, Thái Học, Minh Thanh, Bắc Hợp, Minh Tâm
Phục Hòa huyện 102,974 [9] 263[9] Hòa Thuận, Tà Lùng, Mỹ Hưng, Hồng Đại, Cách Linh, Triệu Ẩu, Đại Sơn, Tiên Thành, Lương Thiện
Quảng Uyên huyện 42,544[9] 383[9] Quảng Uyên, Bình Lăng, Cai Bộ, Chí Thảo, Đoài Khôn, Độc Lập, Hồng Định, Hạnh Phúc, Hồng Quang, Hoàng Hải, Phúc Sen, Phi Hải, Quốc Phong, Quảng Hưng, Quốc Dân, Tự Do, Ngọc Động
Thạch An huyện 31,942[9] 683[9] Đông Khê, Đức Long, Danh Sĩ, Lê Lợi, Đức Xuân, Trọng Con, Lê Lai, Thụy Hùng, Thị Ngân, Vân Trình, Thái Cương, Đức Thông, Quang Trọng, Minh Khai, Canh Tân, Kim Đồng
Thông Nông huyện 23,116[9] 360[9] Thông Nông, Bình Lãng, Thanh Long, Lương Can, Yên Sơn, Đa Thông, Lương Thông, Vị Quang, Cần Yên, Cần Nông, Ngọc Động
Trà Lĩnh huyện 21,600[9] 257[9] Hùng Quốc, Tri Phương, Cô Mười, Quang Hán, Quang Vinh, Lưu Ngọc, Cao Chương, Quốc Toản, Xuân Nội, Quang Trung
Trùng Khánh huyện 50,189[9] 469[9] Trùng Khánh, Đàm Thủy, Chí Viễn, Phong Châu, Cao Thăng, Đoàn Côn, Thân Giáp, Thông Huề, Đức Hồng, Trung Phúc, Cảnh Tiên, Đình Minh, Đình Phong, Ngọc Khê, Ngọc Chung, Phong Nậm, Lăng Yên, Khâm Thành, Lăng Hiếu

Danh lam thắng cảnh và du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm ở phía bắc vùng Việt Bắc, nơi địa đầu Tổ quốc, Cao Bằng được thiên nhiên ưu đãi những tiềm năng du lịch phong phú.

Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Bằng có núi, rừng, sông, suối trải dài hùng vĩ, bao la, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ, nguyên sinh. Khu vực thác Bản Giốc là một thắng cảnh đẹp. Thác nằm trên dòng chảy của sông Quây Sơn, thuộc xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh. Động Ngườm Ngao (hang hổ), thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh là thế giới của nhũ đá thiên nhiên gồm hàng nghìn hình khối khác nhau, có cái như đụn gạo, đụn vàng, đụn bạc, hình voi, rồng, hổ báo, mây trời, cây cối, hoa lá, chim muông. Ngoài ra phải kể đến hồ núi Thang Hen ở huyện Trà Lĩnh.

Du lịch văn hoá[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cao Bằng là vùng đất có truyền thống cách mạng lâu đời, là nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam. Tiêu biểu như khu di tích lịch sử cách mạng Pác Bó, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng. Nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân về nước, sống và làm việc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập cho dân tộc từ năm 1941 đến 1945.
  • Khu di tích Kim Đồng được xây dựng gồm có mộ anh Kim Đồng và tượng đài khang trang tại chân Rặng núi đá cao đồ sộ, tượng đài anh Kim Đồng với bộ quần áo nùng và tay nâng cao con chim bồ câu đưa thư, trước tượng đài có 14 bậc đá và 14 cây lát vươn cao xanh ngắt. Nơi đây có một khoảng sân rộng, hàng năm thiếu niên và Nhi đồng của tỉnh Cao Bằng, cả nước thường tụ hội tại đây cắm trại, vui chơi ca hát.
  • Khu di tích lịch sử Rừng Trần Hưng Đạo, nơi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Cao Bằng xếp ở vị trí thứ 63/63 tỉnh thành.[10]

Hình ảnh Cao Bằng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ a ă “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Trang 151”. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. 6/2010. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2010. 
  3. ^ Quyết định 67-CP năm 1966 về việc chia huyện Hà Quảng thuộc tỉnh Cao Bằng thành hai huyện Hà Quảng và Thông Nông
  4. ^ Quyết định 44-HĐBT năm 1981 về việc thành lập huyện Hạ Lang và đặt thị trấn Tĩnh Túc trực thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
  5. ^ Quyết định 144-HĐBT năm 1984 về việc đổi tên huyện Chợ Rã thuộc tỉnh Cao Bằng thành huyện Ba Bể
  6. ^ Nghị định 52/2000/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bảo Lạc để thành lập huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng
  7. ^ Nghị định 96/2001/NĐ-CP về việc chia huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng thành hai huyện Phục Hòa và Quảng Uyên
  8. ^ Nghị quyết 60/NQ-CP năm 2012 thành lập thành phố Cao Bằng thuộc tỉnh Cao Bằng
  9. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư “s of Vietnam”. Statoids. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ “PCI 2011: Lào Cai và Bắc Ninh 'vượt vũ môn' ngoạn mục”. Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]