Thác Bản Giốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 22°51′23,04″B 106°43′19,2″Đ / 22,85°B 106,71667°Đ / 22.85000; 106.71667

Thác Bản Giốc vào mùa mưa nhìn từ Việt Nam, bên trái ảnh là thác phụ, bên phải ảnh là thác chính.
Thác Bản Giốc nhìn từ Trung Quốc vào mùa khô, bên trái ảnh là thác phụ, bên phải ảnh là thác chính
Sông Quây Sơn
Ảnh thác Bản Giốc thời Pháp thuộc với nhóm lính tập và viên chỉ huy người Pháp chụp bên dòng thác

Thác Bản Giốc, Trung Quốc gọi là cặp thác Đức Thiên-Bản Ước (tiếng Trung: 德天-板約; bính âm: Détiān - Bǎnyuē), là một hoặc hai thác nước nằm trên sông Quây Sơn tại biên giới giữa Việt NamTrung Quốc. Nếu nhìn từ phía dưới chân thác, phần thác bên trái và nửa phía tây của thác bên phải thuộc chủ quyền của Việt Nam tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; nửa phía đông của thác bên phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc tại thôn Đức Thiên, trấn Thạc Long, huyện Đại Tân, thành phố Sùng Tả của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Thác nước này cách huyện lỵ Trùng Khánh khoảng 20 km về phía đông bắc, cách thủ phủ Nam Ninh của Quảng Tây khoảng 208 km.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Theo quan điểm của Trung Quốc thì thác chính và thác phụ là hai thác riêng biệt, thác chính (Đức Thiên) có chiều rộng 100 m, độ sâu 60 m và độ cao là 70 m. Theo quan điểm của phía Việt Nam, thác Bản Giốc bao gồm cả thác chính và phụ với tổng chiều rộng là 208 m.[1] Thác Bản Giốc được chia thành hai phần, phần ở phía Nam gọi là thác Cao, đây là thác phụ vì lượng nước không lớn. Thác Thấp là thác chính nằm ở phía Bắc trên biên giới Việt Trung.

Thác Bản Giốc là thác nước lớn thứ tư thế giới trong các thác nước nằm trên một đường biên giới giữa các quốc gia (Sau thác Iguazu giữa Brasil - Argentina, thác Victoria nằm giữa Zambia - Zimbabwe; và thác Niagara giữa CanadaHoa Kỳ).[2] Tuy nhiên, theo Tân Hoa xã thì thác Bản Giốc là thác xuyên quốc gia lớn thứ hai trên thế giới.[1] Thác Bản Giốc là thác nước tự nhiên lớn nhất khu vực Đông Nam Á.[1][2]

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Thác Bản Giốc là một thắng cảnh du lịch nổi tiếng, từng được Tạp chí Địa lý Quốc gia Trung Quốc bình chọn là một trong sáu thác nước đẹp nhất Trung Quốc vào năm 2005.[3][4] Ngoài ra, Nhân dân Nhật báoĐài Truyền hình Trung ương Trung Quốc cũng đã đánh giá thác Bản Giốc là một trong mười thác nước đẹp nhất Trung Quốc.[2][5] Thác Bản Giốc cũng đã đi vào nghệ thuật tạo hình với những tác phẩm hội họa và nhiếp ảnh đặc sắc. Ngoài giá trị du lịch và nghệ thuật, thác cũng có tiềm năng thủy điện. Ngoài ra, tại Việt Nam, cũng có nhận định cho rằng thác Bản Giốc là thác nước đẹp nhất của quốc gia. Theo thống kê của Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch của tỉnh Cao Bằng, mỗi năm Việt Nam có khoảng 30.000 người đến thăm Bản Giốc, còn phía Trung Quốc đón gần 1 triệu lượt người.[6] Ngày 8 tháng 12 năm 2012, Tổng công ty du lịch Sài Gòn (Saigontourist) đã làm lễ động thổ xây dựng khu nghỉ dưỡng Sài Gòn - Bản Giốc tại xã Đàm Thủy. Dự kiến, khu nghỉ dưỡng Sài Gòn-Bản Giốc có tổng kinh phí đầu tư khoảng 170 tỉ đồng, đạt tiêu chuẩn 4 sao và đưa vào khai thác cuối năm 2013.[7]

Thủy lưu[sửa | sửa mã nguồn]

Thác Bản Giốc nằm trên dòng chảy của sông Quây Sơn (歸春河, âm Hán Việt là "Quy Xuân hà"). Sông này bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy về hướng biên giới hai nước rồi vào lãnh thổ Việt Nam tại Pò Peo thuộc xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh. Từ xã Ngọc Khê, sông chảy qua các xã Đình Phong, Chí Viễn, khi đến xã Đàm Thuỷ, dòng sông lượn quanh dưới chân núi Cô Muông rồi qua các cánh đồng của Đàm Thuỷ, qua bãi ngô trên bản Giốc, quay trở lại đường biên giới rồi tách ra thành nhiều nhánh. Lòng sông ở đó đột ngột trụt xuống khoảng 35 m, tạo thành thác Bản Giốc. Sau khi đổ xuống chân thác, sông quay hẳn vào lãnh thổ Trung Quốc.

Giữa thác có một mô đất rộng phủ đầy cây, xẻ dòng sông thành ba luồng nước. Vào những ngày nắng, làn hơi nước bắn ra từ thác tạo thành cầu vồng. Dưới chân thác là mặt sông rộng với hai bên bờ là những thảm cỏ và vạt rừng. Cách thác khoảng hơn 5 km có động Ngườm Ngao, dài 3 km.

Ở giữa thác chính là cột mốc biên giới Việt-Trung. Cột mốc này được xác định qua hiệp ước về biên giới giữa hai nước năm 1999 là cột mốc 53 do Pháp - Thanh xây dựng. Theo hiệp ước 1999, phần thác phụ hoàn toàn thuộc về Việt Nam, phần thác chính chia đôi.[8][9]

Vấn đề chủ quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Có dư luận cho rằng toàn bộ hai phần thác Bản Giốc vốn thuộc về Việt Nam và đã bị mất cho Trung Quốc. Thứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Vũ Dũng khẳng định rằng thông tin đó hoàn toàn không có cơ sở, rằng Công ước Pháp-Thanh 1887 và Hiệp định 1999 đều quy định đường biên giới khu vực này chạy theo trung tuyến dòng chảy sông Quế Sơn (Quây Sơn), lên thác và tới mốc 53 phía trên. Nghĩa là, phần thác phụ hoàn toàn nằm bên phía Việt Nam, phần thác chính có một phần thuộc Trung Quốc.[10]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “德天瀑布” (bằng tiếng Trung). Tân Hoa xã. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  2. ^ a ă â “Top 10 most beautiful Chinese waterfalls” (bằng tiếng Anh). Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011. 
  3. ^ “德天瀑布 横在中越边境的最美瀑布”. Tạp chí địa lí Quốc gia Trung Quốc. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2011. 
  4. ^ “Thưởng ngoạn cảnh đẹp của thác nước Đức Thiên”. Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 
  5. ^ “China's Ten Most Beautiful Waterfalls” (bằng tiếng Anh). Trung tâm Thông tin Internet Trung Quốc. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011. 
  6. ^ “Thác Bản Giốc chờ ngày cất cánh”. Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  7. ^ N.Trần Tâm. “Saigontourist xây resort 4 sao ở thác Bản Giốc”. Thanh Niên Online. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2012. 
  8. ^ Việt Anh (2 tháng 1 năm 2009). “Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, Trưởng đoàn đàm phán biên giới trả lời VnExpress.net”. VnExpress. 
  9. ^ Sứ quán Việt Nam tại Mỹ, Về giải quyết vấn đề biên giới đất liền Việt Nam- Trung Quốc (toàn văn bài trả lời phỏng vấn cho báo chí Việt Nam ngày 14/9/2002 của ông Lê Công Phụng, Thứ tr­ưởng Ngoại giao, Trư­ởng Ban biên giới, Tr­ưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam - Trung Quốc)
  10. ^ Nghĩa Nhân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Dũng: Tháo dỡ mọi công trình quân sự trên đường biên giới Việt-Trung, 31-12-2007, Báo Pháp luật TP.HCM

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]