Phú Thọ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phú Thọ
Tỉnh
Đền Hùng.JPG
Trẩy hội Đền Hùng
Địa lý
Tọa độ: 21°15′45″B 105°07′32″Đ / 21,262501°B 105,125427°Đ / 21.262501; 105.125427Tọa độ: 21°15′45″B 105°07′32″Đ / 21,262501°B 105,125427°Đ / 21.262501; 105.125427
Diện tích 3.533,4 km²[1]
Dân số (2012)  
 Tổng cộng 1.335.900 người[1]
 Mật độ 378 người/km²
Dân tộc Việt, Mường, Dao, Sán Chay
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng đông bắc
Tỉnh lỵ Thành phố Việt Trì
 Chủ tịch UBND Chu Ngọc Anh
 Chủ tịch HĐND Hoàng Dân Mạc
 Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Dân Mạc
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã, 11 huyện
Mã hành chính VN-68
Mã bưu chính 29xxxx
Mã điện thoại 210
Biển số xe 19
Website http://www.phutho.gov.vn/

Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên QuangYên Bái, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía đông giáp huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội, phía tây giáp tỉnh Sơn La, phía nam giáp tỉnh Hòa Bình. Phú Thọ là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội.

Thành phố Thành phố Việt Trì là trung tâm hành chính, kinh tế chính trị văn hoá giáo dục của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 80 km và sân bay quốc tế Nội Bài 50 km về phía tây bắc. Thành phố Việt Trì nằm đối diện với huyện Ba Vì, Hà Nội qua sông Hồng.

Toạ độ địa lí:

  • Cực Bắc: 21°43'B thuộc xã Đông Khê - huyện Đoan Hùng.
  • Cực Nam: 20°55'B ở chân núi Tu Tinh xã Yên Sơn - huyện Thanh Sơn.
  • Cực Đông: 105° 27'Đ ở xóm Vinh Quang - xã Sông Lô - TP. Việt Trì.
  • Cực Tây: 104°48'Đ thuộc bản Mĩ Á - xã Thu Cúc - huyện Tân Sơn (đây là xã có diện tích rộng nhất Phú Thọ, rộng gần gấp 1,5 lần thị xã Phú Thọ - 96,6 km²).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh

Phú Thọ được coi là vùng Đất tổ cội nguồn của Việt Nam. Tương truyền tại nơi đây các vua Hùng đã dựng nước nên nhà nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên của Việt Nam, với kinh đôPhong Châu, tức xung quanh thành phố Việt Trì ngày nay.

Thời Hùng Vương, nhà nước Văn Lang được chi thành 16 bộ, trong đó Phú Thọ thuộc bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang.

Thời An Dương Vương với nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ thuộc huyện Mê Linh.

Dưới thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 10), Phú Thọ thuộc quận Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu.

Thời loạn 12 sứ quân, Phú Thọ là địa bàn chiếm đóng của 2 sứ quân Kiều Công HãnKiều Thuận tại các căn cứ Hồi Hồ và Phong Châu.

Thời kỳ phong kiến độc lập nhà Lí Trần, phân cấp hành chính của Việt Nam có sự thay đổi, chế độ quận, huyện thời Bắc thuộc được thay thế bằng các đạo (lộ, trấn, xứ, tỉnh), dưới đạo là các phủ, châu, huyện. Phú Thọ thuộc lộ Tam Giang.

Từ thời nhà Lê đến đầu triều nhà Nguyễn (1428 - 1891), phần lớn tỉnh Phú Thọ ngày nay thuộc tỉnh Sơn Tây trừ huyện Thanh Xuyên và huyện Yên Lập thuộc tỉnh Hưng Hóa (huyện Thanh Xuyên nay là 3 huyện Tân Sơn, Thanh SơnThanh Thủy; huyện Yên Lập thuộc phủ Quy Hóa nay thuộc tỉnh Phú Thọ).

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), nhà vua đã tiến hành cải cách hành chính, đổi tất cả các trấn trong nước là tỉnh, phân lại địa giới các tỉnh (điều chuyển một số huyện từ tỉnh nọ sang tỉnh kia), chia tách một số huyện lớn... Theo đó, trong địa bàn tỉnh Sơn Tây đã điều chuyển như sau:

Điều chuyển huyện Từ Liêm về tỉnh Hà Nội;

Điều chuyển huyện Tam Nông về tỉnh Hưng Hóa để làm tỉnh lỵ (tỉnh Hưng Hóa khi đó bao gồm toàn bộ diện tích các tỉnh vùng tây bắc Việt Nam ngày nay).

Trong địa bàn tỉnh Hưng Hóa, năm 1833, tách huyện Thanh Xuyên phủ Gia Hưng thành hai huyện Thanh SơnThanh Thủy.

Sau khi đánh chiếm Bắc Kỳ, hoàn thành việc xâm lược toàn bộ Việt Nam, thực dân Pháp lập ra các đạo quan binh, các quân khu, tiểu quân khu... để dễ dàng và chủ động đàn áp các phong trào kháng chiến. Theo đó, tỉnh Hưng Hóa với địa bàn rộng lớn ở vùng tây bắc Việt Nam đã được chia thành nhiều tiểu quân khu: tiểu quân khu Tuyên Quang, tiểu quân khu Lào Cai, tiểu quân khu Yên Bái, tiểu quân khu Vạn Bú; tiểu quân khu phụ Lai Châu (sau đổi thành các tỉnh dân sự Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu...).

Sau khi cắt đi 16 châu, 4 phủ và hai huyện Trấn Yên, Văn Chấn để thành lập các đạo quan binh, khu quân sự, tiểu quân khu, Toàn quyền Đông Dương đã điều chỉnh một số huyện của tỉnh Sơn Tây sang, cộng với các huyện còn lại để thành lập tỉnh Hưng Hóa mới.

Theo Điều I của Nghị định Toàn quyền Đông Dương ngày 8 tháng 9 năm 1891, tỉnh Hưng Hóa mới được thành lập gồm có:

Như vậy tỉnh Hưng Hóa mới thành lập có 5 huyện và là tiền thân của tỉnh Phú Thọ sau này.

Ngày 9 tháng 12 năm 1892, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển huyện Cẩm Khê nằm trong địa bàn tiểu quân khu Yên Bái về tỉnh Hưng Hóa mới; ngày 5 tháng 6 năm 1893, huyện Hạ Hòa tách khỏi tiểu quân khu Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hóa mới (trước đó ngày 9 tháng 9 năm 1891, Toàn quyền Đông Dương đã điều chuyển huyện Cẩm Khê và huyện Hạ Hòa thuộc phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây về tiểu quân khu Yên Bái).

Tiếp đó ngày 17 tháng 7 năm 1895, hai châu Thanh SơnYên Lập thuộc khu quân sự Đồn Vàng chuyển về tỉnh Hưng Hóa mới.

Ngày 24 tháng 8 năm 1895, hai huyện Hùng QuanNgọc Quan của phủ Đoan Hùng thuộc tiểu quân khu Tuyên Quang thuộc đạo quan binh 3 Yên Bái nhập vào tỉnh Hưng Hóa mới.

Năm 1900, thành lập thêm huyện Hạc Trì.

Ngày 5 tháng 5 năm 1903, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập thị xã Phú Thọ trên cơ sở làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi. Khi đó thị xã Phú Thọ nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Hưng Hóa lại có sân bay, đường sắt sang Trung Quốc và nhà ga nên Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã quyết định chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa (từ làng Trúc Phê huyện Tam Nông) lên thị xã Phú Thọ và đổi tên tỉnh Hưng Hóa thành tỉnh Phú Thọ. Khi đó tỉnh Phú Thọ gồm có 2 phủ (Đoan Hùng, Lâm Thao), 8 huyện (Tam Nông, Thanh Thủy, Sơn Vi, Thanh Ba, Phù Ninh, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Hạc Trì) và 2 châu (Thanh Sơn, Yên Lập).

Như vậy, ngày 8 tháng 9 năm 1891 được coi là ngày thành lập tỉnh Phú Thọ, còn ngày 5 tháng 5 năm 1903 chỉ là ngày thành lập thị xã Phú Thọ và ngày đổi từ tên tỉnh Hưng Hóa thành tỉnh Phú Thọ.

Từ năm 1903 đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, về cơ bản là đơn vị hành chính trong tỉnh không có những thay đổi lớn, chỉ có thay đổi tên gọi một số huyện và thành lập một số làng xã mới.

Năm 1919, bỏ tên huyện Sơn Vi đổi gọi là phủ Lâm Thao. Cũng chính năm này hai huyện Hùng QuanNgọc Quan hợp nhất thành phủ Đoan Hùng.

Năm 1939, phủ Đoan Hùng chuyển gọi là châu Đoan Hùng. Cũng năm này huyện Thanh Ba đưa lên thành phủ Thanh Ba.

Đến năm 1940, tỉnh Phú Thọ bao gồm hai phủ: Lâm Thao, Thanh Ba; sáu huyện: Hạ Hòa, Cẩm Khê, Hạc Trì, Thanh Thủy, Tam Nông, Phù Ninh; ba châu: Thanh Sơn, Yên Lập, Đoan Hùng; hai thị xã: Phú Thọ, Việt Trì và một thị trấn Hưng Hóa. Toàn tỉnh có 66 tổng, 467 làng xã, 22 phố.

Sau Cách mạng tháng Tám, về mặt hành chính nhà nước Việt Nam thống nhất gọi các phủ, châu, huyện là huyện, bỏ cấp tổng và tiến hành hợp nhất các làng nhỏ thành xã. Năm 1946, tỉnh Phú Thọ từ 467 làng cũ hợp nhất thành 106 xã mới. Do có xã quá lớn nên giữa năm 1947, chính phủ lại chia tách một số xã, đưa số xã từ 106 lên 150 xã.

Cũng năm 1947, 5 huyện hữu ngạn sông Thao là Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn và Yên Lập sát nhập vào khu 14 không thuộc tỉnh Phú Thọ. Đến tháng 2 năm 1948, khu 14 hợp nhất với khu 10 thành liên khu 10, 5 huyện hữu ngạn sông Thao lại trở về tỉnh Phú Thọ.

Ngày 22 tháng 7 năm 1957, thành lập thị xã Việt Trì - thị xã thứ hai của Phú Thọ, chỉ có 4 khu phố, 293 hộ người Kinh, 30 hộ Hoa kiều.

Ngày 4 tháng 6 năm 1962 thành phố Việt Trì được thành lập theo quyết định số 65 của Hội đồng Chính phủ. Từ đây Việt Trì trở thành tỉnh lị của Phú Thọ.

Ngày 26 tháng 1 năm 1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị quyết số 504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú, thành phố Việt Trì trở thành tỉnh lỵ của Vĩnh Phú.

Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã thông qua nghị quyết (ngày 26 tháng 11 năm 1996) về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó có việc tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ[2]. Tỉnh Phú Thọ chính thức được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997, ngay năm sau Phú Thọ được công nhận là tỉnh miền núi.

Khi tách ra, tỉnh Phú Thọ có diện tích 3.465,12 km², dân số 1.261.949 người, gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện: thành phố Việt Trì (tỉnh lỵ), thị xã Phú Thọ và 8 huyện Thanh Ba, Hạ Hòa, Đoan Hùng, Sông Thao, Thanh Sơn, Yên Lập, Tam Thanh, Phong Châu.

Ngày 24 tháng 7 năm 1999, huyện Phong Châu lại được tách thành hai huyện Phù NinhLâm Thao; huyện Tam Thanh lại được tách thành hai huyện Tam NôngPhú Thọ|Thanh Thủy.[3]

Tại nghị định số 61/2007/ NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007 của chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, huyện Thanh Sơn được tách thành 2 huyện: Thanh Sơn và Tân Sơn.[4]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Phú Thọ bao gồm 1 thành phố trực thuộc, 1 thị xã và 11 huyện, 277 xã/phường/thị trấn:

Tên Loại hành chính Dân số(2012) Diện tích (km²) đơn vị hành chính
Việt Trì (thành phố) 277.539[5] 110[5] Các phường: Bạch Hạc, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Nông Trang, Vân Cơ, Bến Gót, Gia Cẩm, Tân Dân, Dữu Lâu, Minh Nông, Minh Phương, Vân Phú.

Các xã: Thuỵ Vân, Phượng Lâu, Sông Lô, Trưng Vương, Hy Cương, Chu Hoá, Thanh Đình, Hùng Lô, Kim Đức, Tân Đức.

Phú Thọ (thị xã) (thị xã) 63,333[6] 64[6] Các phường: Hùng Vương, Phong Châu, Âu Cơ, Thanh Vinh, Trường Thịnh.

Các xã: Hà Lộc, Văn Lung, Phú Hộ, Hà Thạch, Thanh Minh.

Cẩm Khê (huyện) 128,537[6] 234.2[6] Thị trấn: Sông Thao.

Các xã: Cát Trù, Cấp Dẫn, Chương Xá, Điêu Lương, Đồng Cam, Đồng Lương, Hiền Đa, Hương Lung, Ngô Xá, Phú Khê, Phú Lạc, Phùng Xá, Phương Xá, Phượng Vĩ, Sai Nga, Sơn Nga, Sơn Tình, Tam Sơn, Tạ Xá, Thanh Nga, Thụy Liễu, Tiên Lương, Tình Cương, Tùng Khê, Tuy Lộc, Văn Bán, Văn Khúc, Xương Thịnh, Yên Dưỡng, Yên Tậρ

Đoan Hùng (huyện) 105,242[6] 302[6] Thị trấn: Đoan Hùng,

Các xã: Đông Khê, Nghinh Xuyên, Hùng Quan, Vân Du, Chí Đám, Hữu Đô, Đại Nghĩa, Phú Thứ, Hùng Long, Vụ Quang, Minh Phú, Chân Mộng, Vân Đồn, Minh Tiến, Tiêu Sơn, Yên Kiện, Sóc Đăng, Ngọc Quan, Phong Phú, Phương Trung, Tây Cốc, Ca đình, Phúc Lai, Quế Lâm, Bằng Luân, Bằng Doãn, Minh Lương

Hạ Hòa (huyện) 108,556[6] 340[6] Thị trấn: Hạ Hòa.

Các xã: Lệnh Khanh, Cáo Điền, Ấm Hạ, Phương Viên, Hậu Bổng, Đại Phạm, Đan Hà, Gia Điền, Y Sơn, Yên Luật, Lang Sơn, Chính Công, Yên Kỳ, Mai Tùng, Liên Phương, Hà Lương, Hương Xạ, Vụ Cầu, Minh Hạc, Vĩnh Chân, Phụ Khánh, Đan Thượng, Minh Côi, Văn Lang, Vô Tranh, Bằng Giã, Chuế Lưu, Xuân Áng, Lâm Lợi, Quân Khê, Hiền Lương, Động Lâm.

Lâm Thao (huyện) 106,610[6] 115[6] Thị trấn: Lâm Thao(huyện lỵ), Hùng Sơn.

Các xã: Xuân Huy, Thạch Sơn, Tiên Kiên, Sơn Vi, Hợp Hải, Kinh Kệ, Bản Nguyên, Vĩnh Lại, Tứ Xã, Sơn Dương, Xuân Lũng, Cao Xá.

Phù Ninh (huyện) 114,048[6] 167[6] Thị trấn: Phong Châu.

Các xã: Trạm Thản, Tiên Phú, Liên Hoa, Vĩnh Phú, Trung Giáp, Bảo Thanh, Trị Quận, Hạ Giáp, Gia Thanh, Phú Nham, Phú Lộc, Tiên Du, Phù Ninh, An Đạo, Tử Đà, Bình Bộ, Phú Mỹ, Lệ Mỹ.

Tam Nông (huyện) 82,370[6] 156[6] Thị trấn: Hưng Hóa.

Các xã: Hùng Đô, Quang Húc, Hiền Quan, Thanh Uyên, Tam Cường, Văn Lương, Cổ Tiết, Hương Nộn, Thọ Văn, Dị Nậu, Dậu Dương, Thượng Nông, Hồng Đà, Phương Thịnh, Tề Lễ, Tứ Mỹ, Xuân Quang, Hương Nha, Vực Trường.

Tân Sơn (huyện) 75,897 688.6 Các xã: Minh Đài, Tân Phú (huyện lỵ), Mỹ Thuận, Thu Ngạc, Thạch Kiệt,Thu Cúc, Lai Đồng, Đồng Sơn, Tân Sơn, Kiệt Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng, Xuân Sơn, Văn Luông, Long Cốc, Tam Thanh,Vinh Tiền.
Thanh Ba (huyện) 109,806[6] 194[6] Thị trấn: Thanh Ba.

Các xã: Đồng Xuân, Lương Lỗ, Hanh Cù, Yển Khê, Vũ Yển, Phương Lĩnh, Mạn Lạn, Hoàng Cương, Thanh Xá, Chí Tiên, Sơn Cương, Đỗ Sơn, Thanh Hà, Đông Thành, Khải Xuân, Võ Lao, Quảng Nạp, Ninh Dân, Yên Nội, Thái Ninh, Đông Lĩnh, Đại An, Năng Yên, Đỗ Xuyên, Thanh Vân, Vân Lĩnh.

Thanh Sơn (huyện) 187,700[6] 1309[6] Thị trấn: Thanh Sơn.

Các xã: Sơn Hùng, Địch Quả, Giáp Lai, Thục Luyện, Võ Miếu, Thạch Khoán, Cự Thắng, Tất Thắng, Văn Miếu, Cự Đồng, Thắng Sơn, Tân Minh, Hương Cần, Khả Cửu, Tân Lập, Đông Cửu, Yên Lãng, Yên Lương, Thượng Cửu, Lương Nha, Yên Sơn, Tinh Nhuệ.

Thanh Thủy (huyện) 76,330[6] 124[6] Thị trấn: Thanh Thủy.

Các xã: Xuân Lộc, Thạch Đồng, Tân Phương, La Phù, Bảo Yên, Đoan Hạ, Sơn Thủy, Hoàng Xá, Trung Thịnh, Đồng Luận, Trung Nghĩa, Phượng Mao, Yến Mao, Tu Vũ, Đào Xá.

Yên Lập (huyện) 79,548[6] 437[6] Thị trấn: Yên Lập.

Các xã: Mỹ Lung, Mỹ Lương, Lương Sơn, Xuân An, Xuân Viên, Xuân Thủy, Hưng Long, Thượng Long, Nga Hoàng, Trung Sơn, Đồng Thịnh, Phúc Khánh, Ngọc Lập, Ngọc Đồng, Minh Hòa, Đồng Lạc.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình núi đá vôi tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ

Diện tích[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 3.532,9493 km², chiếm 1,5% diện tích cả nước.

Khí tượng thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có một mùa đông khô và lạnh. Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng.

  • Lượng mưa trung bình hàng năm trên toàn tỉnh là 1600 – 1800 mm/năm
  • Nhiệt độ trung bình các ngày trong năm là 23,4 °C
  • Số giờ nắng trong năm: 3000 - 3200 giờ
  • Độ ẩm tương đối trung bình hàng ngày là 85%

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia thành tiểu vùng chủ yếu. Tiểu vùng núi cao phía tây và phía nam của Phú Thọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại. Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy. Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn nuôi.Địa hình của tỉnh chủ yếu là đồi núi, những vùng đất bằng phẳng rải rác trong tỉnh. Thành phố Việt Trì là điểm đầu của tam giác châu Bắc Bộ. Vùng núi chiếm 79% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; vùng trung du chiếm 14,35% diện tích; vùng đồng bằng chiếm 6,65% diện tích. Ðiểm cao nhất có độ cao 1.200m so với mực nước biển, điểm thấp nhất cao 30m; độ cao trung bình là 250m so với mực nước biển.

Sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Đoạn sông Lô chảy qua địa phận Việt Trì, Phú Thọ

Phú Thọ có 3 con sông lớn chảy qua: sông Hồng (đoạn từ Lao Cai đến Việt Trì được gọi là sông Thao), sông Lôsông Đà, chúng hợp lại với nhau ở Thành phố Việt Trì. Chính vì thế mà đây được gọi là "ngã ba sông".Tương truyền tại nơi giao của ba dòng nước này luôn mang lại may mắn vì vậy nơi đây thường tập trung những người đến lấy nước để cầu may khi dựng nhà, động thổ... Xuất hiện nghề lấy nước bán...

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Theo điều tra dân số ngày 01/04/2009 Phú Thọ có 1.313.926 người với mật độ dân số 373 người/km². Tỷ lệ dân số sống tại nông thôn, vùng núi khoảng 85% và tại thành thị khoảng 15%. Theo Nghị định 05/NĐ-CP, Phú Thọ có 1.400.226 người vào thời điểm tháng 1/2009.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009, thu nhập bình quân GDP/người đạt 1321USD/người

Lịch sử và văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Phú Thọ có nền văn hoá rực rỡ từ lâu đời. Những di chỉ khảo cổ văn hoá Sơn Vi, Đồng Đậu, Làng Cả và nhiều đình, chùa, lăng, tẩm còn lại quanh vùng núi Nghĩa Lĩnh cho thấy đất Phong Châu là một trung tâm văn hoá của dân tộc Việt. Di tích lịch sử quan trọng là đền quốc mẫu Âu Cơ, khu di tích đền Hùng.

Lễ hội và địa danh văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ao Giời - Suối Tiên, một địa điểm du lịch sinh thái và văn hóa gắn với truyền thuyết Lạc Long Quân-Âu Cơ

Đây là vùng đất có nhiều lễ hội, đáng kể nhất là lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng Ba âm lịch). Các dân tộc ít người cũng có những đặc trưng văn hoá riêng của mình: người Mường có nhiều truyện thơ, ca dao, tục ngữ, hát xéc bùa, hát ví, hát đúm. Người Việt có hát xoan, hát ghẹo... Các lễ hội chính trong tỉnh có thể kể đến:

Làng nghề truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Sai Nga huyện Cẩm Khê có nghề truyền thống là may nón lá. Đây là loại nón làm từ lá cọ. Trước đây khi nón lá còn thịnh hành tại làng nghề này nhà nào cũng may nón bán nhưng hiện nay khi cuộc sống, nhu cầu đã thay đổi, ít người còn làm. Ngoài ra còn có làng ủ ấm Sơn Vi (huyện Lâm Thao), làng làm bún Hùng Lô (xã Hùng Lô - TP. Việt Trì) đã được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống. Xã Tùng Khê huyện Cẩm Khê có nghề truyền thống là đan Thúng 100% người dân trong xã đều biết đan Thúng. Những đứa trẻ học lớp 1, lớp 2 cũng ngồi đan Thúng giúp gia đình trong những khi ở nhà. Cứ mỗi ngày mồng 1, 6, 11, 16, 21, 26 AL hàng tháng Xã lại hội họp chợ mua bán trao đổi Thúng diễn ra vào 2 đến 5h30 sáng mùa hè và từ 4h đến 6h30 vào mùa đông.Xã Lâm Lợi Huyện Hạ Hòa co lang nghề làm bánh cuốn nóng gia truyền nổi tiếng, hiện nay trong xã có khoảng 300 cửa hàng kinh doanh ở khắp các tỉnh phía Bắc với khoảng 700 lao động trong xã thu nhập trung bình khoảng 10triệu/người/tháng.

Phong tục[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi uống xong một chén rượu hay một cốc bia người dân Phú Thọ nói riêng và một số tỉnh miền tây bắc nói chung (Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai) thường bắt tay, thể hiện tình cảm và sự trân trọng với nhau[7].

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn][sửa | sửa mã nguồn]

Các trường đại học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trường Đại học Hùng Vương (Cơ sở 1: Đ. Nguyễn Tất Thành - P.Nông Trang - TP.Việt Trì; Cơ sở 2: Đ.Nguyễn Tất Thành -.P.Hùng Vương - TX.Phú Thọ)
  • Trường Đại học Công nghiệp Việt Trì (Cơ sở 1: QL32C - X.Tiên Kiên - H.Lâm Thao; Cơ sở 2: P.Tiên Sơn - P.Tiên Cát - TP.Việt Trì)

Các trường cao đẳng[sửa | sửa mã nguồn][sửa | sửa mã nguồn]

  • Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm (Đ. Nguyễn Tất Thành - Phường Tân Dân - TP.Việt Trì)
  • Cao đẳng Dược Fushico (Đ. Hùng Vương - Phường Gia Cẩm - TP.Việt Trì)
  • Cao đẳng Nghề Phú Thọ (Đ. Hùng Vương - Phường Vân Phú - TP.Việt Trì)
  • Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Phú Thọ (Đ. Nguyễn Tất Thành - Phường Thọ Sơn - TP.Việt Trì)
  • Cao đẳng nghề công nghệ Giấy và cơ điện (Đ.Nội Thị - TT.Phong Châu - H.Phù Ninh)
  • Cao đẳng nghề Cơ điện Phú Thọ (K.5 - TT.Thanh Ba - H.Thanh Ba)
  • Cao đẳng nghề Nông nghiệp và PTNT Phú Thọ (TT.Thanh Ba - H.Thanh Ba)
  • Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ (X.Hà Lộc - TX.Phú Thọ)
  • Cao đẳng Công nghiệp quốc phòng (Cơ sở 1: P.Thanh Vinh - TX.Phú Thọ)
  • Cao đẳng Y tế Phú Thọ (P.Cao Bang - P.Trường Thịnh - TX.Phú Thọ)
  • Cao đẳng công nghiệp Hóa chất (QL32C - TT.Hùng Sơn - H.Lâm Thao)

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Đồi chè (trà) ở Phú Thọ

Phú Thọ có một số sản vật địa phương khá đặc biệt:

  • Hoa quả: tại Đoan Hùngbưởi Đoan Hùng (xưa còn gọi là bưởi Phủ Đoan với các giống bưởi Bằng Luân, bưởi Pôlênô (lai Mỹ), bưởi Lã Hoàng, bưởi Sửu, bưởi Chí Đám là ngon nhất, hầu hết đều có tép nhỏ, quả nhỏ, vỏ héo mềm, mọng nước ngọt và mát, là đặc sản bưởi vùng trung du Bắc Bộ. Tại Phường Tiên Cát - TP. Việt Trì có hồng Hạc (hay còn gọi là hồng Hạc Trì), là loại hồng không hạt quả to, mình vuông, tròn bằng, cát mịn và ăn giòn ngọt, xưa được coi như sản vật quí hiếm, xếp đứng đầu trong hàng ngũ hoa quả quý dùng để tiến vua. Hiện nay ở Thành phố Việt Trì chỉ còn duy nhất một cây hồng Hạc Trì cổ thụ[8].
  • Sản vật trung du: vùng đất rừng cọ đồi chè Phú Thọ sản sinh những đặc sản địa phương bao gồm chè (chè búp, lá chè tươi và hạt chè nấu nước chè xanh). Quả cọ: dầu cọ chiết xuất từ thịt quả, rau giá ủ mầm từ hạt cọ. Sắn: lá sắn non muối dưa chua sau đó nấu canh (với tép sông hoặc với cá nhỏ).
  • Cá: với sông Hồng, sông Lô cùng một hệ thống nhiều suối, ẩm thực Phú Thọ có những loại cá nước ngọt đặc sản, trong đó có những loại cá quý hiếm như cá Anh Vũ xưa chỉ có ở vùng ngã ba sông Bạch Hạc, Việt Trì. Đây là loại cá sống ở đáy sông, ăn rêu đá, suốt mùa xuân hè ẩn trong hang và chỉ sang mùa thu đông mới ra ngoài, thời phong kiến thường dùng tiến vua. Trên sông Lô, sông Thao còn đánh bắt được nhiều cá lăng, và tại Việt Trì, dọc bờ sông có rất nhiều quán sử dụng loại cá da trơn đánh bắt tại chỗ này để làm các món ăn như chả cá, lẩu cá, cá hấp, cá nướng. Tại vùng sông Thao huyện Thanh Bacá cháy, một loại cá có hai buồng trứng to và rất ngon.
  • Thịt động vật: các món thịt chó Việt Trì và thịt chua làm từ thịt lợn lên men bằng thính gạo tại huyện Thanh Sơn là những món ăn được biết đến không chỉ trong tỉnh.
  • Rau: có thể kể đến rêu đá tại huyện Thanh Sơn[9] làm từ các loại rêu vớt dưới suối, tẩm ướp và nướng. Bên cạnh đó là rau sắng, đặc sản của Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn.
  • Bánh: ẩm thực Phú Thọ có món bánh tai dân dã nhưng không kém phần đặc sắc. Đây là loại bánh có từ xa xưa với tên gọi bánh Hòn. Bánh tai có hình thù giống cái tai, là thứ bánh bột gạo tẻ, nhân thịt lợn ướp hành, dễ làm, là món ăn hòa quyện của các vị dẻo, giòn, bùi, ngọt, béo ngậy và thơm. Bánh tai có thể ăn thay cơm tẻ trên các mâm cỗ cưới, cỗ tết, đem bán hoặc làm quà biếu như một loại đặc sản địa phương.
  • Cơm: tại các vùng núi phía bắc tỉnh thịnh hành món cơm lam làm từ gạo nếp nương, đặc biệt là món xôi cọ[10] là loại xôi được đồ từ gạo nếp trộn với thịt quả cọ đã được om chín.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]