Người Sán Chay

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Sán Chay
Tổng số dân
147.315[1]
Khu vực có số dân đáng kể
Việt Nam: đông bắc Bắc Bộ
Ngôn ngữ
tiếng Việt, khác
Tôn giáo
Phật giáo

Dân tộc Sán Chay có tên gọi khác là Cao Lan, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận. Tiếng nói của họ thuộc Hệ ngôn ngữ Tai-Kadai.

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Người Sán Chay chủ yếu tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn. Hiện tại có một nhóm người vào Tây Nguyên lập nghiệp được tổ chức thành các làng.

Dân số theo điều tra dân số 1999 là 147.315 người.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Sán Chay ở Việt Nam có dân số 169.410 người, có mặt tại 58 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Sán Chay cư trú tập trung tại các tỉnh: Tuyên Quang (61.343 người, chiếm 36,2% tổng số người Sán Chay tại Việt Nam), Thái Nguyên (32.483 người, chiếm 19,2% tổng số người Sán Chay tại Việt Nam), Bắc Giang (25.821 người), Quảng Ninh (13.786 người), Yên Bái (8.461 người), Cao Bằng (7.058 người), Đắk Lắk (5.220 người), Lạng Sơn (4.384 người), Phú Thọ (3.294 người), Vĩnh Phúc (1.611 người)[2]...

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người Sán Chay làm ruộng nước là chính, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng.

Tổ chức cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Làng xóm thường tập trung một vài chục gia đình, sống gắn bó bên nhau.

Hôn nhân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc Sán Chay có nhiều họ, mỗi họ chia ra các chi. Từng họ có thể có một điểm riêng biệt về tập tục. Mỗi họ thờ "hương hỏa" một thần linh nhất định. Trong gia đình người Sán Chay, người cha là chủ nhà. Tuy nhà trai tổ chức cưới vợ cho con nhưng sau cưới, cô dâu lại về ở với cha mẹ đẻ, thỉnh thoảng mới về nhà chồng, cho đến khi mang thai mới về hẳn với chồng.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục: Hiện nay trang phục của người Sán Chay thường giống người Kinh hoặc người Tày. Thường ngày phụ nữ Sán Chay dùng chiếc dây đeo bao dao thay cho thắt lưng. Trong những dịp lễ tết, hội hè, các cô gái thường thắt 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hoặc bằng nhiễu, với những màu khác nhau.

Dân tộc Sán Chay có nhiều truyện cổ, thơ ca, , , tục ngữ, ngạn ngữ. Đặc biệt sình ca là hình thức sinh hoạt văn nghệ phong phú hấp dẫn nhất của người Sán Chay. Các điệu múa Sán Chay có: múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa đâm cá, múa thắp đèn... Nhạc cụ cũng phong phú, gồm các loại thanh la, não bạt, trống, chuông, kèn...

Vào ngày hội đình, hội xuân, tết nguyên đán... người Sán Chay vui chơi giải trí, có những trò diễn sôi nỗi như: đánh quay, "trồng cây chuối", "vặn rau cải", tung còn...Nhà cửa: Nói là nhà Cao Lan, nhưng đây chỉ là của một nhóm nhỏ ở Sơn Động - Hà Bắc. Nhà của người Cao Lan ở các địa phương khác cũng như nhà của người Sán Chỉ có nhiều nét gần với nhà Tày - Nùng. Riêng nhóm Cao Lan ở Sơn Động nhà cửa của họ có những nét rất độc đáo, chúng tôi không thấy giống bất kỳ nhà cửa của một dân tộc nào khác trong nước. Nhà sàn, vách che sát đất, xa trông tưởng là nhà đất.

Bộ khung nhà với vì kèo kết cấu đơn giản nhưng rất vững chắc. Có hai kiểu nhà là: "nhà trâu đực" và "nhà trâu cái". Nhà trâu cái vì kèo bốn cột. Nhà trâu đực vì kèo ba cột. Về tổ chức mặt bằng sinh hoạt giữa nhà trâu cái và trâu đực đều có những nét tương tự như vậy là để phân biệt nhà trâu cái và nhà trâu đực chỉ là ở vì kèo khác nhau.

Người Cao Lan là một bộ phận của dân tộc Sán Chay. Người Cao Lan có tiếng nói gần giống tiếng Tày.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều tra dân số 1999, tập tin 31.DS99.xls
  2. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.