Người Xinh Mun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Người Xinh Mun
Tổng số dân
20.200 +
Khu vực có số dân đáng kể
Việt Nam (18.018): Sơn La, Lai Châu
Lào (2.164+): Xiêng Khoảng, Huaphan
Ngôn ngữ
Tiếng Puộc, tiếng Việt, tiếng Lào, khác
Tôn giáo
Tín ngưỡng dân gian

Người Xinh Mun hay còn gọi người Puộc, người Pụa là một dân tộc ít người, sinh sống ở Việt Nam và Lào.

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng nói của người Xinh Mun là tiếng Puộc, thuộc ngữ chi Khơ Mú trong ngữ tộc Môn-Khmer.

Dân số và địa bàn cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, họ được công nhận như là một trong số 54 dân tộc Việt Nam. Dân số của dân tộc này có khoảng 18.018 người (điều tra dân số 1999)[1].

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xinh Mun ở Việt Nam có dân số 23.278 người, có mặt tại 22 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Xinh Mun cư trú tập trung tại tỉnh Sơn La (21.288 người, chiếm 91,5% tổng số người Xinh Mun tại Việt Nam), Điện Biên (1.926 người), Đồng Nai (10 người), Nam Định (10 người), Hà Nội (10 người)[2]...

Tại Lào[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Lào, họ được gọi là người Puộc, với dân số khoảng 2.146 người (theo Ethnologue) vào năm 1985[3].

Cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Người Xinh Mun cư trú chủ yếu ở vùng biên giới Việt-Lào thuộc hai tỉnh Sơn LaLai Châu của Việt Nam và tỉnh Xiêng Khoảng cùng Huaphan của Lào.

Đặc điểm kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người Xinh Mun sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, trồng lúa nếp và ngô là chính. Có loại nương chọc lỗ tra hạt giống, có nương dùng cuốc và có nương dùng cày để canh tác. Một số nơi có ruộng nước. Trước kia người Xinh Mun nuôi trâu, dê, lợn... thả rông, nay nhiều bản đã làm chuồng xa nhà cho súc vật. Hái lượm và săn bắn góp phần quan trọng cho đời sống của họ. Nghề đan lát khá phát triển, đồ đan đẹp và bền, họ thường đổi đồ đan cho người Thái, người Lào để lấy một phần đồ mặc và đồ sắt. Người Xinh Mun có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen, uống rượu cần, thích gia vị cay.

Tổ chức cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia người Xinh Mun sống du canh, du cư, nay họ đã sống ổn định và lập những làng đông đúc. Người Xinh Mun đa số mang họ Lò, họ Vi. Mỗi họ đều có kiêng cữ riêng. Các con theo họ cha. Trong nhà, khi người cha chết, thì con trai cả giữ vai trò quan trọng.

Hôn nhân gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong hôn nhân, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái. Sau lễ dạm, lễ hỏi mới đến lễ đi rể, thường sau vài ba năm lúc cô dâu chú rể đã có vài ba con, nhà trai mới tổ chức đón dâu về. Kể từ lễ đi ở rể, đôi vợ chồng phải đổi tên riêng của mình, lấy chung một tên khác do cậu, bố mẹ vợ hay thầy cúng đặt cho.Phụ nữ Xinh Mun thường đẻ tại nhà. Khi con gần đầy tháng, cha mẹ nhờ thầy cúng đặt tên.

Tục lệ ma chay[sửa | sửa mã nguồn]

Khi có người chết, người nhà bắn súng báo tin cho dân làng biết. Người Xinh Mun không có tục cải táng, tảo mộ...

Nhà cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Người Xinh Mun ở nhà sàn, mái hình mai rùa, có hai thang lên xuống ở hai đầu hồi.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Không có cá tính dân tộc mà chịu ảnh hưởng trang phục Thái đen (giống người Kháng).

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều tra dân số 1999, tập tin 50.DS99.xls
  2. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  3. ^ Languages of Laos

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]