Ủy ban Dân tộc (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ủy ban Dân tộc
 
Thành lập -9/9/1946
Ngân sách -
Nhân lực -
 
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Giàng Seo Phử
Địa chỉ 80-82 Phan Đình Phùng, Hà Nội
Web www.cema.gov.vn

Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ Việt Nam có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc Ủy ban quản lý theo quy định của pháp luật.

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Các tổ chức giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban thực hiện chức năng quản lý nhà nước
  • Vụ Chính sách dân tộc
  • Vụ Công tác dân tộc Tây Bắc (Vụ Địa phương I)
  • Vụ Công tác dân tộc Tây Nguyên (Vụ Địa phương II)
  • Vụ Công tác dân tộc đồng bằng Sông Cửu Long Được (Vụ Địa phương III)
  • Vụ Tuyên truyền
  • Vụ Pháp chế
  • Vụ Kế hoạch - Tài chính
  • Vụ Hợp tác quốc tế
  • Vụ Tổ chức cán bộ
  • Thanh tra
  • Văn phòng
Các tổ chức sự nghiệp thuộc Ủy ban
  • Viện Dân tộc
  • Trường Cán bộ Dân tộc
  • Trung tâm Tin học
  • Tạp chí Dân tộc
  • Báo Dân tộc và Phát triển

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 9 tháng 9 năm 1946, thành lập Nha Dân tộc thiểu số[1] với chức năng, nhiệm vụ "Xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam".
  • Ngày 1 tháng 2 năm 1955, thành lập Tiểu ban Dân tộc Trung ương.[2]
  • Ngày 6 tháng 3 năm 1959, thành lập Ủy ban Dân tộc thuộc Hội đồng Chính phủ[3] và có quyền hạn trách nhiệm ngang Bộ "Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ giúp Chính phủ nghiên cứu và thực hiện chính sách dân tộc nhằm tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng tương trợ và tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số tiến bộ mau chóng về mọi mặt theo chủ nghĩa xã hội".
  • Ngày 29 tháng 9 năm 1961, Chính phủ quy định lại nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Dân tộc "Ủy ban Dân tộc là cơ quan của Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm thực hiện chính sách dân tộc của ĐảngNhà nước, nhằm tăng cường đoàn kết các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng và tương trợ, tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số cùng nhân dân toàn quốc tiến nhanh về mọi mặt lên chủ nghĩa xã hội".[4]
  • Ngày 14 tháng 5 năm 1979, Ban Bí thư Trung ương Đảng quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức Ban Dân tộc Trung ương và của các tỉnh: "Ban Dân tộc là cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương (hoặc cấp ủy địa phương) về vấn đề dân tộc ít người".[5]
  • Ngày 16 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Nhà nước giải thể Ủy ban Dân tộc của Chính phủ[6]
  • Ngày 25 tháng 8 năm 1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng quy định chức năng, nhiệm vụ của Ban Dân tộc Trung ương có chức năng làm tham mưu tổng hợp cho Trung ương Đảng về công tác dân tộc thiểu số"[7]
  • Ngày 11 tháng 5 năm 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng thành lập Văn phòng Miền núi và Dân tộc[8]
  • Ngày 5 tháng 10 năm 1992, Bộ Chính trị hợp nhất hai cơ quan Ban Dân tộc Trung ương và Văn phòng Miền núi và Dân tộc thành Ủy ban Dân tộc và Miền núi[9] làm nhiệm vụ tham mưu cho Đảng về công tác dân tộc và miền núi
  • Ngày 2 tháng 3 năm 1993, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ[10]
  • Ngày 13 tháng 8 năm 1998, Ủy ban Dân tộc và Miền núi kiện toàn tổ chức.
  • Ngày 5 tháng 8 năm 2002, đổi tên thành Ủy ban Dân tộc[11]
  • Ngày 18 tháng 2 năm 2004, Chính phủ kiện toàn tổ chức của Ủy ban Dân tộc[12]

Lãnh đạo qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1946-1955, Hoàng Văn Phùng, Giám đốc Nha Dân tộc Thiểu số
  • 1955-1959, Bùi San, Trưởng Tiểu ban Dân tộc Trung ương
  • 1959-1960, Chu Văn Tấn, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ
  • 1960-1976, Lê Quảng Ba, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ
  • 1976-1979, Vũ Lập, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ
  • 1979-1982, Hoàng Văn Kiểu, Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ
  • 1982-1989, Hoàng Trường Minh, Trường Ban Dân tộc Trung ương
  • 1989-1992, Nông Đức Mạnh, Trường Ban Dân tộc Trung ương
  • 1992-2002, Hoàng Đức Nghi, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và Miền núi
  • 2002-2007, Ksor Phước, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc
  • 2007-nay, Giàng Seo Phử, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ thành lập tại Nghị định số 359, ngày 9-9-1946 chiểu theo Sắc lệnh số 58, ngày 3-5-1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
  2. ^ Ngày 1-2-1955, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 447/TTg, quy định cụ thể nhiệm vụ của Tiểu Ban Dân tộc, ngoài những nhiệm vụ nói trên, bổ sung thêm việc soạn và xuất bản tài liệu giới thiệu về các dân tộc
  3. ^ Theo  Nghị định số 102/TTg của Chính phủ quy định nhiệm vụ của Ủy ban Dân tộc Chính phủ
  4. ^ Theo Nghị định số 133/CP ngày 29-9-1961 của Chính phủ
  5. ^ Theo Quyết định số 38/QĐ-TW, ngày 14-5-1979 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng
  6. ^ Theo Quyết định số 78/HĐNN của Hội đồng Nhà nước ngày 16/2/1987
  7. ^ Theo Quyết định số 62/QĐ-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng 25/8/1988
  8. ^ Theo Quyết định số 147/CT ngày 11-5-1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
  9. ^ Thông báo số 33/TB-TW ngày 5-10-1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
  10. ^ Theo Nghị định số 15/CP ngày 2-3-1993 của Chính phủ
  11. ^ theo Nghị quyết kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XI (số 02/2002/QH11 ngày 5-8-2002)
  12. ^ Theo Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18-2-2004 về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp