Lê Quảng Ba

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Quảng Ba
Tướng Lê Quảng Ba.jpg
Vị tướng Tày đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
Tiểu sử
Tên thật Đàm Văn Mông
Sinh

1914

Hà Quảng, Cao Bằng, Việt Nam
Mất

1988

Hà Nội, Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1941-1960
Cấp bậc Vietnam People's Army Major General.jpgThiếu tướng
Chỉ huy Flag of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Tham chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ
Khen thưởng Huân chương Hồ Chí MinhHochiminh Order.png, Huân chương Chiến thắng hạng nhấtDetermined to Win Military Flag Medal.png, Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất,nhì ba, Huân chương Quân kỳ quyết thắng..
Công việc khác Bộ trưởng,Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Việt Nam,Phó Chủ nhiệm Ủy ban nông nghiệp Trung ương,Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III,đại biểu Quốc Hội khóa II đến khóa VI, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Lê Quảng Ba (19141988) là một tướng lĩnh người Tày đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh đầu tiên Quân khu Việt Bắc.

Ông tên thật là Đàm Văn Mông; dân tộc Tày; quê xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông là một trong những người đã đưa Hồ Chí Minh từ Trung Quốc về nước đầu năm 1941, chịu trách nhiệm nơi ăn, chốn ở, nơi họp và bảo vệ Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8.

Tiểu sử tóm tắt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ông tham gia cách mạng năm 1935, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1936, thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1958.
  • Năm 1941, ông cùng Lê Thiết Hùng tổ chức lớp học quân sự đầu tiên ở Cao Bằng để thành lập đội du kích tập trung đầu tiên và phụ trách đội, trong đội có Nông Thị Trưng.
  • Từ cuối năm 1944 đến năm 1945, ông làm Ủy viên quân sự và Phái viên kỳ bộ Việt MinhCao-Bắc-Lạng.
  • Từ tháng 11 năm 1945 đến năm 1947, ông làm Khu phó Khu 1, Khu trưởng Khu Hà Nội rồi Khu trưởng Khu 12.
  • Từ năm 1948 đến năm 1949, ông làm Chỉ huy phó Mặt trận 2 (Đông Bắc) rồi Chỉ huy trưởng Mặt trận Duyên hải Đông Bắc và Thập Vạn Đại Sơn.
  • Tháng 12 năm 1949, ông làm Tư lệnh Liên khu Việt Bắc.
  • Tháng 5 năm 1951, ông làm Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 316.
  • Từ năm 1957 đến năm 1959, ông làm Tư lệnh Quân khu Việt Bắc [1].
  • Năm 1960, ông chuyển ngành, làm Trưởng ban Ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Chính phủ, rồi Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương.

Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Nguồn liên hệ[sửa | sửa mã nguồn]