Huân chương Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Huân chương Hồ Chí Minh
Trao giải bởi Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Dạng Huân chương không chia hạng
Điều kiện tập thể lập được thành tích xuất sắc; tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc ở một trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao hoặc các lĩnh vực khác.
Tình trạng còn hiệu lực
Thống kê
Thành lập 6 tháng 6 năm 1947
Giải thưởng đầu tiên 1950
Tổng trao giải trên 600 tập thể, cá nhân trong nước và trên 50 tập thể cá nhân nước ngoài.
Ưu tiên
Tiếp theo (cao hơn) Huân chương Sao vàng (Việt Nam)
Tiếp theo (thấp hơn) Huân chương Độc lập
Vietnam Hochiminh Order ribbon.png
Dải huân chương Hồ Chí Minh

Huân chương Hồ Chí Minhhuân chương bậc cao thứ nhì của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), được đặt ra lần đầu theo Sắc lệnh 58-SL ngày 6 tháng 6 năm 1947 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt ra lần hai theo Luật Thi đua - Khen thưởng được ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003).

Huân chương Hồ Chí Minh để tặng cho tập thể lập được thành tích xuất sắc; tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc ở một trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao hoặc các lĩnh vực khác. Thẩm quyền tặng, truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh do Chủ tịch nước quyết định.

Khi mới được đặt ra lần đầu, Huân chương Hồ Chí Minh có 3 hạng được phân biệt bằng số sao đính trên dải và cuống huân chương: hạng Nhất có 3 sao, hạng Nhì có 2 sao, hạng Ba có 1 sao. Theo Pháp lệnh số 10-HĐNN ngày 28 tháng 3 năm 1981 của Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và theo Luật Thi đua - Khen thưởng thì Huân chương Hồ Chí Minh không chia hạng.

Huân hương Hồ Chí Minh không chia hạng. Đến nay Nhà nước ta đã tặng và truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho trên 600 tập thể, cá nhân trong nước và trên 50 tập thể cá nhân nước ngoài.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người đầu tiên được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và cũng là người 2 lần được tặng thưởng (lần thứ nhất năm 1950 và lần thứ hai năm 1979).[cần dẫn nguồn]

Đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ruy băng Huân chương Hồ Chí Minh
  1. Huân chương Hồ Chí Minh để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc ở một trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao hoặc các lĩnh vực khác, đạt một trong các tiêu chuẩn sau:
    1. Người tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1935 về trước, hoạt động liên tục, có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam, của dân tộc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Phó ban Đảng ở Trung ương, Thứ trưởng hoặc chức vụ tương đương, Trung tướng Lực lượng vũ trang nhân dân;
    2. Người tham gia hoạt động cách mạng trước năm 1945, hoạt động liên tục, có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Trưởng ban Đảng ở Trung ương, Xứ ủy viên, Khu ủy viên, Bộ trưởng hoặc chức vụ tương đương, Thượng tướng Lực lượng vũ trang nhân dân;
    3. Người có quá trình tham gia liên tục trong 2 cuộc kháng chiến chống Phápchống Mỹ (từ 1945 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975), có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc chức vụ tương đương 1 nhiệm kỳ, Đại tướng Lực lượng vũ trang nhân dân;
    4. Người có quá trình công tác liên tục từ kháng chiến chống Mỹ (từ 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975) và thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay), có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách:
      1. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ 1 nhiệm kỳ.
      2. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc các chức vụ tương đương liên tục 2 nhiệm kỳ, Đại tướng Lực lượng vũ trang nhân dân 10 năm trở lên.
    5. Người có công lao to lớn, có công trình, tác phẩm đặc biệt xuất sắc có tác động sâu rộng thúc đẩy sự phát triển một trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao… được nhà nước thừa nhận, tôn vinh;
    6. Người nước ngoài có công lao to lớn đối với dân tộc Việt Nam, được Nhà nước Việt Nam thừa nhận, tôn vinh.
  2. Huân chương Hồ Chí Minh để tặng cho tập thể đạt các tiêu chuẩn sau:
    1. Đã được tặng Huân chương Độc lập hạng nhất hoặc Huân chương Quân công hạng nhất;
    2. Có quá trình xây dựng và phát triển từ 35 năm trở lên (trường hợp chưa được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất hoặc Huân chương Quân công hạng nhất phải có quá trình xây dựng và phát triển từ 40 năm trở lên);
    3. Lập được thành tích xuất sắc liên tục từ 5 năm trở lên trước thời điểm đề nghị, trong thời gian đó 3 lần được tặng Cờ Thi đua của Chính phủ hoặc Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; nội bộ đoàn kết, tổ chức Đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh.
  3. Huân chương Hồ Chí Minh để tặng cho tập thể nước ngoài có nhiều thành tích xuất sắc đối với dân tộc Việt Nam, được Nhà nước Việt Nam thừa nhận, tôn vinh.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Huân chương
Hồ Chí Minh
(mẫu cũ)

Quy định mẫu huân chương Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 7 Nghị định số 50/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ quy định mẫu Huân chương, Huy chương, Huy hiệu, Bằng Huân chương, Bằng Huy chương, Cờ Thi đua, Bằng khen, Giấy khen:

Cuống Huân chương viền ngoài màu vàng, trong bằng tơ Rayon dệt màu đỏ cờ, có ba vạch vàng, cốt bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dày 3 micron; kích thước 28mm x 14mm.

Dải Huân chương hình chữ A cách điệu, bằng tơ Rayon dệt màu đỏ cờ có ba vạch vàng, cốt bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dày 3 micron; kích thước 28mm x 51mm x 41mm x 51mm.

Thân Huân chương hình tròn đường kính bằng 39mm, giữa là hình Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trên đài Hoa sen, phía trên có dòng chữ “Huân chương Hồ Chí Minh”, phía dưới có dòng chữ “Việt Nam” (dập nổi), chất liệu bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dày 3 micron.

Quy định mẫu bằng huân chương Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Điều 28 Nghị định số 50/2006/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ quy định mẫu Huân chương, Huy chương, Huy hiệu, Bằng Huân chương, Bằng Huy chương, Cờ Thi đua, Bằng khen, Giấy khen:

Hình thức: Xung quanh trang trí hoa văn, chính giữa phía trên là Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nội dung: Dòng thứ nhất, dòng thứ hai Quốc hiệu: “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”; dòng thứ ba: “Chủ tịch” (màu đỏ); dòng thứ tư: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (màu đen); dòng thứ năm: “Tặng” (màu đen); dòng thứ sáu: Hình thức khen thưởng (màu đỏ); các dòng tiếp theo ghi tên, địa chỉ, thành tích của đơn vị, cá nhân được khen thưởng. Phía dưới: Bên trái in hai dòng chữ: Số quyết định… ngày… tháng … năm….; số sổ vàng. Bên phải in hai dòng chữ: Hà Nội, ngày …. tháng …. năm …; Chủ tịch và khoảng trống 40mm để ký tên, đóng dấu. Bằng in trên giấy trắng định lượng 150 gram/m2; kích thước dài 455mm, rộng 355mm, đường trang trí hoa văn dài 365mm, rộng 270mm.

Cá nhân nhận huân chương[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức nhận huân chương[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]